— HÌNH ẢNH VIỆT NAM CỌNG HÒA TRONG NGÀY QUỐC HẬN TẠI THỦ ÐÔ HẢI NGOẠI LITTLE SAGON NAM CALIFONIA 2014 * * VIỆT NAM CỌNG HÒA ÐƯỢC VINH DANH KHẮP NƠI TRÊN ÐỊA CẦU * * VINH DANH 58 NGÀN QUÂN NHÂN HOA KỲ ÐÃ CHIẾN ÐẤU VÀ ÐÃ HY SINH CHO TỰ DO TẠI VIỆT NAM * * HÌNH ẢNH DỰNG TƯỢNG ÐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ÐẠO TẠI THỦ ÐÔ HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ * * VINH DANH TỔNG THỐNG ANH MINH VIỆT NAM CỌNG HÒA NGUYỄN VĂN THIỆU * * VIỆT NAM NÊN DẸP ÐỐNG RÁC HỒ CHÍ MINH TRƯỚC MẮT NGƯỜI DÂN * * THỦ TƯỚNG VIỆT NAM CỌNG HÒA ÐẠI TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM THĂM THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NÓI CHUYỆN VỚI QUÂN DÂN CÁN CHÍNH * * NGHĨA TRANG BIÊN HÒA HẢI NGOẠI TỨC NGHĨA TRANG QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠI SAN BERNADINO – THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ ÐANG VẬN ÐỘNG XÂY DỰNG * * VINH DANH THƯƠNG PHẾ BINH VIỆT NAM CỌNG HÒA


IMG_7082

*

 

BPSOS: 5 Tợng Nghị Sỉ, 15 Dân Biểu Mỹ Sẽ Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cọng a Vào 19-6-2015; Sẽ Hội Ngộ Thuyền Nhân & Tỵ Nạn Ngày 20-6-2015

11/02/2015

Share on facebook

WESTMINSTER — Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc hội bất vụ lợi BPSOS, hôm Thứ Hai 9-2-2015 đã tới thăm tòa soạn Việt Báo, cho biết về diễn tiến các sinh hoạt trong chương trình Ngày Vinh Danh & Tri Ân Quân Cán Chính VNCH vào tháng 6-2015. Ông cho biết rằng hiện nay đã có 5 thượng nghị sĩ và 15 dân biểu Hoa Kỳ thuộc hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ đứng tên Đồng Chủ Tịch Danh Dự cho buổi vinh danh và tri ân quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà ở Kennedy Center vào ngày 19 tháng 6 năm nay cũng như cho các sinh hoạt trong các ngày trước và sau đó. “Mục tiêu của chúng tôi là đạt số 100 dân biểu và thượng nghị sĩ ủng hộ,” Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, phát biểu. “Chúng tôi còn 5 tháng để đạt con số này.” Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng tuần này sẽ đi dự một số sự kiện ở cả Nam và Bắc California trong cuộc vận động cho những ngày vừa tròn 40 năm CSVN chiếm trọn Miền Nam. TS Thắng cho biết rằng ngoài chương trình ở Kennedy Center vào chiều Thứ Sáu 19 tháng 6, cũng là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sẽ có ba sinh hoạt liên quan. Ông bày tỏ niềm tin rằng các sinh hoạt tầm vóc quốc gia và quốc tế trong 3 ngày tháng 6 sẽ tạo bước chuyển lịch sử cho cộng đồng và dân tộc. Chương trình ông cho biết dự kiến sơ lược như sau. Vận Động Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam – Thứ Năm 18 tháng 6, 9am – 5pm: Một nghìn nhà tranh đấu đến từ khắp Hoa Kỳ và từ nhiều quốc gia tự do sẽ gặp gỡ 250 Dân Biểu và 60 Thượng Nghị Sĩ tại Quốc Hội Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch Ốc để đòi hỏi sự cải thiện nhân quyền căn bản; đó là điều kiện bất khả nhượng để Việt Nam mở rộng quan hệ mậu dịch và an ninh với Hoa Kỳ và qua đó là thế giới tự do. Năm nay cùng đồng hành với chúng ta sẽ có nhiều tổ chức cựu chiến binh Hoa Kỳ và tổ chức nhân quyền quốc tế. (Theo dõi thông tin cập nhật: http://www.cfdvn.org)

Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng tại tòa soạn Việt Báo hôm Thứ Hai 9-2-2015.

Lý Tưởng Tự Do: Vinh Danh và Tri Ân – Thứ Sáu 19 tháng 6, 8pm – 10:30pm: Tại Kennedy Center toạ lạc giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn, trái tim của đất nước Hoa Kỳ, chúng ta sẽ cảm ơn những bạn bè quốc tế đã tham gia bảo vệ miền Nam tự do hay đã cứu mạng và cưu mang chúng ta trên hành trình đến tự do; chúng ta sẽ vinh danh và tri ân quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã đổ máu xương cho tổ quốc và dân tộc. Kennedy Center, trung tâm văn hoá quốc gia được Quốc Hội Hoa Kỳ thành lập, là nơi vinh danh các tổng thống, các nghệ sĩ lừng danh và các vĩ nhân Hoa Kỳ và thế giới. Không nơi nào trang trọng và uy nghi hơn để vinh danh tự do và những người đã cống hiến cho lý tưởng tự do. Ngày 19 tháng 6 là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. (Thông tin cập nhật: http://www.ourjourneytofreedom.org) Mở Cửa Vào Tương Lai – Thứ Bảy 20 tháng 6, 8am – 5pm: Khoảng 300 – 400 người trẻ thuộc các thế hệ 2 và 3 sẽ đến với nhau tại Hội Nghị Toàn Quốc Lãnh Đạo Mỹ-Việt Lần 2, để ôn lại chặng đường 4 năm từ Hội Nghị Lần 1 năm 2011, và vạch hướng phát triển cộng đồng trong cả 3 lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội cho 4 năm kế tiếp. Hội nghị sẽ đề ra kế hoạch thực tiễn để tạo ảnh hưởng và uy thế cho cộng đồng Việt trong bối cảnh của cuộc tổng tuyển cử năm 2016 ở Hoa Kỳ. Hội Ngộ Thuyền Nhân và Tị Nạn – Thứ Bảy 20 tháng 6, 7pm – 11pm: Các sinh hoạt trong 3 ngày tháng 6 sẽ đóng lại với Dạ Tiệc Di Sản, cơ hội để những cựu thuyền nhân và cựu tị nạn hội ngộ: 40 năm mới có một lần để các người con cùng Mẹ, Mẹ Việt Nam, dập dìu đến với nhau để tay bắt mặt mừng trong ngày đoàn tụ. Ba thế thệ — ông bà, cha mẹ, con cháu — sẽ tụ hội và quây quần để đong đầy nỗi lòng hoài hương, ôn lại 40 năm gian truân và vinh hiển, và cùng nhau tâm nguyện: Sẽ có một ngày đem mùa Xuân tự do về trên quê hương. Ngày 20 tháng 6 hàng năm là Ngày Quốc Tế Tị Nạn. Theo lời TS Nguyễn Đình Thắng, thành phần chính của Ban Tổ Chức: BPSOS, Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ, VietAction.

*

 

DO SỰ SẮP XẾP CỦA CÁC SIÊU CƯỜNG CHO CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM CHẤM DỨT NĂM 1975 VÀ VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠM THỜI VẮNG MẶT 39 NĂM

NAY CÁC SIÊU CƯỜNG SẮP XẾP VIỆT NAM CỌNG HÒA TRỞ LẠI CÓ TIẾNG NÓI MẠNH NHẰM PHỤC HỒI AN NINH HÀNG HẢI BIỂN ÐÔNG VÀ Á CHÂU

 

*

 

Santa Ana thông qua nghị quyết công nhận Ngày Việt Nam Cọng Hòa Wednesday, January 21, 2015 2:16:36 PM

SANTA ANA, California (NV)Trong phiên họp thường lệ lúc 5 giờ 45 chiều Thứ Ba, 20 Tháng Giêng, Hội Đồng Thành Phố Santa Ana chính thức công nhận ngày 26 Tháng Mười hàng năm là Ngày Việt Nam Cộng Hòa, và trao Nghị Quyết 55B cho ông Nguyễn Tấn Lạc, điều hợp viên của ủy ban vận động, với sự tham dự của các đại diện lãnh đạo các tôn giáo và đồng hương trong cộng đồng.

 

IMG_7452

Nghị Quyết 55B vinh danh và ghi ơn những đóng góp và hy sinh của chính phủ và Quân – Dân – Cán – Chính Việt Nam Cộng Hòa, cũng như của các quân nhân Hoa Kỳ, gia đình họ và đồng minh.

Trong hình, ông Nguyễn Tấn Lạc (giữa), nhận nghị quyết từ Phó Thị Trưởng Vincent Sarmiento và Nghị Viên Michele Martinez. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

 

 

 

IMG_7082

VIỆT NAM PHẢI LÀM GÌ QUA TIẾNG NÓI CỦA 50 TRIỆU CỬ TRI VIỆT NAM CỌNG HÒA ?

Việt nam phải có luật trả tiền hàng tháng cho tất cả thương phế binh Việt nam cọng hòa. Những thương binh này có quyền truy lảnh số tiền mà quốc gia Việt nam đã thiếu của họ trong 40 năm qua. Tiếng nói của 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa trong quốc hội sẽ không nhỏ và buộc phải có tại Việt nam. Việt nam không còn là nơi Việt cọng muốn làm gì thì làm, như Nga không được quyền muốn làm gì thì làm ở Ukraine mà phải có trật tự thế giới .
 
Vấn đề tưởng nhớ và vinh danh suông không đủ mà Việt nam phải có luật vể quyền lợi thụ hưởng hàng tháng cho tất cả thương phế binh, cô nhi, qủa phụ, tử sỉ Việt nam cọng hòa . Vì họ là thành phần ưu tú đóng góp lớn lao máu xương cho Việt nam tồn tại đến hôm nay. Quốc hội phải có đủ tiếng nói của ba triệu đảng viên cọng sản và tiếng nói của 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa.
Cuộc chiến tranh Việt nam chấm dứt năm 1975 là do sự thu xếp của các siêu cường chứ không phải cọng sản Việt nam có chính nghĩa. Vì vậy quyền lợi quốc gia phải phân chia rành mạch theo ý dân. Miền nam Việt nam hiện khai thác 24 giếng dàu hỏa và bán ra khoảng 30 tỷ đô la dầu thô hàng năm nên cần phải chia lợi tức này cho những người đã đóng góp xương máu bảo vệ nó.

Sỉ phu Việt nam
Chuyên gia Trần Cư
Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com


IMG_7348

*

 

HOA KỲ VÀ LIÊN HIỆP QUỐC NÊN ÐÓNG VAI TRÒ TÍCH CỰC DÀN XẾP CHÍNH TRỊ LỚN TẠI VIỆT NAM NHƯ ÐÃ TỪNG GIÚP CAMPUCHIA TỔ CHỨC XÃ HỘI SINH HOẠT ÐA ÐẢNG THÀNH CÔNG .

CÓ NHƯ VẬY THÌ VIỆT NAM MỚI ỔN ÐỊNH CHÍNH TRỊ ÐƯỢC VÌ ÐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY RẤT LOẠN LẠC NÁT BÉT XÂU XÉ GIẾT CHÓC NHAU ÐẦU ÐỘC NHAU, CHIA PHE ĂN CƯỚP TÀI SẢN QUỐC GIA VÀ TÀI SẢN DÂN TỘC VIỆT NAM LÊN TỚI NHIỀU CHỤC TỶ ÐÔ LA.

IMG_7149

Chuyên gia Trần Cư

Nguồn :https://siphuvietnam.wordpress.com

 

*

HOA KỲ MUỐN VIỆT NAM THỰC THI CÔNG BẰNG ỔN ÐỊNH THÌ HOA KỲ PHẢI CÓ KẾ SÁCH ỦNG HỘ CÓ TIẾNG NÓI CÔNG KHAI CHÍNH THỨC CỦA 50 TRIỆU CỬ TRI VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠI VIỆT NAM

 

Do thể chế tham ô ba láp tại Việt nam hiện nay không phân biệt đúng sai phải trái của kiếp nhân sinh:

a/ Nếu Hoa Kỳ nghiên cứu rằng suốt chiều dày lịch sử hơn 60 năm của đảng cọng sản Việt nam thì chưa bao giờ có một lối suy tư nhân bản, một nhân sinh quan đứng đắng dẩn dắt xã hội Việt nam hướng về chân thiện mỷ như sự cổ xúy nhân bản của văn chương miền nam Việt nam và của thể chế tự do dân chủ ưu việt của Việt nam cọng hòa.

b/ Nếu Hoa kỳ biết rỏ rằng những gì đang áp dụng tại Việt nam hôm nay chỉ là những giáo điều xảo trá ba xàm ba láp được học lại củ rich từ cọng sản Liên sô và cọng sản Trung quốc để a dua ca ngợi một đảng chính trị cọng sản thối tha lâu năm đã qúa tham ô hôi hám độc tài độc ác một chiều rất nguy hại cho tuổi trẻ Việt nam và cho thế giới.

c/ Nếu Hoa Kỳ biết rằng xã hội Việt nam đang dưới sự cai trị độc tài tham ô khủng khiếp của những tay cọng sản cầm quyền và hiện 85 triệu dân Việt nam đang ta thán cảnh tham tàn cùng cực thì đừng nhìn cái vỏ bên ngoài lớp sơn xã hội phồn vinh gỉa tạo ấy mà hảy nhìn đa số nhân dân xã hội ấy đang sống thế nào.

d/ Nếu Hoa Kỳ thấy rỏ xã hội tột cùng bấn loạn Việt nam hiện nay khi mà một tôn giáo cực lớn như Phật giáo Việt nam thống nhất với 30 triệu giáo dân đang bị đảng cầm quyền láo cá cọng sản Việt nam đã và đang dùng súng uy hiếp và đưa tôn giáo chân chính ấy ra ngoài vòng pháp luật ma cô của cọng sản thì thử hỏi xã hội vô đạo cọng sản Việt nam ấy hiện nguy hiểm biết chừng nào và làm sao mà Hoa Kỳ yên ổn làm ăn tại đó được.

e/ Nếu Hoa Kỳ đừng theo loại sách vở phản chiến không trung thực hiện có trong các thư viện có lợi cho chế độ độc tài tham ô độc ác ba xàm ba láp cọng sản Việt nam thì Hoa Kỳ có cái nhìn rất chuẩn về nét cao thượng của khối thầm lặng 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa từng bị bỏ quên quyền lợi chính đáng của họ trong suốt hơn 39 năm qua với quyền con người của họ bị mất trắng và tài sản của họ bị tước đoạt bởi những tay đồ tể cọng sản lảnh đạo kiểu ăn cướp tại Việt nam vẫn kéo dài cho tới hôm nay.

f/ Nếu Hoa Kỳ nhìn những người đói rách đang lang thang ngoài đường tại Việt nam hiện nay là hình ảnh 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa đang bị chế độ côn đồ cọng sản Việt nam đẩy họ xuống tận đường cùng của xã hội không có một chút nương tay thì Hoa Kỳ sẽ rất chua xót khi giao vủ khí sát thương cho những tay đồ tể của chế độ tàn bạo cọng sản Việt nam hiện tại

g/ Nếu Hoa Kỳ với những người làm chánh sách ngoại giao chuyên sâu biết rỏ rằng hiến pháp cọng sản Việt nam đã sửa đổi năm 2013 và đang thi hành hiện nay chỉ là một lọai văn bản nguy hiểm độc hại phản dân chủ chống lại quyền căn bản của con người của thứ đảng quyền độc tài đốn mạt tham ô phản động trong thời đại hôm nay.

Với điều 4 của hiến pháp ấy tuyên bố rằng chỉ có duy nhất một đảng cọng sản việt nam mới là giai cấp tiên phong đại diện công nhân và nông dân vỉnh viển lảnh đạo xã hội Việt nam. Tức bọn chúng là nhóm quốc hội bát nháo ba láp gồm 500 đảng viên cọng sản tự phịa ra văn bản hiến pháp ấy và tự phong cho bọn chúng là vua như thời phong kiến khủng khiếp.

h/ Nếu Hoa Kỳ nhận biết rằng tất cả các nhà cầm quyền cọng sản Việt nam, nhà cầm quyền cọng sản Trung quốc, nhà cầm quyền cọng sản Bắc hàn và nhà cầm quyền cọng sản Cu ba đều có hiến pháp ngu xuẩn láo cá phản động giống nhau là đều có điều khoản chống lại quyền chính trị căn bản của con người về tự do ứng cử bầu cử đa đảng. Hiến pháp bọn chúng nêu rằng chỉ có đảng cọng sản là giai cấp tiên phong mới có quyền ứng cử để lảnh đạo đất nước.

Riêng về trường hợp dân tình Việt nam thì có khác biệt với các nước cọng sản khác hiện nay là vì Việt nam có khối 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa đã từng được sống và hít thở không khí sinh hoạt chính trị tự do đa đảng của chính quyền Việt nam cọng hòa ở miền nam Việt nam trong mấy thập niên trước 1975. Do đó khối cử tri này nhất là các bloggers này không sao chịu nổi cảnh độc tài độc đảng cọng sản cầm quyền hôi hám tham ô xuẩn động bát nháo hiện nay.

Chính khối 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa và bloggers đang dần dà từng ngày đứng dậy phản kháng răng dạy thay đổi thể chế u mê đường đột cọng sản Việt nam. Ðây là đặc tính mà tình hình các nước cọng sản khác không có.

Các đảng viên cọng sản ở miền nam Việt nam hiện nay cũng vậy,  họ so sánh giữa hai chế độ cọng sản tham ô đần độn hiện nay và chế độ Việt nam cọng hòa dân chủ đa đảng cởi mở trước đây nên họ đã liên lạc nhau đứng lên tìm cách ký tên chung lên án nhà cầm quyền cọng sản hiện tại mưu mô độc tài tham ô bán nước và chính những người đảng viên cọng sản cấp tiến này đang là thành phần tiên phong nòng cốt lên án giặc Trung quốc xâm lược biển đảo dầu hỏa của Việt nam hiện nay.

i/ Nếu những nhà làm chính sách ngoại giao Hoa Kỳ biết rỏ rằng chỉ có cách đưa tình hình chính trị Việt nam giống như tình hình chính trị Campuchia, tức là theo thể thức công khai bầu cử quốc hội đa đảng thi  Hoa Kỳ và các nước EU bằng mọi cách triệt để giúp khôi phục lại tiếng nói của 50 triệu cử tri của Việt nam cọng hòa của miền nam Việt nam.

Khi có tiếng nói chính thức Việt nam cọng hòa trong quốc hôi mới đa đảng tại Việt nam thì mới cân bằng được quyền lực xã hội tại Việt nam và chấm dứt đựơc tình hình ma quái tham ô lộng hành khủng khiếp, loạn ông loạn thằng của một đảng bát nháo tác oai tác quái hiện nay đang gây bao khổ đau cho 85 triệu dân Việt và khó khăn làm ăn sòng phẳng văn minh công khai minh bạch cho thế giới.

HOA KỲ KHÔNG THỂ ÐỔI CHÁC GÌ THÍ DỤ QUA TRÒ HỀ BẮT THẢ VÀ THẢ BẮT BLOGGERS CỦA CỌNG SẢN VIỆT NAM ÐỂ BUỘC ÐỘC TÀI CỌNG SẢN VIỆT NAM TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN VÀ ỔN ÐỊNH BIỂN ÐÔNG

Qua vụ Occupy central tuyệt vời của tuổi trẻ Hông Kông cho thấy cọng sản Tập Cận Bình đã áp dụng phương sách trơ mặt mo có nghĩa là không dám dùng bạo lực mạnh chống lại ý nguyện tốt đẹp của sinh viên với cuộc biểu tình ôn hòa chưa từng có này và Tập cận Bình cũng không chịu đối thoại tìm ra đúng sai giải quyết yêu cầu chính đáng về quyền chính trị cao đẹp của con người.

Tập cận Bình cứ trơ mặt mo và đuối lý xấu hổ trước việc sinh viên đòi hỏi là phải có tự do ứng cử dù dưới bất cứ đảng chính trị nào và cứ để cho người dân Hông Kông có quyền thoải mái tự do chọn lựa lảnh đạo của họ. Ðứng về mặt thể diện con người thì Tập cận Bình đã thua to chứ không phải sinh viên Hồng Kông thua.

Trở lại tình hình Việt nam nếu Hoa Kỳ không có tiếng nói mạnh, hổ trợ mạnh tính hợp pháp về việc 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa phải có tiếng nói chính thức tại diễn đàn chính trị quốc hội Việt nam thì chế độ bát nháo láo cá độc đảng khôn không ra khôn ngu không ra ngu cọng sản Việt nam hiện nay lại bắt chước Tập cận Bình cứ ù lì trơ măt mo làm trò hề con nít bắt thả thả bắt các bloggers loạn xà ngầu không ra làm sao cả. Nếu không giải quyết thì Hoa Kỳ để tình hình bệ rạc này kéo dài lập đi lập lại cho tới bao giờ.

NẾU TIẾNG NÓI CỦA NHÀ CẦM QUYỀN CỌNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG CÓ SỰ CẠNH TRANH BỞI TIẾNG NÓI CỦA 50 TRIỆU CỬ TRI VIỆT NAM CỌNG HÒA DO HOA KỲ CÔNG KHAI ỦNG HỘ RA MẶT TẠI VIỆT NAM NHẰM ÐI ÐẾN MỘT THỂ CHẾ DÂN CHỦ ÐA ÐẢNG THỰC SỰ CHO NHÂN DÂN VIỆT NAM THÌ HOA KỲ KHÓ LÒNG LÀM ĂN ỔN ÐỊNH LÂU DÀI TẠI VIỆT NAM

Cọng sản Việt nam vì sợ mất độc quyền mà phải đương đầu với sự cạnh tranh chính trị với tập thể chính trị Việt nam cọng hòa nên buộc lòng nhà cầm quyền cọng sản Việt nam phải thi đua làm tốt công việc cho dân để được dân bầu.

Một thể chế dân chủ bầu cử đa đảng bùng phát và nhà cầm quyền đảng cọng sản Việt nam sẽ không dám tham ô và tự do làm bậy như hiện nay.

Nếu chính sách ngoại giao cuả Hoa Kỳ mà chỉ lo vuốt ve nuông chiều đám độc tài bát nháo cọng sản Việt nam là một việc làm đáng trách và không có lợi gì cho dân tộc Việt nam hay cho nhân dân hoa Kỳ và thế giới.

Hiện có non hai triệu cử tri người Mỷ gốc Việt đang theo dỏi xem xét mức độ thành công hay không của chính sách ngoại giao của Hoa kỳ tại Việt nam có đủ mạnh và đảm lược hay không.

HOA KỲ HẢY CHỨNG MINH CHO THẾ GIỚI THẤY LÀ KHÔNG BAO GIỜ TỪ BỎ LÝ TƯỞNG PHỤC VỤ NHÂN SINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TỪ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ CHO TỚI NGÀY HÔM NAY KHI HOA KỲ VẪN TIẾP TỤC ỦNG HỘ LÝ TƯỞNG TỰ DO DÂN CHỦ CAO QÚY CỦA 50 TRIỆU CỬ TRI VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠI VIỆT NAM

Các cuộc chiến tranh tại Việt nam, tại Iraq, tại Afghanistan thì Hoa Kỳ đứng về lẻ phải về công bằng về phe dân chủ tự do đa đảng, về phe bảo vệ quyền sống con người mà chiến đấu để bảo vệ cho chính Hoa Kỳ và bảo vệ cho toàn nhân loại. Hoa kỳ hơn 200 năm lập quốc đã chứng minh rằng những đời Tổng thống Hoa Kỳ đi qua trong lịch sử là những bộ óc siêu việt đã kinh bang tế thế mang lại ấm no hạnh phúc tự do công bằng nhân ái cho nhân dân Hoa Kỳ và cho toàn thể thế giới trong mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử.

Tại Việt nam cuộc chiến dù đã 40 năm trôi qua nhưng cảm tình trìu mến tốt đẹp vẫn dành cho sự hy sinh cao qúy của 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã ngã xuống để ngăn chận làn sóng đỏ u mê độc tài man rợ cọng sản luôn hảm hại quyền sống tự do của con người là Liên xô và Trung quốc.

Sự hy sinh cao qúy của 58,000 quân nhân Hoa Kỳ và nhiều trăm ngàn quân nhân Việt nam cọng hòa trong chiến tranh Việt nam là sự hy sinh không những cho an sinh của một phần đất tuyến đầu sóng của thế giới là Việt nam cọng hòa, mà sự hy sinh ấy cũng cho cả sự an sinh của nhân dân Hoa Kỳ được an toàn sống tự do.

Ngày nay nhân dân Hoa Kỳ không cho phép bỏ quên ngưòi bạn đồng minh thắm thiết Việt nam cọng hòa đã ngả xuống vì bất cứ lý do gì của lịch sử, không muốn thấy 50 triệu cử tri của Việt nam cọng hòa mải lêu bêu trên các đường phố hẻm hóc tại Việt nam đi ăn xin trước họng súng công an trị tàn mạt cọng sản.

Nhân dân Hoa Kỳ không muốn thấy 50 triệu cử tri Việt nam cọng hòa phải bị câm miệng qúa lâu một cách vô lý tại diển đàn một quốc hội cho ra quốc hội tại Việt nam.

*

IMG_7082

*

IMG_7397

NHỮNG SĨ QUAN MỸ GỐC VIỆT..CON CHÁU VIET NAM CONG HOA  NAY SẮP ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ DẠY DỖ CÁN NGỐ VỊET CỘNG CHỐNG TÀU KHỰA

Một nhận vật cao cấp làm việc tại White House tiết lộ… vào cuối năm 2014, chính phủ Mỹ sẽ giải tỏa lệnh cấm bán vũ khí cho Viet Nam. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ vừa bán vừa cho (viện trợ) những vũ khí cần thiết để Viet Nam có thế ngăn cản sự bành trướng của Trung Cộng.

Gần đây, người Việt hải ngoại nhận thấy những phái đoàn quân sự củaViet Nam sang du học Mỹ tại San Diego (California), Houston (Texas) hay Annapolis (Maryland)… thì Pentagon lại để những sĩ quan, hướng dẫn viên, là những sĩ quan Mỹ….gốc Việt.

Ai chẳng biết những người Việt tỵ nạn 1975 và sau là những hậu duệ của Viet Nam Cong Hoa đã tham dự trong chính quyền Mỹ, có người làm hạm trưởng chiến hạm của hải quân Mỹ, có người làm tướng đánh trận… Nhưng để làm hướng dẫn viên cho du học sinh của Quân Đội Nhân Dân, kẻ đã từng đánh Mỹ, diệt Ngụy …cứu nước. Nay vì…cứu nước phải lặn lội qua Mỹ học cách bảo vệ đất nước qua con cháu của Viet Nam Cong Hoa.

Chắc chắn các vị sĩ quan Mỹ gốc Việt sẽ nói tiếng Mỹ với các du học sinh Quan Đoi Nhan Dan. Chẳng biết trình độ tiếng Mỹ của các du học sinh tới đâu, nhưng phải nhập gia tùy tục. Cái đau là trong lúc giao dịch, phe ta chắc sẽ nhủ thầm: không biết cô/cậu này có biết tiếng Việt không?? Rõ ràng họ Trần, Nguyễn … là Viet Nam rành rồi.
Nhưng nó không nói chữ Việt nào, mà tiếng Mỹ nó nói như Mỹ. Lỡ nó đẻ ở Mỹ, cha mẹ nó không dạy tiếng Việt thì sao? Mà nếu nó biết tiếng Việt thì đâu có nói sau lưng nó được, lỡ nó là tai mắt của CIA thì sao? Còn mấy xếp Mỹ, nhiều thằng cũng biết tiếng Việt … còn hơn người Viet Nam nữa, cứ xem Thúy Nga Paris thì biết.

Vậy thì sau này khi cố vấn quân sự Mỹ sang Viet Nam thì cái đám Mỹ gốc Việt này cũng theo về. Nhìn thì cứ tưởng “Viet Nam Cong Hoa” sống lại, mặc quân phục Mỹ, sai bảo, dạy dỗ con cháu của những kẻ từng Thắng Mỹ, diệt Ngụy năm xưa..

Đau thật ! QUẢ BÁO NHÃN TIỀN !
Làm sao mà mua chuộc được tụi này? Biết đâu trong đầu chúng nó còn ôm mối hận 1975 thì chết mẹ. Nhưng tụi nó đâu có độc quyền hành động được. Viên chức Mỹ vẫn là chỉ huy mà…
Nhưng làm sao duy trì “độc lập, tự do” như lời Bác dạy? Vậy cái “độc lập, tự do” của Mỹ là thế nào? Là nhận “boat people”, Viet Nam Cong Hoa nuôi dưỡng để hôm nay xài … Tư tưởng của Bác có chỉ đạo vụ này không?

Mà không theo Mỹ thì làm sao thoát Trung cộng được? Mà làm gì tụi này (Mỹ gốc Việt) chẳng xúi vào. Mỹ dĩ nhiên tin đám này hơn vì chúng nó dù sao cũng sinh ra ở Mỹ, quốc tịch Mỹ. Mẹ..! Nó là Viet Nam rành…mà làm việc cho Mỹ. Thật đau cho đảng ta, đánh đĩ thập phương nhưng nào ngờ ngày nay phải đánh đĩ với cả đám con cháu của Viet Nam Cong Hoa.

Có khác nào hồn ma Viet Nam Cong Hoa sống lại, tàng hình vào quân đội Mỹ, nắm đầu Quân Đội Nhân Dân mà…sai bảo. Vậy thì ai thắng ai???.
Trời xanh nào có thấu cho nỗi lòng Đảng ta.
Nói được ngôn ngữ không hẳn là đã khuất phục, thu phục được con người. Thu phục nhân tâm thì chỉ có tình người. Cộng sản thì làm gì có tình người.

Ngày nay, Trung Cộng bắt toàn dân phải nói một thứ tiếng Quan Thoại (Mandarin) nhưng 400 triệu dân Tàu không xài thứ tiếng này (Tây Tạng, Mông Cổ, Tân Cương vẫn giữ ngôn ngữ địa phương). Và như vậy tiềm năng tách ra khỏi Trung Cộng vẫn còn. Cũng như Hongkong tuy thuộc Trung Cong nhưng vẫn đòi dân chủ, tự trị.

Còn Viet Nam tuy con số người Việt ra ngoại quốc ngày càng nhiều (do công việc, lao động, du học..), khối người Việt hải ngoại vẫn không phải là Viet Nam Cong San, vẫn không nghe lời nhà nước … mà vẫn nói tiếng Việt lại còn âm mưu len lỏi vào chính quyền Mỹ để…giáo dục đảng ta.

Coi bộ Trung Cộng khó mà dạy dỗ 400 triệu dân Tàu nói tiếng Cộng Sản thì làm sao ăn nói với Đài Loan, Hongkong, các Chinatown trên khắp thế giới. Vậy thì đàn em Cong San Viet Nam  làm sao sửa sai đám Cong Đong Viet Nam hải ngoại đây?
TCL

IMG_3851

SỨC MẠNH CỦA VIỆT NAM CỌNG HÒA

  • LÀ SỨC MẠNH GHÊ GỚM
  • LÀ SỨC MẠNH VÔ ÐỊCH
  • LÀ SỨC MẠNH CỦA LÒNG NGƯỜI

THẬT VẬY KHI DU KHÁCH CÓ DỊP GHÉ QUA THỦ PHỦ LITTLE SAIGON, THỦ ÐÔ CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI TẠI MIỀN NAM CALIFORNIA HOA KỲ, DU KHÁCH SẼ THẤY NƠI ÐÂU CŨNG CÓ NHỮNG DẤU TÍCH TRÂN QÚY VIỆT NAM CỌNG HÒA .

TỪ NHỮNG LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ÐỎ XINH TƯƠI BAY TRONG GÍO CHIỀU THƠ MỘNG HOẶC ÐƯỢC TRƯNG BÀY TRỊNH TRỌNG TRÊN SÂN KHẤU TRONG CÁC LỂ HỘI HAY ÐỨNG SỪNG SỬNG Ở CỔNG CAO NHƯ VUI MỪNG CHÀO ÐÓN KHÁCH.

DU KHÁCH SẼ THẤY XÚC ÐỘNG NHẤT LÀ KHI LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ÐỎ ẤY ÐƯỢC PHỦ LÊN NHỮNG THÂN XÁC NHỮNG ANH HÙNG TRƯỚC LÚC VỀ CỎI VỈNH HẰNG BỞI CUỘC ÐỜI HỌ ÐÃ TỪNG CỐNG HIẾN GIỮ GÌN LẺ PHẢI GIỮ GÌN TỰ DO CHO CỘNG ÐỒNG CHO NHÂN LOẠI.

KHÔNG PHẢI NGẨU NHIÊN BẮT GẶP MÀ DU KHÁCH SẼ THẤY HOÀN TOÀN NHƯ VẬY, DU KHÁCH SẼ THẤY MỌI NƠI MỌI LÚC VỚI MỘT SỰ TRÂN QÚY LÁ CỜ THIÊNG VIỆT NAM CỌNG HÒA MỘT CÁCH TỰ NGUYỆN ÐẾN NỔI NGẬM NGÙI.

ÐÃ QUA BIẾT BAO CUỘC BIỂU TÌNH RƯỢT ÐUỔI CÁN BỘ CỌNG SẢN BÉN MẢNG ÐẾN ÐÂY QUẬY KHOE CỜ MÁU VÀ RỐT CUỘC LÀ CỌNG SẢN PHẢI THẤT BẠI Ê CHỀ VÀ PHẢI CHUN CỬA HẬU THÓAT THÂN.  NGÀY NAY CỌNG SẢN ÐỘC TÀI HÀ NỘI  RẤT SỢ ÐỒNG BÀO VIỆT NAM TỴ NẠN CỌNG SẢN LÀ NHƯ VẬY.  NGAY CẢ GIỚI CHỨC CỌNG SẢN VIỆT NAM KHI ÐẾN ÐÂY THAM QUAN ÐỀU PHẢI DẤU MẶT, CHUI RÚC ÐÂU ÐÓ VÀ KHÔNG BAO GIỜ DÁM XƯNG DANH TÁNH LÀ CÁN BỘ CỌNG SẢN HÀ NỘI.

CÒN VỀ PHẦN LÁ CỜ MÁU CỦA CỌNG SẢN HÀ NỘI LÀ CỜ ÐỎ SAO VÀNG THÌ ÐÂY LÀ CỜ ÐẠI DIỆN CHO BẤT CÔNG CHO ÐỘC TÀI ÁP BỨC NÊN RẤT XẤU HỔ TỘI NGHIỆP VÀ LÁ CỜ NÀY HIỆN CHỈ RÓN RÉN NẰM Ở TÒA LẢNH SỰ VIỆT NAM Ở SAN FRANCISCO BẮC CALIFORNIA CHỨ KHÔNG DÁM MANG ÐÂU XA RA NGOÀI.

 

*

 IMG_5701

*

ÐÀI TƯỞNG NIM CHIN S VIT NAM CNG HÒA VÀ HOA KỲ LÀ MT BIU TƯỢNG VINH DANH T DO CAO QÚY NHT CA NHÂN LOI CHÚNG TA HÔM NAY KHI MÀ LÀN SÓNG Ð ÐC TÀI CNG SN TRUNG QUC VN GI TRÒ HUNG HN ÐÔNG NAM Á CHÂU

IMG_5575

IMG_5660

IMG_5753

XƯƠNG MÁU CA HÀNG TRIU CHIN S ANH HÙNG VIT NAM CNG HÒA CÓ CÔNG NGĂN CHN ÐC TÀI TRUNG QUC LIÊN XÔ KHÔNG D B LNG QUÊN.

ÐI VI SIÊU CƯỜNG HOA K THÌ XƯƠNG MÁU CA 58,000 CHIN S ANH HÙNG HOA K TRONG CHIN TRANH VIT NAM CÓ CÔNG NGĂN CHN LOÀI QY ÐÐC TÀI TRUNG QUC LIÊN XÔ LÀ RT QUAN TRNG VÀ KHÔNG BAO GI B LNG PHÍ.

LCH S CHNG MINH RNG DÙ 40 NĂM SAU CHIN TRANH VIT NAM THÌ HOA K CŨNG CN THIT LP HIP ƯỚC LIÊN PHÒNG NHM TÁI CÂN BNG TH CHIN LƯỢC Á CHÂU BO ÐM VÒNG ÐAI AN NINH CHO CHÍNH HOA KỲ VÀ TH GII.

VÒNG ÐAI AN NINH QUC T QUAN TRNG NÀY LÀ GNG KM CHN ÐNG NHANH NGY QUYN HUNG HN CNG SN ÐC TÀI TRUNG QUC MI NGÀY MI LP LIM MUN CƯỚP BÓC GÂY LON TRÊN CON ÐƯỜNG HÀNG KHÔNG VÀ HÀNG HI ÐÔNG NAM Á CHÂU HUYT MCH CA HOA K VÀ TH GII

BÀI HC V S HY SINH TO LN CA VIT NAM CNG HÒA ÐÃ NGĂN CHN LÀN SÓNG Ð TRUNG QUC TI VÙNG ÐÔNG NAM Á CHÂU Ð GIÚP VÙNG NÀY ÐƯỢC SNG YÊN N TRONG MT KHONG THI GIAN DÀI MY THP NIÊN TRƯỚC 1975 LÀ MT BÀI HC ÐC GÍA MÀ TH GII HÔM NAY CN SUY GM

NGÀY NAY KHÔNG CÓ VIT NAM CNG HÒA THÌ TH GII CHNG KIN NGY QUYN BÁT NHÁO TRUNG QUC LNG HÀNH TRÀN XUNG PHÍA NAM Á CHÂU CƯỚP BÓC QUY PHÁ NHƯ CH KHÔNG NGƯỜI.

NÊN NH RNG TRƯỚC 1975 VIT NAM CNG HÒA HÙNG MNH KHÔNG THUA GÌ ÐI HÀN NHƯNG VÌ VIT NAM CNG HÒA MT LÚC PHI ÐÁNH NHAU VI HAI CƯỜNG QUC CNG SN VA BÁT NHÁO VA HUNG HN LÀ LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUC

VAI TRÒ CAO THƯỢNG CA VIT NAM CNG HÒA ÐÃÐƯỢC LCH S CHNG MINH KHI CHÍNH LÊ DUN SAU 1975 ÐÃ TUYÊN B CÔNG KHAI RNG ” TA ÐÁNH TRONG CUC CHIN TRANH VIT NAM LÀÐÁNH GIÚP (ÐÁNH THUÊ) CHO LIÊN SÔ VÀ TRUNG CNG “. LÊ DUN LÀ TNG BÍ THƯÐNG CNG SN BC VIT NAM VÀ LÀ NGƯỜI THAY TH H CHÍ MINH SAU KHI ÔNG H QUA ÐI VÀO NĂM 1969.

THT VY VIT NAM CNG HÒA ÐÁNG TRÂN QÚY LÀ MT CHÐ TUYT VI MU MC ÐÔNG NAM Á CHÂU VÀ TRÊN TRƯỜNG QUC T TÍNH ÐN HÔM NAY.

LCH S VIT NAM CNG HÒA ÐÃ CHNG MINH RNG NĂM 1975 SAU KHI HT ÐN Ð CHIN ÐU CHNG QUÂN THÙ THÌ 5 V TƯỚNG LNH CAO CP CA VIT NAM CNG HÒA ÐÃ T QUYÊN SINH KT LIU ÐI MÌNH NGAY LÚC THÐÔ SAIGON THÂN YÊU CA H THT TH.

CÁC V ” TƯỚNG NHƯ VY MI GI LÀ TƯỚNG ” ÐÃ HY SINH GING NHƯ GƯƠNG HY SINH CA HAI BÀ TRƯNG MY NGÀN NĂM V TRƯỚC PHI TRM MÌNH NHY XUNG SÔNG HT GIANG T T LÚC QUÂN YU TH CÔ KHÔNG GIÐƯỢC THÀNH.

HÀNH ÐNG TUN TIT CA 5 V TƯỚNG LNH CAO CP CA VIT NAM CNG HÒA ÐÃ LÀM RNG DANH GIÒNG GING VIT ÐÃ GÂY XÚC ÐNG KHP NƠI. CÁC V RA ÐI ÐÃÐ LI CHO ÐI NIM THƯƠNG TIC KHÔN NGUÔI CA HÀNG TRIU CON TIM KHP HOÀN V

*

Sỉ phu Việt Nam

IMG_6165

Chuyên gia Trần Cư

https://siphuvietnam.wordpress.com

*

IMG_5661

*

NGƯỜI ÐỜI GHI NHỚ CÔNG ƠN CỦA 5  DANH TƯỚNG VIỆT NAM CỌNG HÒA DƯỚI ÐÂY ÐÃ ANH DỦNG TUẨN TIẾT HY SINH TỰ KẾT LIỂU ÐỜI MÌNH VÀO NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 

KHI CUỐC CHIEN DAU CHO ” QUYEN CON NGUOI ” CHÔNG LAI LÀN SÓNG ÐỘC TAI CONG SAN  DANG CON DANG DO NHUNG VÌ TÌNH THẾ HẾT DẠN GIƯA CHỪNG

VÀ THỦ ÐÔ TỰ DO SAIGON TẠM THỜI BỊ THẤT THỦ VỀ TAY ÐỘC TÀI BÁT NHÁO CỌNG SẢN

 

*

 

 IMG_5905

1. Danh Tướng Trần Văn Hai

 

IMG_5875

 2. Danh Tướng Nguyễn Khoa Nam  

IMG_5898

3. Danh Tướng Phạm Văn Phú

 

 IMG_5895

4. Danh Tướng Lê Văn Hưng

 

 IMG_5910

5. Danh Tướng Lê Nguyên Vỷ

*

NGÀY NAY CUỘC CHIẾN ÐẤU CHO QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM VẪN CHƯA TÀN VÀ NGƯỜI ÐỜI SAU 39 NĂM VẪN  ÐANG TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN ÐẤU ẤY.

CUỘC CHIẾN ÐẤU ÐANG DIỄN RA DƯỚI DẠNG THỨC  KHÁC KHÔNG CẦN DÙNG TỚI VỎ LỰC MÀ CHẾ ÐỘ ÐỘC TÀI CỌNG SẢN VIỆT NAM ÐANG TAN TÁT TỪNG NGÀY

CHƯA AI BIẾT CHẾ ÐỘ ÐỘC TÀI NÀY CÒN KÉO DÀI BAO NHIEU CON TRĂNG NỮA LÀ CHẤM XUỐNG HÀNG ÐỂ NHƯỜNG CHỔ CHO ” TỰ DO ÐA ÐẢNG HOA THƠM QUYỀN CON NGUỜI ” ÐUA NỞ.

*

IMG_7082

*

 

Lần Đầu Tiên Giải-Pháp Việt Nam Cọng a Cho Tranh Chấp Biển Đông Được Trình Bày Tại Thượng Viện Canada

10/12/2014

Tác giả :Tâm Việt

  • Hôm thứ Sáu vừa qua, 5 tháng 12, 2014, tại Thượng-viện Quốc-hội Canada đã diễn ra một “Bàn tròn về Tranh chấp Biển đảo ở Biển Đông/Nam-hải và bản Hiệp-định cuối cùng về Hòa-bình ở Việt-nam vào năm 1973” (“The Roundtable on the South-China Sea Territorial Dispute and the Final 1973 Peace Accord on Vietnam” trong tiếng Anh và “La table ronde sur le conflit territorial en mer de Chine méridionale et laccord de paix final de 1973 sur the Vietnam” trong tiếng Pháp). Sở dĩ sinh-hoạt này có tên trong hai thứ tiếng Anh-Pháp là vì mọi tài-liệu chính-thức của Quốc-hội Canada đều phải được dịch sang hai thứ tiếng chính-thức của nước này.
  • Đây là một bàn tròn do Thượng-nghị-sĩ Ngô Thanh Hải (TNS Canada gốc Việt) tổ-chức với sự hiện diện và tiếp tay của TNS Lang, Chủ-tịch Ủy-ban thường-trực về Quốc-phòng và An-ninh của Thượng-viện Canada, TNS Andreychuk, Chủ-tịch Ủy-ban thường-trực về Ngoại-giao và Thương mại Quốc-tế, cũng như ông David W. Kilgour, nguyên là Phó-Chủ-tịch Hạ-viện Canada và Bộ-trưởng Ngoại-giao đặc-trách Á-châu/Thái-bình-dương. Trong thời-gian xảy ra cuộc bàn tròn, người ta còn thấy có sự thăm viếng của mấy Thượng-nghị-sĩ khác nữa như TNS Deepak Obhrai, Bộ-trưởng Quốc-hội về Ngoại-giao và Nhân-quyền cũng như TNS Tim Uppal, Quốc-vụ-khanh về các vấn-đề Đa-văn-hóa.
  • Về phía Việt-nam tham-dự bàn tròn thì từ Mỹ có phái-đoàn dẫn đầu bởi G.S. Nguyễn Ngọc Bích, Chủ-tịch Ban Điều hợp Trung-ương của Nghị-hội (Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ) đồng-thời là chủ-tịch Ủy-ban Lâm-thời VNCH. Trong phái-đoàn đến từ Hoa-kỳ còn có cựu-Dân-biểu Bùi Văn Nhân (tức ký-giả Vi Anh) đến từ Quận Cam, B.S. Nguyễn Thể Bình đến từ Washington, ông Hồ Văn Sinh, phó-CT Ủy-ban Lâm-thời VNCH cũng đến từ Cali, riêng cựu-Dân-biểu Lý Hiền Tài thì vào phút chót đã không sang được vì trục trặc giấy tờ.
  • Đến để ủng-hộ và yểm-trợ cho Ủy-ban có tới ba phái-đoàn lớn tới từ Montréal, Ottawa và Toronto, gồm hầu hết là những bộ mặt quen thuộc trong giới đấu tranh trong những năm qua ở xứ “đất lạnh tình nồng.” Tỷ-dụ, đến từ Montréal là có cả ông chủ-tịch Cộng-đồng và hai luật-sư của Cộng-đồng.
  • Phái-đoàn Toronto thì do ông Trần Quang Thọ hướng-dẫn và được đón tiếp ân-cần bởi Tiến-sĩ Lê Duy Cấn, nguyên phó-Chủ-tịch Liên-hội Người Việt Canada, và ông Trịnh Vũ Điệp, một thành-viên lâu đời của Liên-hội và cũng nguyên là một ủy-viên trong Tổng-Liên-Hội Người Việt Tự Do (1991-1993).
  • Riêng TS. Lê Duy Cấn, tuy mới phục-hồi từ một biến-cố mạch máu não hiểm nghèo, cũng vẫn khoản đãi toàn-thể các phái-đoàn từ Hoa-kỳ và các tỉnh-bang Canada về vào tối thứ Năm, 4 tháng 12, ở tiệm Vietnam Palace. Được biết, ông còn là người chủ chốt đang thúc đẩy Dự-án Bảo-tàng-viện Thuyền-nhân ở Canada từ nhiều năm nay.
  • Ngay tại Ottawa thì phái-đoàn khá hùng hậu với sự tham-gia đông đảo của các vị phụ nữ. Tổng-cộng số người VN có mặt hôm đó cũng phải đến trên 50 người. Phần trình bầy vấn-đề Vì hôm 21/10 đã có một vụ khủng-bố Hồi-giáo xâm-nhập tòa nhà Quốc-hội bắn chết mấy người nên việc kiểm-soát an-ninh để vào đã trở nên rất gắt gao. Mặc dầu vậy, các phụ-tá của TNS Ngô Thanh Hải, đặc-biệt là cô Tanya Wood và một luật-sư trẻ 22 tuổi, cô Julie Phạm, học ở trường đại-học Carleton ra, đã tỏ ra rất niềm nở đón tiếp mọi người và hướng dẫn vào phòng họp rộng rãi, trang trọng và thật đẹp.
  • Bắt đầu từ 9 giờ sáng, đồng-bào ta đã lục-tục tới. Sau khi được mời dùng cà-phê cho ấm lòng là những lời chào hỏi nhau vì không phải là tất cả mọi người đều đã biết nhau. Mọi người vui vẻ được thấy tấm lòng của nhiều vị mà sau gần 40 năm vẫn kiên trì với cuộc đấu tranh. Gặp cô Phương Thu, cựu-hiệu-trưởng trường trung-học Bùi Thị Xuân Đà-lạt, Giáo-sư Bích đã reo lên: “Trời, trên 50 năm rồi mới được gặp lại Bạn!” Và bao lời hỏi han thân-tình để gợi lại kỷ-niệm từ những ngày còn làm sinh-viên du-học ở Mỹ nửa thế-kỷ trước. Là một nhà giáo và là con của cụ Trần Văn Khắc, một huynh-trưởng lão thành của Hướng đạo VN, cô Phương Thu từ khi đến Canada vẫn một lòng phục-vụ ngành giáo-dục và xây dựng cả một trường Việt-ngữ để giữ tiếng Việt cho các con em của đồng-bào trong vùng.
  • Đến đúng 11 giờ, phụ-tá của TNS Ngô Thanh Hải, ông Vincent Labrosse mời mọi người vào chỗ để có thể bắt đầu bàn tròn. TNS Ngô Thanh Hải đọc diễn-văn khai mạc. Ông cám ơn cử-tọa đã đến từ xa xôi, nhất là phái-đoàn Hoa-kỳ, đến để bàn về “những căng thẳng ngày càng lên cao [ở Biển Đông/Nam-hải]… có thể bùng lên bất cứ lúc nào thành một cuộc chiến khu-vực lôi kéo những cường-quốc bên ngoài vào.” Vì nhiệm-vụ của Ủy-ban Thường-trực về An-ninh Quốc-gia và Quốc-phòng ở Thượng-viện là phải nghiên cứu và báo-cáo về các vấn-đề an-ninh quốc-phòng ở trong vùng Ấn-độ, Á-châu Thái-bình-dương cũng như tiềm-lực ảnh-hưởng của những vấn-đề đó đến an-ninh quốc-phòng của Canada nên ông rất mong “phát huy vai trò ngày càng lớn của Canada đối với vùng ấy và khuyến khích việc tìm ra một giải-pháp hòa-bình và hợp pháp cho cuộc tranh chấp trên biển đang diễn ra ở Biển Đông/Nam-hải.”
  • Đi kèm theo bài diễn-văn khai mạc của ông là một trang rưỡi những câu hỏi mà Ủy-ban của ông mong được nghe một phần những câu trả lời trong bàn tròn ngày hôm nay. Sau đó, TNS Ngô Thanh Hải đã lần lượt mời TNS Lang phát biểu về tầm quan-trọng của bàn tròn. Ông Lang cho rằng chủ-nhân của Canada là người dân Canada, và những TNS như ông có thì cũng chỉ là để phục-vụ người dân Canada—trong đó có người Canada gốc Việt. Do đó nên ông rất mong được nghe những sự góp ý của chúng ta.
  • Đến lượt bà TNS Andreychuk, bà cho biết bà không thể ở được nguyên ngày nhưng bà cũng rất mong được nghe phần trình bầy chính để có thể hướng-dẫn chính-sách ngoại-giao và ngoại-thương của Canada.
  • Cựu-Dân-biểu David Kilgour thì cho rằng sự quan-tâm của ông đối với các vấn-đề VN đã có từ xa xưa rồi ông kể một chuyến viếng thăm VN cùng với TNS Ngô Thanh Hải cách đây ít năm, qua đó ông hiểu thêm được rất nhiều về sự thiếu vắng nhân-quyền rất thậm-tệ ở VN.
  • Bắt đầu vào phần trình bầy, Bác-sĩ Nguyễn Thể Bình được yêu-cầu đọc một lá thư mà cựu-Quốc-vụ-khanh VNCH, ông Lê Trọng Quát, viết từ Paris, Pháp-quốc, gởi Thủ-tướng Stephen Harper của Canada và nhờ TNS Ngô Thanh Hải chuyển đi giùm, nói lên ý-chí của người dân miền Nam phải được quyền tự-quyết dân-tộc đúng như lời hứa của Hiệp-định Hòa-bình Paris 1973.
  • Vào phần trình bầy chính của buổi hội, Giáo-sư Nguyễn Ngọc Bích đã đọc tóm lược của một bài thuyết-trình sáu trang mà ông đã gởi trước lên Thượng-viện Canada để được dịch sang tiếng Pháp và được in sẵn trong một hồ-sơ đầy đủ cho các tham-dự-viên. Bài thuyết-trình này đi sâu vào trong chi-tiết những vấn-đề như:
  • (1) chủ-quyền lịch-sử của VN trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa, ít nhất cũng từ TK 17;(2) chủ-quyền này đã được quốc-tế công-nhận qua những hiệp-định quốc-tế như Hiệp-định Hòa-bình San Francisco 1951 (có 51 nước tham-dự), Hiệp-định Genève 1954 chia đôi VN với HS-TS được xác-định rõ ràng là thuộc về miền Nam (sau là VNCH), Hiệp-định Hòa-bình Paris 1973 định nghĩa sự toàn vẹn lãnh-thổ của miền Nam dựa trên định-nghĩa ở Genève, và Định-ước Quốc-tế do 12 nước ký dưới sự chứng-kiến của Tổng-thư-ký Liên-hiệp-quốc vào ngày 2/3/1973 bảo đảm việc thực-thi Hiệp-định Paris 1973. Như vậy thì chủ-quyền của VNCH trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa đã quá rõ, không ai có thể phủ-nhận được.
  • Dựa vào vai trò trung-lập và đứng đắn của Canada qua sự hiện-diện của Canada trong hai ủy-hội quốc-tế đình chiến 1954 và hòa-bình 1973, ông Bích đề nghị Canada, một trong 12 quốc-gia có ký tên trong Định-ước quốc-tế tháng 3/1973, có thể đứng ra vận-động tái-nhóm hòa-đàm Paris để quyết-định phải trái trong việc Trung-Cộng xâm-chiếm Hoàng-sa bằng vũ-lực vào tháng 1/1974 (vi-phạm sự toàn vẹn lãnh-thổ của miền Nam) và Hà-nội cưỡng-chiếm miền Nam (vi-phạm toàn-bộ Hiệp-định Hòa-bình Paris 1973) làm triệt-tiêu quyền dân-tộc tự-quyết của người dân miền Nam. Mà trong một hội-nghị Paris được tái-nhóm thì Bắc-kinh không có quyền phủ-quyết như họ có ở Hội-đồng An-ninh LHQ, chặn đứng được mọi nỗ lực đem vấn-đề tranh chấp Biển Đông ra trước quốc-tế.
  • Sau phần trình bầy của G.S. Nguyễn Ngọc Bích, Luật-sư Lâm Chấn Thọ (Montréal) được mời trình bầy về những khía cạnh công-pháp quốc-tế. Ông đạp đổ những luận-điệu mà ta thỉnh thoảng được nghe, cho rằng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (mà vào năm 1973 được gọi là “Chính-phủ cách mạng lâm-thời miền Nam VN”) mới là quốc-gia kế-thừa VNCH: theo Luật-sư tất cả những bằng-chứng ta có ngày hôm nay (từ Hà-nội hay thậm-chí cả từ miệng của những người đi theo Mặt Trận như Trương Như Tảng, Nguyễn Văn Trấn, Tạ Bá Tòng v.v.) đều công-nhận Mặt Trận là một con đẻ, một công-cụ trực-tiếp của Hà-nội nhằm xâm-chiếm miền Nam thì nó làm gì có tư-cách độc-lập để mà đòi quyền gì.
  • Ông Thọ còn đưa ra những điều khoản trong Hiến-chương Liên-hiệp-quốc như Điều 2.4 cấm ngặt việc đi xâm-chiếm nước khác bằng vũ-lực (do đó TC chiếm Hoàng-sa hay Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa chiếm VNCH là hoàn-toàn bất hợp pháp). Xong ông lại nêu Điều 3 và Điều 73 của Hiến-chương LHQ để chứng minh là một quốc-gia bị tạm-chiếm như VNCH không hề mất chủ-quyền trên lãnh-thổ của mình, tóm lại một quốc-gia đi xâm-chiếm nước khác không có quyền cắt xén lãnh-thổ của nước kia. Và cuối cùng, một quốc-gia bị tạm-chiếm như nước Pháp dưới thời Hitler hay Tây-tạng ngày hôm nay vẫn có quyền có một chính-phủ hợp pháp ngoài lãnh-thổ của mình (thường được gọi là một “chính-phủ lưu-vong”) và chính chính-phủ của cựu-Thủ-tướng Nguyễn Bá Cẩn, chính-phủ hợp pháp cuối cùng của VNCH, vào tháng 5/2009 đã nộp hồ-sơ về lãnh-hải của VNCH cho Ủy-ban về luật biển của Liên-hiệp-quốc.
  •           Sang phần thảo-luận Bàn tròn đã tạm ngưng sau phần trình bầy chính của vấn-đề để cho mọi người dùng cơm trưa. Sau bữa cơm trưa đơn sơ nhưng rất ngon, bàn tròn tái nhóm để đi vào phần thảo-luận. Nhiều vấn-đề được nêu ra nhưng nói chung đều đã được trả lời thỏa đáng. Riêng có vấn-đề “Chính-phủ cách mạng lâm-thời miền Nam Việt-Nam” có được xem là một chính-phủ độc-lập và chính-danh không là được xem khá gay go song cuối cùng, ai cũng phải công-nhận là vấn-đề đó đặt ra cho vui vậy thôi chứ không thể bảo vệ được một cách hữu lý.
  • Trong phần thảo-luận cũng còn có sự tham-gia của một số chuyên-gia Canada như Giáo-sư David Lametti của trường đại-học McGill, một chuyên-gia về tài-sản trí-tuệ. Ông cho biết ông đã để ý đến các vấn-đề VN từ khi ông còn rất trẻ, còn ở trung-học. Ông đã vui khi được tin về Hiệp-định Hòa-bình Paris 1973 nhưng rồi vỡ mộng khi thấy Hoa-kỳ đã bội ước đối với VNCH.
  • Giờ đây, VNCS đang thương lượng với Mỹ và Canada để vào Hiệp-ước Đối-tác xuyên Thái-bình-dương (TPP, Trans-Pacific Partnership). Nói chung thì thương mại là một hoạt-động tốt cho nhân-loại nhưng nếu tiến-trình thương thảo không được minh bạch thì có thể sẽ rất nguy-hiểm, nhất là về khía cạnh tài-sản trí-tuệ. Do đó nên ông khuyến cáo Canada phải cẩn thận, phải đòi hỏi minh bạch trong mọi chặng thương thuyết.
  • Không có lý-do gì mà người dân hay cả Quốc-hội lại phải dựa vào những tin rò rỉ ra từ các cuộc thương lượng. Một luật-sư, ông Benoit, thì cho rằng những lập-luận của chúng ta về phía VNCH rất vững vàng về mặt pháp-lý. Vấn-đề làm làm sao đem ra áp-dụng, dụ được đối-phương, dụ được Trung-Cộng đi vào một tiến-trình thương-thuyết hòa-bình.
  • Gần cuối buổi, cựu-Dân-biểu Bùi Văn Nhân yêu-cầu được phát biểu. Theo ông, Việt-nam Cộng-hòa là một chính-thể chính-đáng và chính-thống bởi chính-thể đó xuất phát từ sự lựa chọn của người dân qua những cuộc tuyển-cử mà người dân thực-sự có quyền lựa chọn những tên tuổi, đảng phái ra tranh cử với nhau. Hiến-pháp VNCH 1967, chẳng hạn, là một hiến-pháp mẫu mực trong đó có sự tam quyền phân-lập, cộng thêm một quyền thứ tư là quyền giám-sát mà ta học được của Hiến-pháp Trung-hoa Dân-quốc. Tất cả những quyền tự do căn-bản của người dân được tôn-trọng và thực-thi, như tự do ngôn-luận, tự do báo chí, tự do tôn-giáo, tự do đi lại, tự do hội họp, tự do lập đảng, tự do biểu tình, xã-hội dân-sự, v.v. Ông cám ơn Canada về tất cả những điều Canada đã làm cho Việt-nam và ông mong là Canada có thể đóng một vai trò tích-cực để đem lại công-lý và hòa-bình cho dân-tộc nhiều khổ đau là Việt-nam.
  • Trước khi kết thúc buổi họp, Luật-sư Lâm Chấn Thọ đã đưa ra bản thảo của một nghị-quyết để Thượng-viện Canada có thể nghiên cứu. Thượng-nghị-sĩ Ngô Thanh Hải đã mời mọi người đọc thật kỹ và đề nghị những điểm cần thêm thắt hay sửa sang. Ông cho rằng cái tinh-thần của nghị-quyết và những nội-dung cụ-thể là quan-trọng, còn ngôn ngữ thì văn-phòng Thượng-viện sẽ có ngôn ngữ riêng của họ để cho đúng với cách hành văn của Thượng-viện. Theo Thượng-nghị-sĩ, một khi bản nghị-quyết được Thượng-viện chấp thuận thì ông và các ủy-ban liên-hệ sẽ phải cho người nghiên cứu thêm hoặc/và tổ-chức điều trần để chi-tiết-hóa hành-động và chính-sách của Canada về các vấn-đề bàn cãi hôm nay. (Tưởng cũng nên nhắc là Thượng-viện Hoa-kỳ hôm 15/7/2014 đã ra nghị-quyết S.R. 412 buộc Trung-Cộng phải rút giàn khoan 981 sớm hơn 1 tháng và đúng trước ngày phái-đoàn ở Mỹ sang Ottawa, ngày 4/12/2014, Hạ-viện Mỹ cũng ra một nghị-quyết tương-tự, H.R. 712, kêu gọi mọi tranh chấp trong Biển Đông phải được giải-quyết bằng con đường hòa-bình, theo công-pháp quốc-tế.)
  • Điều đáng nói ở đây là bàn tròn hôm 5/12 ở Thượng-viện Canada là một trường-hợp điển-hình của “thực-thi dân-chủ” ở Canada. Những công-dân Canada được mời đến bàn thảo một cách cởi mở và công-khai về những vấn-đề liên-hệ đến an-ninh quốc-phòng Canada, về một vùng mà họ có nhiều hiểu biết, và những chuyên-gia cũng được mời đến để đưa ra những nhận-định chuyên-môn của họ. Đó là lý-do tại sao G.S. Nguyễn Ngọc Bích của Ủy-ban Lâm-thời VNCH đã được mời đến thuyết-trình từ Mỹ (ông đã có bài phản-biện lập-trường chính-thức của Trung-Cộng ở LHQ đưa ra ngày 8/6/2014) và Luật-sư Lâm Chấn Thọ được mời tham-gia vào phần thảo-luận chuyên-đề như công-pháp quốc-te, Hiến-chương LHQ, các hiệp-định quốc-tế và Luật Biển, v.v…

IMG_5661

  IMG_3501

Obama Vinh Danh Cựu Lính Mỹ Tử Thủ Huế

Giết 175 Việt Cộng, Giữ Tiền Đồn Ashau, Thượng Sĩ Adkins Giết 175 Địch Quân, Chiến Đấu Liên Tục 36 Giờ Với 18 Vết Thương Đuợc Tặng Huy Chương 48 Năm Sau

16/09/2014

Share on facebook

WASHINGTON – Trong 1 buổi lễ tại Bạch Ốc hôm Thứ Hai, TT Obama trao tặng Danh Dự Bội Tinh cho cựu thưọng sĩ Bennie Adkins về thành tích xuất chúng trong chiến cuộc Vietnam – hơn 48 năm trước, lúc 32 tuổi, ông Adkins là 1 phần trong nhóm cố vấn Hoa Kỳ làm việc với “dân sự chiến đấu” trấn giữ 1 tiền đồn vùng Ashau (tây nam Huế).

Theo phúc trình của Lục Quân, 1 lực luợng lớn của quân CS tấn công – ông Adkins xông pha dưới lằn đạn pháo kích của địch, đặt súng cối bắn trả. Khi hay biết 1 số chiến hữu bị thương tại trung tâm căn cứ, Adkins tạm giao súng cối cho người khác, kéo đồng đội tới nơi an toàn để cấp cứu.

Khi hoả lực của địch lắng dịu, Adkins lại tải thương đồng đội bị thương tới nơi an toàn hơn. Sau, ông đưa thuơng binh tới phi đạo bên ngoài trại – ông cũng liều mạng ra ngoài trại lấy tiếp tế thả dù rơi xuống bãi mìn. Cuộc vây hãm kéo dài qua ngày hôm sau. Trong 2 giờ đầu của ngày 10-3-1966, thượng sĩ Adkins là người duy nhất phòng thủ trại dân sự chiến đấu bằng súng cối – khi hết đạn súng cối, ông bắn chính xác từng tên địch xâm nhập, không ngừng đẩy lui nhiều đợt xung phong của quân chính quy CSBV.

Tổng cộng, ông diệt 175 địch quân với 18 vết thương trong 86 giờ ác mộng, gồm 36 giờ chiến đấu liên tục và khoảng 50 giờ trốn trong các bụi rậm, tránh bị địch bắt. Trong trận đánh ấy, đơn vị dân sự chiến đấu 410 người chỉ còn lại 122 người.

*

IMG_5661

 

*

CÁC ÐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TẠI HẢI NGOẠI CŨNG ÐANG RÁO RIẾC CHUẨN BỊ TRONG NGOÀI GIÚP CHO CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI ÐA ÐẢNG SẼ PHẢI DIỂN RA CHO DÂN TỘC VIỆT NAM NAY MAI TẠI QUÊ NHÀ VIỆT NAM

Sỉ phu Việt nam

*

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng kỷ niệm 75 năm thành lập

Tuesday, November 25, 2014 7:35:15 PM

Nguyên Huy/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Vào ngày Thứ Bảy, 6 Tháng Mười Hai, tới đây, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng sẽ làm lễ kỷ niệm 75 năm thành lập. Cũng trong lễ kỷ niệm này, 100 năm ngày sinh của đảng trưởng Trương Tử Anh cũng được cử hành.

Buổi lễ sẽ được tổ chức tại hội trường Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, Santa Ana.

Ông Trần Trọng Ðạt phát biểu tại đại hội đảng năm 2012. (Hình: Ðại Việt Quốc Dân Ðảng)

Theo thư mời được phổ biến, ngoài những nghi thức kỷ niệm ngày thành lập đảng và tưởng niệm, còn có phần phát biểu của quan khách đại diện các đảng bạn như Kỹ Sư Lê Thành Nhân; Tổng bí thư Việt Nam Quốc Dân Ðảng, ông Lê Hồng Thanh; Tổng bí thư Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng, Kỹ Sư Nguyễn Hoàng Công, chủ tịch Hội Ðồng Hương Phú Yên; Luật Sư Ðinh Thạch Bích, VN Exodus Foundation.

Ông Trần Trọng Ðạt, chủ tịch Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, cho biết: “Kỷ niệm ngày thành lập đảng và tưởng niệm đến đảng trưởng Trương Tử Anh là để chúng ta, những người có tâm huyết với đất nước dân tộc có dịp ôn lại một giai đoạn lịch sử vừa qua, trong đó các đảng phái quốc gia đã nỗ lực đóng góp. Ðồng thời để các đảng viên khắp nơi nhắc nhở nhau tinh thần cách mạng của đảng trưởng Trương Tử Anh mà dấn bước thêm theo con đường tranh đấu cho đất nước và dân tộc sinh tồn của nhà cách mạng Trương Tử Anh.”

Ðề cập đến hoạt động của đảng hiện nay ở trong nước cũng như hải ngoại, ông Trần Trọng Ðạt dè dặt tiết lộ: “Ở hải ngoại, nói chung, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng nay đảng viên có mặt khắp nơi từ Âu Châu, Úc, Canada và Hoa Kỳ. Nhiều nơi chúng tôi chỉ có một hay hai đảng viên như ở Hawaii, Alaska nhưng sinh hoạt nội bộ đảng rất chặt chẽ qua các phương tiện truyền thông, liên lạc điện tử ngày nay. Hàng tháng chúng tôi có những sinh hoạt thường kỳ để có sự hoạt động thống nhất, cập nhật kịp thời tin tức trong và ngoài đảng nhất là tình hình quốc tế và trong nước.”

“Chúng tôi cũng có những sinh hoạt bất thường để đáp ứng tình hình khẩn cấp. Tất cả những sinh hoạt này giúp chúng tôi có được sự hoạt động thống nhất, đáp ứng được mọi tình huống đấu tranh. Ở trong nước, sự phát triển đảng có khó khăn hơn. Nhưng chúng tôi vẫn duy trì được các tổ chức của đảng đã có ở miền Nam từ trước năm 1975 và sau này thêm được một số cơ sở đảng khác do nối kết được với những thành phần tranh đấu ở trong nước. Tại miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra sau Tháng Tư, 1975, Ðại Việt đã phát triển thêm được tám cơ sở nữa trong tám tỉnh miền Bắc. Ðây phải nói là những cố gắng, hy sinh của lớp đảng viên cũ còn ở lại trong nước. Ðiều rất đáng nói là những cơ sở mới đã thu hút được tuổi trẻ tham gia, nay thì có thể nói thành phần đảng viên của đảng có tới hơn 50% là giới trẻ,” ông Ðạt nói tiếp.

Hoàn cảnh đất nước vào thời gian có những biến chuyển mạnh, thực dân Pháp đang suy yếu, chiến tranh thế giới đã ảnh hưởng đến chính tình khắp nơi khiến các đảng phái quốc gia có cơ hội hoạt động và phát triển nhanh chóng. Quốc Dân Ðảng với đảng trưởng Nguyễn Thái Học sau cuộc nổi dậy thất bại năm 1930 đã đánh thức lòng yêu nước trong toàn dân dù sau đó đã bị thực dân Pháp truy lùng tận diệt phải rút vào bí mật và tùy theo tình hình, phương tiện mà hoạt động dưới những tổ chức khác nhau nhưng cùng một gốc Quốc Dân Ðảng.

Theo tài liệu của đảng, ngày 10 Tháng Mười Hai, 1939, trước cao trào cách mạng trong toàn dân, nhà hoạt động Trương Tử Anh đã kết hợp được nhiều thanh niên tại Viện Ðại Học Hà Nội thề nguyền, kết hợp quyết tâm đưa dân tộc ra khỏi cảnh suy vong. Ðó là những thanh niên trí thức của thời đại như Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Cảnh Hoàng, Ðặng Xuân Tiếp, Nguyễn Sĩ Dinh, Trương Bá Hoành, Võ Văn Hải, Nguyễn Văn Viễn, Giáo Lai, Bác sĩ San… Vì phát sinh tại Viện Ðại Học Hà Nội có nhiều sinh viên từ các nơi trong nước đến theo học, nên Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã nhanh chóng lan rộng khắp Bắc, Trung và Nam nên đảng đã chia thành các xứ bộ Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt để hoạt động. Ở xứ bộ Bắc Việt rất nhiều trí thức khoa bảng tham gia như Ðặng Vũ Lạc, Ngô Gia Hy, Ðặng Văn Sung, Bùi Diễm, Trần Trung Dung, Phan Huy Quát, Vũ Quí Mão, Trần Ðỗ Cung… và còn có hai phụ nữ là Ðặng Thị Khiêm tức bà Cả Tề và bà U. Ðảng cũng phát triển thêm ở Cambodia và Lào.

Kế tiếp những năm sau đó đảng đã thiết lập được các chiến khu và cơ sở quân sự như chiến khu Kép, chiến khu Lạc Triệu và trường sĩ quan Lạc Triệu cùng Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự, trường Lục Quân Yên Bái, chiến khu Di Linh, chiến khu An Ðiền Thủ Ðức, Gia Ðịnh, và Trung Ðoàn 25 A B… Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa có các chiến khu Ba Lòng, Nguyễn Huệ, Châu Ðốc.

Ngoài ra, về chính trị đảng thành lập Mặt Trận Quốc Dân Ðảng nhằm kết hợp các đảng phái quốc gia.

Ðại Việt Quốc Dân Ðảng từ ngày thành lập luôn luôn bị đàn áp, triệt hạ qua nhiều chế độ khác nhau.

Thuyết “Dân Tộc Sinh Tồn” là đường lối và chủ trương của đảng. Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn có ba mục đích là thực hiện đại đoàn kết quốc gia, bảo đảm sự sinh tồn cho mọi người trong dân tộc, củng cố và tăng cường sức mạnh dân tộc.

Ba mục đích này, theo Chủ Tịch Trần Trọng Ðạt thì đảng vẫn còn giữ cho đến ngày nay.

*

IMG_7082

*

 

Vụ 16 tấn vàng: Vì sao TT Thiệu được minh oan?

Nam Nguyên, phóng viên RFA 2015-01-05

 

IMG_7321

Vàng thỏi, ảnh minh họa.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Trước và sau ngày 30/4/1975 báo chí phương tây cũng như trong nước đưa nhiều tin bài với nghi vấn nhà lãnh đạo VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã tẩu tán số vàng dự trữ 16 tấn của Nam Việt Nam. Phải mấy chục năm sau Lịch sử mới được làm sáng tỏ.

Nam Nguyên phỏng vấn ông Huỳnh Bửu Sơn, người đã quản lý và chuyển giao số tài sản quốc gia đó cho chế độ mới. Trong biến cố lịch sử tháng 4/1975, ông Huỳnh Bửu sơn mới 29 tuổi tốt nghiệp Cao học Kinh tế Đại học Luật khoa Saigon. Ông Sơn thuộc nhóm lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và là người giữ chìa khóa hầm vàng. Từ Saigon trước hết ông Huỳnh Bửu Sơn phát biểu:

Ông cũng biết, số lượng vàng có trong hầm như thế nào, thì khi được tiếp quản và chuyển giao cho Ủy ban Quân quản của Ngân hàng Nhà nước lúc đó được giao toàn vẹn không thiếu một nút vàng nào cả. Chúng tôi thường gọi là nút vàng vì ngoài những thoi vàng tính cách ra, còn có những đồng tiền cổ, những đồng tiền vàng Napoleon nhưng mà buôn lậu sang Việt Nam bị bắt dưới hình thức những cái nút cài áo. Cho nên là khi được giao lại cho Ủy ban Quân quản thì toàn bộ vàng trong hầm bạc bao gồm cả những đồng tiền cổ đó được giao đầy đủ hết.

Số lượng vàng có trong hầm như thế nào, thì khi được tiếp quản và chuyển giao cho Ủy ban Quân quản của Ngân hàng Nhà nước lúc đó được giao toàn vẹn không thiếu một nút vàng nào cả. – Ông Huỳnh Bửu Sơn

Nam Nguyên: Thưa sau này ông có được nghe nói là chính phủ mới đã sử dụng lượng vàng đó như thế nào hay không? Bởi vì 16 tấn vàng vào thời ký đó rất là lớn có thể giúp phát triển kinh tế, hay chính phủ lại dung để trả nợ các nước bạn có quân viện giúp cho việc thống nhất đất nước.

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Thật ra lúc đó có rất nhiều tin đồn về việc sử dụng số vàng đó. Nhưng tôi không ở trong một vị trí mà biết được những thông tin như vậy và xin được phép không dám nói về những lời đồn xung quanh chuyện sử dụng số vàng đó. Tôi nghĩ là Chính phủ Việt Nam thì cũng sử dụng số vàng đó cho những mục tiêu rất thiết yếu về kinh tế hay cho mục tiêu nào khác của chính phủ.

Nam Nguyên: Thưa ông là người quản lý cuối cùng và chuyển giao qua chính phủ mới. Lúc đó ở Việt Nam có tin đồn là Tổng thống Thiệu đã mang số vàng đó đi, thời gian đó ông có nghe tin này hay không ?

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Có tôi cũng có nghe chuyện đó, chính BBC trong thời gian đó cũng có một loạt bài về chuyện này, cũng có nói tôi đã minh oan cho ông Thiệu (cười). Thật ra có thể ông Thiệu lúc đi có mang theo một số vàng của riêng ông ấy thôi, còn số vàng của quốc gia thì vẫn còn tại hầm vàng của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

Nam Nguyên: Thưa quản lý vàng của chế độ cũ trong Ngân hàng Quốc gia có chặt chẽ và khoa học hay không?

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Mình không dám dùng những tĩnh từ để nói rằng chặt chẽ hay khoa học, nhưng riêng việc cuối cùng toàn bộ những thoi vàng đó được giữ rất là chu đáo, đầy đủ và không thiếu như tôi nói là một cái nút vàng, theo đúng như sổ sách và được giao lại cho chính phủ mới. Điều đó cũng cho thấy cách quản lý của Ngân hàng Quốc gia, không riêng gì vàng mà đối với các tài sản khác đều có kỷ luật rất tốt.

Nam Nguyên: Thưa ông có thể mô tả chút ít về cách quản lý khoa học như thế?

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Tôi nghĩ nếu mà so với kỹ thuật quản lý hiện nay của những Ngân hàng Trung ương trên thế giới thì nó cũng không phải là có cái gì đặc sắc lắm. Tuy nhiên vàng được cất giữ trong những hầm trong đó có thể vừa chứa vàng vừa chứa tiền chưa được phát hành và có thể nói là được quản lý, kiểm kê khá là thường xuyên. Chắc chắc mỗi năm đều có việc kiểm kê đó và tất nhiên việc ra vào hầm bạc cũng rất nghiêm ngặt, chỉ những người có trách nhiệm thôi.

Việc giữ chìa khóa hầm bạc không phải chỉ một người mà giữ được. Tức là có hai bộ chìa khóa, một bộ thuộc về bên kiểm soát, một bộ thuộc về bên điều hành; phải có hai bộ chìa khóa đó và thêm một người giữ mật mã của cửa ra vào hầm vàng hầm bạc đó thì mới có thể mở cửa được. Như ông biết các cửa hầm vàng của Ngân hàng Trung ước các nước là rất kiên cố có độ dày lên tới 8 tấc hay một thước, phải nói là rất kiên cố chưa kể việc giữ an ninh bên ngoài rất là chặt chẽ. Tôi nghĩ đây  là việc bình thường của bất cứ Ngân hàng Trung ương nào có kho trữ vàng trữ tiền.

Thật ra có thể ông Thiệu lúc đi có mang theo một số vàng của riêng ông ấy thôi, còn số vàng của quốc gia thì vẫn còn tại hầm vàng của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. – Ông Huỳnh Bửu Sơn

Nam Nguyên: Thưa hồi đó chưa có kỹ thuật điện toán (computer) thì sổ sách kế toán ghi chép có chặt chẽ và bảo đảm hay không?

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Thật ra lúc đó cũng đã có điện toán rồi, tất nhiên không mạnh và nhanh như hiện nay. Nhưng đã có sử dụng điện toán để theo dõi tài sản đó và ghi rõ trên các bảng kê, chúng tôi gọi là listing. Những bảng kê đó được đối chiếu nhiều lần mỗi khi có trường hợp đột xuất về vàng. Vì thật ra hồi xưa Ngân hàng Quốc gia cũng có sử dụng số vàng trong kho bán ra để bình ổn thị trường vàng vào lúc đó.

Nam Nguyên: Thưa trong những ngày cuối cùng cho đến 30/4/1975  ông có thấy chính quyền cũ có nỗ lực nào để chuyển số vàng đó đi hay không. Dẫn tới tin đồn là đã chuyển ra ngoại quốc.

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Thật sự là có và cũng đã dự kiến là chuyển sang gởi ở tại Mỹ, tôi nhớ không lầm là gởi tại một ngân hàng ở Mỹ và đã có sự chuẩn bị đó rồi. Chính vì sự chuẩn bị đó cho nên một hãng bảo hiểm ở Bỉ là nơi được hợp đồng bảo hiểm số vàng chuyển đi đã tiết lộ ra. Nhưng cuối cùng của chính phủ quyết định giữ lại số vàng đó cho nên nó không được chuyển đi.

Nam Nguyên: Đối với tư cách công dân Việt Nam một người chịu trách nhiệm quản lý, nói chung là của đất nước và ông đã chuyển giao không suy suyển thì ông có cảm nhận gì vào ngày hôm đó?

Ông Huỳnh Bửu Sơn: Lúc đó từ việc kiểm kê số vàng đó và giao lại cho Ủy ban Quân quản thì tôi nghĩ tôi cũng chỉ hành động như một nhân viên bình thương của Ngân hàng Quốc gia mà thôi. Tức là làm cho tròn trách nhiệm mình được giao phó, chứ lúc đó tôi cũng không nghĩ ngợi gì cả…mà cũng khá lo vì nếu lỡ mà thiếu một cái gì thì có khi chính mình phải chịu trách nhiệm oan đấy (cười) mà may quá đã không thiếu gì cả.

Nam Nguyên: Cảm ơn ông Huỳnh Bửu Sơn đã trả lời RFA.

*

IMG_7082

Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975

09/12/2014

  • Tác giả : LITTLE SAIGON.- Trong 2 ngày 6-7/12/2014, nhật báo Người Việt và nhật báo Việt Báo kết hợp với 2 trang mạng văn học là Da Màu và Tiền Vệ đã tổ chức một cuộc hội thảo khá quy mô với 16 diễn giả nói về các đề tài trong phạm vi văn học miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975.
  • Ngày đầu tiên (6/12/14) được tổ chức tại phòng hội của báo Người Việt bắt đầu lúc 10:00 sáng. Mở đầu bằng nghi thức chào cờ VNCH và phần mặc niệm tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã mất, đặc biệt những người mất trong các trại cải tạo sau năm 1975. Sau đó LS. Phan Huy Đạt, Chủ Nhiệm báo Người Việt tuyên bố khai mạc, chào mừng quan khách. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn, người điều hợp chương trình buổi sáng, giới thiệu diễn giả đầu tiên của chương trình là nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đề tài thuyết trình của ông hôm nay là: “Văn học miền Nam 1954-1975 trong tiến trình hiện đại hoá của văn học dân tộc”.
  • Tiểu sử: Nguyễn Hưng Quốc tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn vượt biên khỏi Việt Nam năm 1985, đầu tiên sang Pháp, sau đó định cư tại Úc từ năm 1991. Khi còn ở Việt Nam, ông đã tốt nghiệp ngành sư phạm tại thành phố Hồ Chí Minh, sau đó lấy bằng tiến sĩ văn học tại đại học Victoria, Úc. Tại đại học Victoria, ông giảng dạy về ngôn ngữ, văn học, văn hóa và chiến tranh Việt Nam.
  • Tuấn là chủ bút tạp chí Việt (1998-2001), hiện thời đồng chủ bút trang Tiền Vệ (2002). Ngoài ra ông còn hợp tác với một số tạp chí văn học hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.v.v. và có trang blog Nguyễn Hưng Quốc trên trang mạng VOA tiếng Việt bình luận về chính trị. Ông đã xuất bản trên 10 cuốn sách, hầu hết là phê bình văn học VN.
  • Nguyễn Hưng Quốc mở đầu phần thuyết trình của ông là:“Tổng quan văn học miền Nam 1954-1975”. Ông cho rằng: “Văn học miền Nam (VHMN) từ 54-75 là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam” vì sau khi CS xâm chiếm miền Nam, họ không thừa nhận nền văn học này nên đã tịch thu, phá hủy tất cả những tác phẩm đã in ra của miền Nam trước năm 75. Tuy nhiên VHMN vẫn được tồn tại là nhờ CĐVN ở hải ngoại liên tục in lại.
  • Theo ông VHMN là một nền văn học lớn và lớn ở nhiều khía cạnh, từ sáng tác, nghiên cứu phê bình, dịch thuật cho đến những nhà văn tiêu biểu, những người có công khai phá kỹ thuật mới lạ, phong cách hay và độc đáo nếu đem so sánh với văn học miền Bắc trong cùng thời kỳ, dựa trên quan niệm mỹ học.
  • Ông cũng nói thêm rằng VHMN thời kỳ 54-75 chẳng những đa dạng hơn VHMB cùng thời kỳ mà còn đa dạng hơn văn học VN thời 30-45. Ba tính chất trong VHMN được nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đưa ra, dùng nhiều văn, thơ của các tác giả như Võ Phiến, Nhã Ca, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng… để dẫn giải tỉ mỉ là:
  • 1/ Tính hiện thực, tính lảng mạn.
  • 2/ Phát triển nhân văn.
  • 3/ Sự đa dạng.
  • Song song với lời ca ngợi những điều tốt đẹp của VHMN, Nguyễn Hưng Quốc cũng đưa ra nhiều chỉ trích nền văn học miền Bắc. “Nó hoàn toàn xóa sạch cái tôi cá nhân chủ nghĩa, nó nhắm đến cái chung.Toàn bộ văn xuôi ở miền Bắc từ 54-75 đều tập trung đến hai đề tài lớn là tổ quốc và XHCN. Trong đó người ta ca tụng thành công của CNXH, con đường xây dựng CHXH.”.
  • Kế tiếp là phần thuyết trình của nhà Phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc với đề tài:
  • Văn học miền Nam, 1954-1975: Phẩm tính và ý nghĩa
  • Tiểu sử: Sinh năm 1953 tại Hà Nội, dạy Pháp văn và Việt văn ở Sài Gòn cho đến 1977. Sống ở Mỹ từ 1978. Dạy học và làm việc trong ngành Tâm lý – xã hội trong vòng 25 năm trở lại đây. Hiện dạy Anh văn cũng như Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam tại California State University, Fullerton và Golden West College.
  • Viết lý luận phê bình văn học từ 1982. Tác phẩm chính (đã xuất bản tại Mỹ):
  • * Trịnh Công Sơn: ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (2005)
  • * Lý luận và phê bình: Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước (1975 – 1995)
  • * 20 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975- 1995 (Viết chung, 1995)
  • * Tuyển tập truyện ngắn hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975 – 1995 (Viết chung, 1995) Theo Bùi Vĩnh Phúc: Bốn phẩm tính nổi bật của VHMN 54-75 là:
  • Một nền văn học phát triển liên tục từ thời tiền chiến.
  • Một nền văn học mang tính liên thông với thế giới.
  • Một nền văn học mang tính nhân bản và nhân văn.
  • Một nền văn học khai phóng, đa sắc và đa dạng.
  • Sự diễn giải 4 phẩm tính này của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc tuy không mới lạ gì nhưng đây là kết quả của một suy nghĩ, nhận xét rất logic. Ông dùng 4 phẩm tính của nền VHMN để chỉ ra một thành tựu, đóng góp của văn học Việt Nam cuối thế kỷ 20. Tuy chỉ trong 20 năm nhưng sự tồn tại của nó rất quan trọng. Nó chia sẻ thân phận, tình cảm của con người, gần gũi với nền văn học thế giới. Và,trong thời gian nầy, miền Bắc cũng có một nền văn học riêng mà giá trị của nó chỉ nằm trong một cái khung kiểm soát về văn hóa và tư tưởng để tô hồng cuộc chiến với miền Nam, ngợi ca chủ nghĩa CS. Ông cho rằng nền văn học đó đã tự chặn đứt nhịp cầu nối tiếp với nhân loại.
  • Trong tất cả những tài liệu nghiên cứu văn học của miền Bắc hoàn toàn không nhắc đến VHMN, tình trạng này vẫn còn kéo dài từ sau 1975 đến hiện giờ.
  • Một câu hỏi từ cử tọa cho ông là:” Theo ông giữa nền văn học hai miền trong thời gian này có gặp nhau điểm nào không?”. Nhà Phê bình Bùi Vĩnh Phúc cho là: “Không, nhưng nếu là có thì chỉ ở chỗ là nền văn học hai miền đều vị quốc. Nhưng, miền Bắc thì dược đảng chỉ đạo, tô hồng cuộc chiến, che mất nhân văn con người. Còn miền Nam thì bảo vệ đất nước, tôn trọng tự do, cá nhân con người.”
  • Diễn giả thứ ba cũng là diễn giả cuối của buổi sáng trước khi nghỉ trưa là nhà văn Trần Doãn Nho với chủ đề là: “Tính văn học trong văn học miền Nam”.
  • Tiểu sử: Tên thật Trần Hữu Thục Sinh năm 1945, Huế., bút hiệu Trần Doãn Nho và Thế Quân. Học ở Huế và Sài Gòn. Tốt nghiệp đại học, ngành Triết. Trước 1975, viết văn viết báo, đi lính, dạy học. Cộng tác với các tạp chí văn học Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Bách Khoa, Tân Văn, Đối Diện.
  • Sau tháng 4/1975, ở tù cho đến năm 1981. Năm 1993, định cư tại Hoa Kỳ,cộng tác với nhiều tạp chí văn học và website hải ngoại như Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Việt, Thế Kỷ 21, Phố Văn, Gió Văn, Talawas, Gió O.
  • Các tác phẩm đã xuất bản: Vết xước đầu đời,tập truyện ngắn,Thanh Văn 1995 Căn phòng thao thức,tập truyện ngắn, Thanh Văn 1997 Viết và Đọc,tiểu luận văn học, 1999 Loanh quanh những nẻo đường, ký và tùy bút, Văn Mới 2000 Dặm trường, truyện dài, 2001 Tác giả tác phẩm và sự kiện, tiểu luận văn học, Văn Mới, 2005 Từ ảo đến thực, tạp bút, 2006.
  • Dẫn giải một số thơ văn của các tác giả miền Nam trong giai đoạn 54-75, Nhà văn Trần Doãn Nho bác bỏ “ văn học đô thị” mà miền Bắc đã gọi tên VHMN, nhằm để giảm thiểu rất nhiều tính đa dạng của NHMN. Theo ông, VHMN là một kính vạn hoa, soi rọi từng ngóc ngách của cuộc sống, nó không thể bị điều khiển bỡi bất kỳ chính quyền nào, nó nhu một con chim, một dòng sông nên tồn tại bỡ chính nội lực của nó. Nó là một rừng hoa bạt ngàn với nhiều xu hướng khác nhau.
  • VHMN có tính kế thừa nền văn học tiền chiến. Ngoài ra nó có đầy đủ tính hiện đại, tính nhân bản, Tính hiện thực và bi kịch. Bi kịch nằm trong cuộc sống cá nhân, trắc trở giàu nghèo, xa cha me, vợ chồng. Và nhất là do đất nước chiến tranh. Tính bi kịch này dần dà, trở thành “một câu hỏi lớn về thân phận của con người trong chiến tranh là sự thao thức trong từng tác phẩm.”
  • Về phần tác giả, ông nói: Đối với họ, là nhà văn hay nhà thơ chính là một lựa chọn tự do. Viết lên những gì mình muốn viết mà không sợ một thế lực nào chính là hành động biểu hiện sự tự do.
  • Chủ tọa cho hội luận buổi chiều là nhà phê bình Đinh Từ Bích Thúy và nhà văn Phùng Nguyễn, hai cây bút của trang mạng Da Màu. Và, Diễn giả đầu tiên là nhà thơ Du Tử Lê với chủ đề:
  • “Vài khía cạnh đặc thù của 20 năm văn học miền Nam”
  • Tiểu sử Ông sinh năm 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Cựu sĩ quan QL VNCH, cựu phóng viên chiến trường, Năm 1973 được trao Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972. Cho tới hôm nay, ông là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996)[1].
  • Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học Hoa Kỳ và châu Âu. Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào một trong năm tác giả Việt Nam để in vào phần “Thế kỉ 20: thi ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tập World Poetry An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa đến nay). Trong cuốn Understanding Vietnam, tác giả, giáo sư Neil L. Jamieson đã chọn dịch một bài thơ của Dư Tử Lê viết từ năm 1964. Cuốn sách này sau trở thành tài liệu giáo khoa, dùng để giảng dạy tại các đại học Berkeley, UCLA, và Cambridge, London.
  • Ông cũng là nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Đã xuất bản 61 tác phẩm. Theo nhà thơ Du Tử Lê những cá nhân làm nên dòng VHMN chia thành 3 thành phần chính:
  • – Thành phần thứ nhất: Những nhà văn, nhà thơ gốc miền Bắc.
  • – Thành phần thứ hai: Những nhà văn, nhà thơ gốc miền trung.
  • – Thành phần thứ ba: Những nhà văn nhà thơ gốc Nam bộ.
  • Vì đất nước chiến tranh, hầu như thanh niên đều phải đi lính, ngoại trừ một số hoản dịch vì lý do gia cảnh hay nghề nghiệp. Nhà văn, nhà thơ cũng không ngoại lệ. Và, tuy trong quân đội nhưng về phương diện sinh hoạt văn chương, ông chia họ ra hai thành phần:
  • – Thành phần thứ nhất là thành phần tiếp tục theo đuổi văn chương mà họ đã chọn như: Tạ Tỵ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu…
  • – Thành phần thứ hai là những người cầm bút chọn viết về đời quân ngũ như: Văn Quang, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam… Nhưng dù là thành phần nào thì không một ai bị bắt buộc viết theo nhu cầu từ thượng cấp. Ông đưa ra 9 đặc thù của 20 năm VHMN:
  • 1/ Tính tự do
  • 2/ Tính nhân bản: trong những tác phẩm văn chương không có tính chất hận thù, sắt máu như văn chương miền Bắc. Tính nhân bản này được Giáo sư Neil L. Jamieson (đại học Geogre Mason, VA) ca ngợi qua cuốn Understanding VietNam. Ngay cả tác giả thiên tả là Jean Claude Pomonti cũng đã xiển dương khía cạnh này trong cuốn La Rage deetre Vietnamien.
  • 3/ Những cái “Tôi” được phô bày trần trụi. Người đọc thấy rất nhiều cái “Tôi” dị hợm, xấu xí, hèn nhát được phê bày trực tiếp. thậm chí tình cảm riêng tư của chính tác giả cũng đem ra phơi bày trong thi ca.
  • 4/ Sự tự phát nhà Xuất Bản do các nhà thơ, nhà văn chủ trương.
  • 5/.Song song với dòng chảy văn chương miền Bắc và Trung thì dòng văn chương vủa các cây viết niền Nam, viết bằng ngôn ngữ đặc thù miền Nam như Bình Nguyên Lộc, Sơn nam, Bà Tùng Long.
  • 6/ Sự xuất hiện rực rỡ của những nhà văn nữ. Đặc biệt hơn nữa là có một số đông đưa tình dục vào tác phẩm.
  • 7/ Sự thay đổi cách viết. ông đưa thí dụ về cách chấm câu của một số các nhà văn đã thay đổi cách viết.
  • 8/Tiếp nhận và khai triển các trào lưu văn chương trên thế giới: Thơ tự do, xu hướng Hiện sinh, văn chương mới…
  • 9/ Đả kích tôn giáo: Một số nhà văn nhà thơ đã vượt qua cái vòng “Taboo”(cấm kỵ) là vấn đề tôn giáo. Nhà văn điển hình mạnh mẽ là Thế Nguyên.
  • Kết thúc, nhà thơ Du Tử Lê “nhấn mạnh” rằng Có thể 20 năm VHMN còn nhiều đặc thù khác nhưng khả năng ông có giới hạn, hy vọng có sự tiếp sức của người khác.
  • Phần trình bày tiếp theo là của Nhà văn, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn với chủ đề: “Ảnh hưởng của Tây phương trong văn học miền Nam”.
  • Tiểu sử: Sinh năm 1956 tại Nha Trang. Nguyên chủ bút tạp chí Tập Họp (1987-1989). Nguyên phụ tá chủ bút tạp chí Việt (1998-2001); Hiện đồng chủ bút trang Tiền Vệ. Nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình và sáng tác trong lĩnh vực âm nhạc và văn chương; đồng thời là nghệ sĩ trình tấu guitar, diễn viên sân khấu, kịch tác gia, và dịch giả. Hiện sống tại Úc.
  • Từ năm 2004 cho đến nay, là thành viên của Uỷ Ban Văn Chương và Lịch Sử, thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales. Từ năm 2005, kiêm nhiệm trách vụ thành viên của Uỷ Ban Sách Lược Phát Triển Nghệ Thuật Miền Tây Sydney, cũng thuộc Hội Đồng Cố Vấn Nghệ Thuật, Bộ Nghệ Thuật New South Wales.
  • Đã xuất bản: Văn Học Hiện Đại và Hậu Hiện Đại qua Thực Tiễn Sáng Tác và Góc Nhìn Lý Thuyết (California: Văn Nghệ, 2001); Time & Destiny [phê bình mỹ thuật] (Sydney: The University of Sydney, 2002); In-Between 1.5 Generation [dịch và biên tập cùng với Carmel Killin and Dunja Katalinic] (Sydney: Casula Powerhouse Arts Centre, 2000); The Bridge: Anthology of Vietnamese Australian Writing [biên tập và giới thiệu] (Sydney: Casula Powerhouse Arts Centre, 2004); From the Editors: Migrant Communities and Emerging Australian Literature [tiểu luận in chung với Jose Wendell P. Capili, Sumana Viravong, và Noonee Doronila; do Jose Wendell P. Capili biên tập] (Sydney: Casula Powerhouse Arts Centre, 2007).
  • Ông Hoàng Ngọc Tuấn nhận định rằng sự ảnh hưởng Tây phương có nhiều giá trị tích cực, thể hiện qua cả lối viết và ý tưởng, trong tác phẩm thơ văn cũng như trong phê bình văn học cho nền VHMN. Những ảnh hưởng ấy “đến từ rất nhiều học thuyết và trường phái khác nhau của văn học và triết học Âu-Mỹ.”
  • Nhưng vẫn có một số phản đối củanhững người bảo thủ hoặc mang thành kiến văn hóa. Ông khẳng định rằng, một con người, một đất nước tự tin, vững mạnh thì không lo sợ gì sự ảnh hưởng từ mọi nơi trên thế giới. Các nhà cầm bút có sự tự tin và tài năng thì họ có thể tiếp nhậnmọi ảnh hưởng và biến chúng thành những nét mới trong tác phẩm của mình. Như trường hợp danh họa Picasso đã tự nhận mình ảnh hưởng tranh vẽ của Phi châu, và, chính ông đã hòa hợp, biến đổi nó để trở thành một lối vẽ đã ảnh hưởng cả nền hội họa trên thế giới.
  • Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đã đi đến kết luận là, chính sự thân hóa này đã mang đến rất nhiều tác phẩm có giá trị, giúp cho nền VHMN tự do, đi trước văn học miền Bắc XHCN nhiều thập kỷ.
  • Phần hội thảo tiếp tục với nhà văn Phạm Phú Minh nói về đề tài tuy không thuộc về văn chương nhưng lại có mật thiết đến văn học: “Tình hình xuất bản và phát hành tại miền Nam 1954-1975”
  • Tiểu sử: Phạm Phú Minh, sinh năm 1940, bút hiệu Phạm Xuân Đài, người làng Đông Bàn, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
  • Học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và Sư Phạm ban Triết học tại Viện Đại Học Đà Lạt. Tốt nghiệp Sư Phạm năm 1964. Dạy học và hoạt động thanh niên. Từ năm 1966 làm việc trong Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường (CPS) của bộ Giáo Dục. Biệt phái sang Phủ Tổng Ủy Dân Vận năm 1973.
  • Từ 1975 đi tù cải tạo, ở các trại Long Thành, Thanh Cẩm (Thanh Hóa) và Xuân Lộc. Ra khỏi tù năm 1988. Đi tị nạn tại Mỹ cuối năm 1992. Từ 1993 đến 2007 làm việc với tạp chí Thế Kỷ 21 trong các nhiệm vụ Thư ký Tòa soạn, Chủ nhiệm và Chủ bút. Hiện là Chủ bút tạp chí online Diễn Đàn Thế Kỷ (diendantheky.net). Đã xuất bản: Hà Nội Trong Mắt Tôi (tùy bút, 1994).
  • Theo nhà văn, nhà giáo Phạm Phú Minh: 20 năm VHMN đã tạo được một truyền thống cho việc in ấn, xuất bản, công việc này trước 1975 hoàn toàn là hoạt động của tư nhân. Thời gian 1954-1975 muốn xuất bản sách báo thì phải qua kiểm duyệt. Ông đã dùng slide để chiếu cho cử tọa xem bản thảo của nhà thơ Tạ Ký nạp kiểm duyệt năm 1961. Từng trang sách được thông qua hay bị đục bỏ có đóng dấu và ký tên của người hữu trách. Sau khi kiểm duyệt xong thì công việc xuất bản hoàn toàn theo các quy luật thị trường, có nghĩa là sách hay thì bán chạy hoặc ngược lại. Trong 20 năm, miền năm đã có được 2500 nhà bán sách và 3000 tiệm cho thuê sách.
  • Ông không đồng ý với ý kiến của một số người cho rằng sự xuất hiện của các tiệm cho thuê sách là giết đi việc xuất bản sách mà cho rằng: “ với 3000 tiệm cho thuê như vậy thì mỗi cuốn sách in ra sẽ bán ít nhất là 3000 cuốn, một con số không nhỏ ! Một hình thức xuất bản khác mang tính điển hình cho giai đoạn này mà ông cho là sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc đến, đó là các tiểu thuyết “feuilleton” trên báo hàng ngày. Đây là dạng những tiểu thuyết dài, đăng nhiều kỳ trên báo. Truyền thống này, theo nhà văn Phạm Phú Minh, đã được giữ mãi trong báo chí miền Nam, ngày càng phong phú và đa dạng cho đến 30 tháng Tư, 1975.
  • Để kết thúc, ông khẳng định: “Sách viết ra mà không có nhà xuất bản coi sóc, in ấn, không có nhà phát hành phân phối để tới tay người dân mua về đọc và thưởng thức, thì coi như cuốn sách đó chưa hiện hữu trong đời sống của một quốc gia, của một cộng đồng,”.
  • Nhà văn nữ xuất hiện đầu tiên trong buổi hội thảo là Trịnh Thanh Thủy với đề tài: “Ý thức nữ quyền trong tác phẩm của các nhà văn nữ từ 1954 đến 1975”. Nhà văn Trịnh Thanh Thủy. Tiểu sử: Sinh quán Gia Định. Định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Cộng tác với Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Người Việt hải ngoại, Việt Báo, Trẻ, Khoa Học dot net, Hoa Đàm, Việt tide, Viễn Đông, Chim Việt Cành Nam, Tiền vệ, Da Màu. Tác phẩm: Giữa L và C, Tập thơ in chung với Đinh Trường Chinh và Nguyễn Tư Phương.
  • Mở đầu nhà văn Trịnh Thanh Thủy cho biết: “ Giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho hai người, một Ấn Độ và một Pakistan. Họ đều là các nhà hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
  • Người thứ nhất, Ông Kailash Satyarthi là một kỹ sư điện Ấn Độ, 60 tuổi, từng đấu tranh hỗ trợ cho các trẻ em và phụ nữ, những người làm việc tại các nhà máy Ấn Độ như những kẻ nô lê. Họ bị bóc lột sức lao động và là nạn nhân của bạo lực cũng như tấn công tình dục.
  • Người thứ hai, Malala Yousafzai là một cô gái người Pakistan, 17 tuổi, người trẻ nhất của lịch sử giải Nobel trong hơn một trăm năm vừa qua. Năm 16 tuổi, cô bị một nhóm người Taliban nả súng vào đầu cũng chỉ vì cô đấu tranh cho 31 triệu bé gái trên thế giới được đi học. Họ tưởng đã làm cô bặt tiếng nhưng họ đã lầm. Cô vẫn sống như một phép lạ. Và từ sự im lặng đó hàng nghìn tiếng nói khác đã cất lên, những sức sống mãnh liệt đầy dũng cảm được ra đời.” Từ vấn đề này, Nhà văn Trịnh Thanh Thủy đưa một cái nhìn trở lại thời kỳ 54-75, ý thức nữ quyền ảnh hưởng thế nào trong tác phẩm của các nhà văn nữ.
  • Bà cho là: “ Những người nữ đã bắt đầu biết sử dụng ngòi viết của mình để bày tỏ lập trường cá nhân. Họ viết và tư duy như một phụ nữ. Ý thức nữ quyền khiến họ nói lên được những quan điểm riêng, và xác định được vị thế cũng như cung cách sống của mình trong xã hội.”, Và “…Họ,tìm kiếm tự do, cố gắng thoát khỏi sự bao vây nhận chìm của cấu trúc quyền lực truyền thống có tính cách bộ tộc, và cả văn hoá Khổng-Nho. Họ, không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Đó là một quan niệm nghệ thuật về con người là sinh vật cô đơn trong một thế giới phi lý..”.
  • Bà diễn giả I, phân tích những tác phẩm của các nhà văn nữ như: Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ… để minh chứng cho lý luận của mình. Cuối cùng bà đưa ra nhận xét:” Sự có mặt của các nhà văn nữ miền Nam VN từ thập niên 54 tới 75 tựa như sự hiện diện của những bông hoa rực rỡ, toả ra một mùi xạ hương rất âm tính, trong khu vườn văn học. Ý thức nữ quyền khi tiềm tàng, lúc sáng chói đã khiến người phụ nữ phải cầm viết. Chính vì văn chương cũng là một vũ khí quan trọng trong công cuộc giải phóng chính mình và giải phóng cho nữ giới nói chung.”
  • Phần ý kiến của cử tọa cho bài nói chuyện của nhà văn Trịnh Thanh Thủy có lẽ là sôi nổi nhất trong buổi hội thảo hôm nay.
  • Cuối chương trình ngày đầu của cuộc hội thảo là bài nói chuyện của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng với chủ đề: “Thơ nhân chứng: Ngọn lửa cuối cùng của tự do”
  • Tiểu sử: Nguyễn Đức Tùng là một Bác sĩ – Nhà văn hiện sống ở Canada. Anh chữa bệnh, làm thơ và viết nghiên cứu phê bình văn học. Đã xuất bản: Thơ đến từ đâu. Sách phỏng vấn 25 nhà thơ. Nhà thơ Nguyễn Đúc Tùng đã mở đầu cho bài nói chuyện của mình như sau:
  • “Trong những hoàn cảnh khắc nghiệt thơ có thể làm được gì?” “Đói khát, chiến tranh, tù đày, vượt biên, tra tấn. cực điểm của lịch sử, tận cùng của số phận và nhân phẩm. Suốt 20 năm, 1954-1975, thơ miền Nam hào hứng mở đường, mê mải làm mới ngôn ngữ, trong khi tạo ra những giá trị không ai có thể nghi ngờ trong gia tài nghệ thuật chung của đất nước, tạo nên một trong những nền thơ lớn nhất của dân tộc nửa sau của thế kỷ XX, thì nó cố tình bỏ quên một điều. Giữa một không khí tự do, bỡ ngỡ, đầy cảm hứng, nhưng tự phát, nền văn học 20 năm ấy, trong khi không ngớt lo âu vì thời cuộc, chiến tranh, thân phận, đã phát triển dựa trên một giả định có tính bắt buộc, rằng những điều kiện tự do sáng tạo của nó lâu dài, vĩnh viễn. Chính là dựa trên giả định ấy mà giá trị căn bản của VHMN đã được thiết lập.”
  • Trong bài nói chuyện của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, ông chú trọng đến khái niệm về thơ:”Giữa thơ trữ tình và chính trị có sự xung khắc lâu dài”; “ Tiếng nói nhà thơ là đơn độc, vì điều kiện sống tản mát, vì họ không có thói quen tập họp lại. Sức mạnh và điểm yếu văn chương của văn chương nằm ở đây”. Đi xa hơn nữa, ông cho rằng: “ Thơ nhân chứng không phải là một bút pháp, mà là một khuynh hướng. Bút pháp của thơ giai đoạn này hầu hết là trữ tình. Vì vậy có thể nói đây là thơ trữ tình nhân chứng.” Và để kết luận, ông viết: “ Thơ nhân chứng chống lại sự hành hạ con người, chống lại khổ đau tăm tối, gợi lên lòng can đảm. Truyền đi cho các thế hệ sau ánh sáng của những ngọn lửa cuối cùng của nó, và vì thế, tất nhiên, không phải là cuối cùng; chúng trở lại. Có ai trong chúng ta cũng muốn ngồi xuống quanh ngọn lửa ấy không? Hết hội thảo ngày thứ nhất (6/12/14). Còn tiếp ngày hội thảo thứ nhì (7/12/14)
  • Đặng Phú Phong  
  • Tng thng Obama: M s đáp tr v Bc Triu Tiên tn công Sony
  •  
  • TT Obama gọi vụ tấn công mạng hãng phim Sony là rất ‘nghiêm trọng’
  • Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố Mỹ sẽ đáp trả “tương thích” vụ tấn công mạng nhắm vào hãng phim Sony Pictures mà Cục Điều tra Liên bang (FBI) nói là do Bắc Triều Tiên thực hiện. Phát biểu trong cuộc họp báo cuối năm thường niên tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Obama nói Sony đã “mắc sai lầm” khi hủy công chiếu bộ phim hài về một âm mưu hư cấu ám sát nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, sau khi những tay tin tặc đe dọa sẽ thực hiện một đợt tấn công nữa. Obama nói ông thông cảm với những lo ngại của Sony, nhưng nói thêm, “Chúng ta không thể có một xã hội mà trong đó một kẻ độc tài ở đâu đó có thể bắt đầu áp đặt kiểm duyệt ở đây.”
  • Tổng thống cũng cho biết không có dấu hiệu nào cho thấy Bắc Triều Tiên cộng tác với những nước khác thực hiện vụ tấn công mạng. Ông cho biết Mỹ sẽ đáp lại vụ tấn công này “theo một cách thức và vào thời điểm mà chúng tôi sẽ lựa chọn.”
  • Trong buổi họp báo, Tổng thống Obama cũng lên tiếng bênh vực những chính sách của ông trong năm qua, nói rằng nền kinh tế Mỹ đang cải thiện và rằng nước Mỹ đang lãnh đạo khắp thế giới. Sau đó, ông trả lời câu hỏi của các nhà báo về một loạt những vấn đề, bao gồm những thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ đối với Cuba, và sắc lệnh hành pháp gây tranh cãi của ông về vấn đề nhập cư, và mối quan hệ của ông với đảng Cộng hòa trong Quốc hội.
  • Thông báo của FBI FBI hôm thứ Sáu lần đầu tiên công khai liên kết Bắc Triều Tiên với vụ tấn công mạng nhắm vào Sony. Bắc Triều Tiên phủ nhận bất kỳ liên hệ nào với vụ tấn công này. FBI nói vụ tấn công “tái khẳng định rằng mối đe dọa trên không gian mạng đề ra một trong những mối nguy về an ninh quốc gia nghiêm trọng nhất đối với Mỹ.”
  • Sao Hollywood lên tiếng *
  • Nhiều ngôi sao Hollywood đã lên Twitter phản đối quyết định của Sony hủy công chiếu bộ phim. Người dẫn chương trình hài Jimmy Kimmel gọi hành động này là “hèn nhát thiếu bản chất Mỹ giúp hợp thức hóa hành động của những khủng bố và đặt ra một tiền lệ đáng sợ.”
  • Nam diễn viên Rob Lowe tuyên bố sự việc này là “chiến thắng hoàn toàn và trọn vẹn” cho tin tặc. Còn diễn viên Steve Carell, có phim đặt bối cảnh ở Bắc Triều Tiên nhưng đã bị hủy bỏ, nói rằng đây là một “ngày buồn cho sự thể hiện sáng tạo.”
  • Sony hôm thứ Tư nói họ đã hủy bỏ kế hoạch phát hành bộ phim “The Interview” vào ngày 25 tháng 12 sau khi nhiều chuỗi rạp lớn từ chối trình chiếu. Sony hiện không có kế hoạch phát hành bộ phim. Một nhóm tin tặc tự xưng là Những Người Bảo vệ Hòa bình trước đó cảnh báo “vận rủi” cho những người tham dự bất kỳ buổi chiếu nào của bộ phim. Nhóm này dọa sẽ mở một cuộc tấn công mạng như những cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 và cảnh báo người dân “tránh xa” những rạp chiếu bộ phim này.
  • 20.12.2014

*

 

NÉT ÐẸP CỦA HOA KỲ, NÉT ÐẸP CỦA NGƯỜI MỶ, NÉT ÐẸP CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI LÀ THẾ ẤY.

SAU 1975 MẤT NƯỚC VIỆT NAM CỌNG HÒA, NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM SỐNG SÓT HỌ VƯỢT BIÊN TÌM TỰ DO KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI.

NHỮNG NGƯỜI VIỆT ÐI ÐẾN ÐÂU XÂY DỰNG ÐẾN ÐÓ. HỌ VUI ÐỜI YÊU NGƯỜI, PHỤC VỤ CHO LỢI ÍCH CHUNG CỦA CỘNG ÐỒNG NHÂN LOẠI.

HỌ LÀ DI SẢN CỦA MỘT NỀN TẢNG CHÍNH TRỊ CÔNG BẰNG TỰ DO NHÂN BẢN NHÂN ÁI CỦA HOA KỲ VÀ CỦA VIỆT NAM CỌNG HÒA.

 

 

Sỉ phu Việt Nam

 

*

 

Y tá Nina Phm khi Ebola, gp tng thng Obama trước khi v nhà

IMG_6962

Ông Obama trao cho cô Nina một cái ôm tại Tòa Bạch Ốc không lâu sau khi cô rời khỏi bệnh viện của Viện Y tế Quốc gia (NIH) bên ngoài thủ đô Washington.

Cập nhật: 24.10.2014 15:27

Y tá Mỹ gốc Việt Nina Phạm đã xuất viện sau khi được chữa khỏi virus Ebola và đã gặp gỡ Tổng thống Barack Obama.

Ông Obama trao cho cô một cái ôm tại Tòa Bạch Ốc không lâu sau khi cô rời khỏi bệnh viện của Viện Y tế Quốc gia (NIH) bên ngoài thủ đô Washington.

Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Josh Earnest nói rằng Tổng thống không hề lo lắng về bất cứ nguy cơ nào khi ôm nữ y tá.

Nina Phạm là y tá tại một bệnh viện ở thành phố Dallas bang Texas, nơi điều trị bệnh nhân đầu tiên được chẩn đoán nhiễm Ebola ở Mỹ. Cô nói với báo giới và những người ủng hộ trong sáng thứ Sáu rằng cô biết ơn về sự phục hồi của mình

Bác sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Các bệnh truyền nhiễm, ôm cô Nina Pham khi cô chuẩn bị rời khỏi NIH.

Bác sĩ Anthony Fauci thuộc NIH hôm thứ Sáu khẳng định nữ y tá gốc Việt đã được chữa khỏi Ebola. Ông cho biết cô không được cấp bất kỳ loại thuốc thử nghiệm nào trong khi điều trị tại NIH và nói chưa rõ vì sao một bệnh nhân Ebola lại hồi phục còn bệnh nhân kia thì chưa. Ông cho biết tuổi trẻ và sức khỏe tốt của cô có thể đã giúp cô đánh bại virus.

Giới chức y tế cho biết nữ y tá Amber Vinson, đồng nghiệp của Nina Phạm đang được điều trị Ebola, không còn virus ở mức có thể nhận biết được. Nhưng họ chưa định ngày để Vinson xuất viện ở Đại học Emory thành phố Atlanta.

Cũng trong ngày thứ Sáu, giới chức y tế thành phố New York cho hay nạn nhân Ebola thứ ba, bác sĩ Craig Spencer, đang trong tình trạng ổn định. Bác sĩ Spencer, vừa trở về Mỹ sau khi chữa trị bệnh nhân Ebola ở Guinea, trở thành người đầu tiên được chẩn đoán nhiễm virus ở thành phố New York vào hôm thứ Năm.

Trong một diễn biến khác hôm thứ Sáu, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết ca nhiễm Ebola đầu tiên của Mali, được xác nhận vào ngày thứ Năm, đã tiếp xúc với nhiều người khi du hành khắp đất nước bằng xe buýt.

Trước đó trong ngày thứ Sáu, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết họ có kế hoạch bào chế hàng trăm ngàn liều vắc-xin Ebola để có sẵn đến nửa đầu năm 2015.

*

 

IMG_7082

*

 

 

Tổng thống Mỹ trao Huy Chương Thiện Nghĩa cho một hội đoàn người Việt

Thursday, December 11, 2014 5:27:01 PM

Ðoàn Nhân Ái

CHICAGO Tuần qua, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Illinois, ông Jesse White, đã nhân danh tổng thống trao tặng Bằng Tưởng Lệ và Huy Chương Thiện Nghĩa của tổng thống Hoa Kỳ cho Phương Ðoàn Nghĩa Sinh Chicago để vinh danh tổ chức nầy đã kiên trì thực hiện các công tác thiện nghĩa bất vụ lợi trên 50 năm qua (1963-2014). Huynh Trưởng Nghĩa Sinh đã đại diện tổ chức Nghĩa Sinh tiếp nhận Bằng Tưởng Lệ và Huy Chương Thiện Nghĩa của tổng thống Hoa Kỳ.

 IMG_7147

Nội dung bằng tưởng thưởng: “Ðể ghi nhận lòng biết ơn, Cơ Quan Phục Vụ Cộng Ðồng và Quốc Gia cùng với Văn Phòng Tổng Thống Hoa Kỳ trân trọng trao tặng Nghĩa Sinh bằng tưởng thưởng của tổng thống để vinh danh kết ước trường kỳ của tổ chức này trong việc xây dựng một quốc gia hùng mạnh hơn qua các công tác thiện nguyện.” Với chữ ký của Tổng Thống Barack Obama.

Với sự bảo trợ của chương trình truyền hình AC-USA TV, buổi lễ trao giải thưởng thiện nghĩa đã được tổ chức tại hội trường khách sạn Sheraton Chicago với sự tham dự của quý tổng lãnh sự Á Châu và trên 300 đại diện cộng đồng Á kiều như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Nam Dương, Pakistan, Mã Lai Á, Lào và Miến Ðiện. Trong số quý vị đại diện cộng đồng người Việt tham dự lễ hội nầy có Ðức Ông Nguyễn Ngọc Hàm, Linh Mục Cao Ðức Duy, Linh Mục Nguyễn Văn Khai, ông Huỳnh Văn Sơn, bà Trần Thị Thanh và ông bà Trần Văn Quý.

Ngoài giải thưởng cho hội đoàn duy nhất năm nay là Nghĩa Sinh còn có giải thưởng cho các cá nhân ưu tú thuộc 11 cộng đồng Á châu trong đó có ông Võ Văn Huế, nguyên chủ tịch Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Chicago và quý đại diện cộng đồng Á Châu sau đây: President’s Award for Organization

NGHIA SINH INTL For 50 years of volunteer service to humanity 1963 – 2013

President’s Award for Individuals

LIFETIME AWARD Ann E. Cho Rev. Aloysius Funtila Santana Khongyai Eugene Kim Lourdes Livas Sam Ma

GOLD AWARD Mohina Ahluwalia Shenila Babool Jennifer Bae Shehzad Bhayani Archawee Dhamavasi Ronny Kular Kevin Ma Lito Pineda Oscar Setiawan Liah Tehan Hue V. Vo

 

 

*

 

 

IMG_7082

Người từ các quốc gia khác vẫn ùn ùn đổ về California
Friday, December 12, 2014 4:24:09 PM

SACRAMENTO, California (Sacbee)Dân số tiểu bang California lên đến gần 38.5 triệu người hồi Tháng Bảy, sau khi có thêm 335,000 trong năm qua, cho thấy mức tăng trưởng 0.9% dù rằng tiếp tục có mức sinh suất thấp, theo các dữ kiện mới nhất của tiểu bang.

IMG_7148

Trong lúc nhiều cư dân đang rời khỏi California thì người từ các quốc gia khác, đặc biệt là Á Châu, lại ùn ùn đổ về tiểu bang này. (Hình: Getty Images)

Hiện có nhiều người dân California rời khỏi tiểu bang hơn là người ở các tiểu bang khác về nơi đây, tuy nhiên người từ các quốc gia khác kéo đến California đã bù đắp hơn cả chỗ sai biệt này.

Bản báo cáo đưa ra hôm Thứ Năm của Bộ Tài Chánh California nói rằng sự gia tăng tự nhiên của dân số tiểu bang, nghĩa là sự sai biệt giữa số người qua đời và số sinh ra, ở vào khoảng 243,000, với số 92,000 còn lại là những người ở nơi khác đến.

Dân số Quận San Benito, ở trung bộ California, tăng 1.48%, cao nhất trong cả tiểu bang. Trong khi đó, quận Modoc County, giáp ranh Nevada và Oregon, giảm 0.72% dân số.

Ðây là lần thứ nhì trong ba năm qua số trẻ sinh ra ở California giảm dưới 500,000. Có 497,000 vụ sinh sản ở California trong thời gian một năm qua, tính đến ngày 1 Tháng Bảy năm 2014 và 497,000 trẻ trong năm chấm dứt ngày 1 Tháng Bảy 2012. Lần cuối cùng con số này vượt hơn 500,000 là vào năm 1987.

Bản báo cáo đưa ra hôm Thứ Năm nói rằng sự sút giảm về sinh suất cũng một phần là do có ít hơn số bà mẹ trong tuổi vị thành niên. (V.Giang)

 

IMG_5661

*

 

 

HOA KỲ KHÔNG CẦN ÐƯA BỘ BINH VÀO ÐÁNH QUÂN IS LÀ MỘT QUYET DINH KHÔN NGOAN . HOA KỲ CHỈ CẦN YỂM TRỢ KHÔNG QUÂN OANH KÍCH LÀ QÚA ÐỦ ÐỂ THÀNH CÔNG .

KINH NGHIỆM SAU CHIẾN TRANH VIỆT NAM TỨC LÀ SAU 1975 CÁN BỘ CỌNG SẢN BĂC VIỆT NAM ÐÃ TỪNG THỔ LỘ CHO BIẾT LÀ NẾU HOA KỲ TRONG ÐỢT OANH KÍCH HÀNỘI LẦN CUỐI CÙNG MÀ CHỈ CẦN HOA KỲ OANH KÍCH KÉO DÀI THÊM MỘT TUẦN LỂ NỮA LÀ HÀ NỘI BUỘC PHẢI XIN ÐẦU HÀNG VÌ KHÔNG CÁCH GÌ CHIỤ NỔI HỎA LỰC LÂU DÀI CỦA KHÔNG QUÂN MỶ.

DO VẬY ƯU THẾ KHÔNG QUÂN CỦA HOA KỲ NGÀY NAY LÀ VÔ CÙNG QUAN TRỌNG VÀ VÔ CÙNG HIỆU QỦA.

CẦN TẠO DƯ LUẬN THUẬN TIỆN THẾ GIỚI VÀ HOA KỲ OANH KỈCH VỪA ÐỦ KÉO DÀI CỞ 3 HAY 6 THÁNG LÀ XONG NHIỆM VỤ.

SAU ÐÓ CÒN LẠI NHỮNG TRẬN ÐÁNH NHỎ DU KÍCH TRÊN BỘ GIỮA HAI PHE GỒM CHÍNH QUYỀN IRAQ VÀ QUÂN YẾU ỚT CỦA IS.

CUỘC CHIẾN NHỎ ẤY SẼ KÉO DÀI LẺ THÊ NĂM NÀY QUA NĂM KHÁC LÀ CHUYỆN THƯỜNG VÌ GIÀNH GIẬT QUYỀN LỢI LÀ BẢN CHẤT CỦA HỌ.

 

 

Sỉ phu Việt nam

IMG_6165

Chuyên gia Trần Cư

 

*

Hoa Kỳ không đưa bộ binh vào Iraq đánh IS

Wednesday, September 17, 2014 10:24:40 AM

TAMPA, Florida (AP) Tổng Thống Obama tuyên bố quân lực Hoa Kỳ “không và sẽ không” có sứ mạng chiến đấu chống lực lượng chiến binh quá khích của Nhà Nước Hồi Giáo IS ở Iraq.

 IMG_6625Tổng Thống Obama dự buổi thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Trung Tâm quân lực Hoa Kỳ, tại Tampa, Florida hôm Thứ Tư, ngồi giữa Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel, trái, và tướng Lloyd J. Austin III, Tư Lệnh CentCom. (Hình: AP/Pablo Martinez Monsivais)

Ông xác định như vậy sau khi tham dự buổi thuyết trình của các  giới chức lãnh đạo quân sự tại Bộ Tư Lệnh Trung Tâm ở Tampa, Florida, cơ quan trách nhiệm những hoạt động quân sự vùng Trung Đông.

Tổng Thống Obama nhấn mạnh thêm rằng trong nỗ lực chống IS, Hoa Kỳ không hành động đơn phương mà sẽ có một liên minh rộng rãi trợ giúp bằng những cuộc oanh kích không quân và huấn luyện các lực lượng quân đội địa phương.

Hôm Thứ Ba một tướng lãnh cao cấp Mỹ nói rằng có thể cần tới quân bộ chiến Mỹ nếu chiến dịch không quân không đem lại kết quả.

Trong khi đó tân Thủ Tướng Iraq Haider al-Abadi trong cuộc phỏng vấn đầu tiên với thông tấn xã AP hôm Thứ Tư nói rằng chiến dịch không kích của Hoa Kỳ đang giúp đẩy lui các chiến binh Hồi Giáo Sunni quá khích và kêu gọi quốc tế tham gia dánh vào sào huyệt của IS ở Syria.

Thủ Tướng al-Abadi bác bỏ ý kiến cho rằng cần đến quân đội Mỹ hay các nước khác trong chiến dịch này. Ông khẳng định: “Quân bộ chiến ngoại quốc không những là không cần thiết mà chúng tôi không muốn và không cho phép”.  (HC)
*

IMG_5661

 

 

*

Phim Tài Liệu Rory Kennedy Kể Về Di Tản Đồng Minh Ở Việt Nam

23/09/2014

Share on facebook

WASHINGTON – Nhà làm phim Rory Kennedy đã làm 1 phép lạ nhỏ, là tìm thấy tài liệu mới và đồng cảm về những ngày cuối của chiến cuộc Vietnam, là chuyện dũng cảm và đau lòng trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử Hoa Kỳ – với những thuớc phim chưa bao giờ công bố, phim tài liệu “Last Days in Vietnam” kể chuyện về các nhà ngoại giao và quân nhân Hoa Kỳ đã bất chấp lệnh thượng cấp để phối hợp cuộc di tản đồng minh Vietnam trong những giờ phút trước lúc Saigon thất thủ.

Bà tuyên bố trong 1 cuộc phỏng vấn của “Politics Confidential”: Washington ra lệnh gấp rút di tản công dân Hoa Kỳ trong lúc tình hình biến chuyển quá nhanh, nhưng 1 số viên chức Hoa Kỳ tại Saigon nói là không nhanh lắm – nếu bỏ lại những người bạn Vietnam, đồng minh, chiến hữu của chúng ta, họ sẽ bị giết, bị tra tấn. Bà tin rằng rất ít người biết chuyện này, là 1 chuyện khác thường.

Trong lúc cuộc di tản công dân Hoa Kỳ diễn ra tại toà ĐS, phi công Vietnam tự giải quyết, chiếm trức thăng, đưa thân nhân lên trực thăng Huey, dù không biết sẽ bay đi đâu, đến đâu hạ cánh, có thể chết ngoài biển – 1 số trực thăng không còn nhiều nhiên liệu. Nhiều trực thăng bay ra tàu USS Kirk – dù không thể biết chắc bạn thù, sĩ quan của tàu ISS Kirk cho phép hạ cánh, tiếp nhận hành khách như dân tị nạn và đẩy trực thăng xuống biển.

Khó khăn với thủy thủ đoàn tàu Kirk là khi 1 trực thăng lớn bay đến gần, phải xua đuổi vì không có lựa chọn nào khác. Phi công của chiếc trực thăng ấy bay theo ở độ thấp khoảng 18 feet, ném thân nhân xuống sân tàu Kirk, gồm những đưá trẻ 8 tháng, 2 tuổi và 5 tuổi. Thủy thủ Hoa Kỳ đón đỡ. Sau cùng, viên phi công cởi bỏ y phục phi hành, nhảy xuống biển.

Phim tài liệu của Rory Kennedy cũng nói tới khoảng 420 người chờ di tản tại toà ĐS Hoa Kỳ bị bỏ lại mà bà tin sẽ bị tù, bị đánh đập – bà nói “Đó là kết thúc thảm kịch mà phim không theo đuổi, thực sự là giờ phút bỏ rơi đồng minh”.

 

*

Cháu Tổng Thống Kennedy Làm Phim ‘Ngày Cuối Ở Việt Nam’; Bình Luận Gia Jack Coleman: Phe Tả Qua Phim Này Thú Nhận Rằng Sài Gòn Sụp Đô Vì Mỹ Lui…

18/09/2014

Share on facebook

NEW YORK (VB) — Nhận định về cuốn phim “Last Days in Vietnam.” (Những Ngày Cuối Tại Việt Nam) nhà bình luận Jack Coleman trên mạng NewsBusters nói rằng phim tài liệu về những ngày cuối của Cuộc Chiến VN là lời tự thú muộn màng của trí thức cánh tả Hoa Kỳ: Đạo diễn Rory Kennedy qua phim này nói rằng Việt?Nam sụp đổ vì Hoa Kỳ rút lui.

Rory Kennedy, được ghi nhận trên bản tin Boston Globe, là con út của Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy, người bị ám sát khi tranh cử Tổng Thống?Mỹ năm 1968, cô đã trưởng thành trong bầu không khí phản chiến.

Năm nay 45 tuổi, cô Rory Kennedy đã đao diễn nhiều phim tài liệu, nhiều chủ đề về vấn đề xã hội, từ AIDS tới nhà tù Abu Ghraib.

Trong phim tài liệu về những ngày cuối của Cuộc Chiến VN, bên cạnh các đoạn phim tài liệu từ văn khố, cô đã phỏng vấn nhiều người liên hệ tới ngày 30-4-1975.

Binh Pho, vào ngày 30-4-1975 là người rớt lại trên mái lầu tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Anh sinh viên Binh Pho lúc đó 19 tuổi, sau đó bị quân CSVN bỏ tù, nhưng rồi anh ra và vượt biên năm 1978. Năm 1979, Binh Pho sang Mỹ định cư, bây giờ sống ở Chicago, nơi anh hành nghề họa sĩ.

Binh Pho nói: “Tôi phải nói rằng xem phim này rất xúc động.” Cho tới khi xem phim tài liệu này, anh nói, anh không biết tại sao anh không được trực thăng cứu, dù anh đã chờ ở mái nhà tòa đại sứ Mỹ. Anh nói, “Tôi nghe đồn rằng một trực thăng bị bắn rớt. Nhưng bây giờ biết rằng chuyến bay hủy bỏ vì phi công mệt tới nổi ngủ gục trong khi bay.”

Phim này đã chiếu từ Thứ Sáu tuần qua ở nhiều nơi. Kịp thời để năm 2015, tất cả những người Việt?Nam toàn cầu và cả người Mỹ có thể suy nghĩ về thời điểm Miền Nam VN sụp đổ 1975, vừa tròn 40 năm.

Bình luận gia Jack Coleman nói rằng qua ngôn ngữ của đạo diễn Rory Kennedy trên chương trình “The Daily Show” tuần qua, đây là lời tự thú muộn màng của cánh tả Hoa Kỳ, rằng đạo diễn Rory Kennedy nói rằng Sài Gòn sụp đổ vì Mỹ rút lui.

Trong những người trả lời phỏng vấn trên phim này có Đại sứ Graham Martin, một trong vài người đã từ trần trước khi phim này chiếu; bản thân Martin có gắn bó với cuôc chiến: con trai riêng của vợ ông đã tử trận tại VN.

Martin cũng liều thân ở lại để giúp đưa những người VN cần di tản: tới 3:45 giờ sáng vào đêm Sài Gòn sụp đổ, Martin mới rời Sài Gòn vì nhận lệnh từ Tổng Thống?Mỹ, đều mà không người Mỹ nào từ chối được.

Rory Kennedy nói trên tạp chí LAmag.com rằng bà quay phim này trung dung, không thiên lệch chính trị, chỉ kể lại sự kiện, tất cả đều kể trực tiếp từ người trong cuộc. Bà nói: “Chúng ta không muốn xem xét lại Cuộc Chiến VN, nhưng chúng ta cần phải xem xét để không lập lại các sai lầm. Quan trọng là phải xem xét các chuyện này.”

Trong khi đó, bản tin VOA ghi nhận về phim này rằng bộ phim tư liệu về những ngày cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam do cháu gái cố Tổng thống John F. Kennedy viết kịch bản, sản xuất, và đạo diễn sẽ được công chiếu rộng rãi ở Mỹ từ thứ sáu tuần này.

Bộ phim nhan đề ‘Những ngày cuối cùng ở Việt Nam’ của nhà làm phim tư liệu Rory Kennedy nói về cuộc chiến Việt Nam và những bài học kinh nghiệm cho người Mỹ từ cuộc chiến này. Tác giả Kennedy hy vọng qua bộ phim này, người Mỹ sẽ lưu tâm đến bài học từ cuộc chiến Việt Nam nhất là trong thời điểm này với các cuộc chiến mà Hoa Kỳ đang tham gia, đặc biệt ở Iraq và Syria.

Cháu gái cố Tổng thống Kennedy nói bộ phim sẽ giúp người Mỹ tự vấn và trả lời các câu hỏi rằng với cuộc chiến chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo ISIS ở Syria và Iraq hiện nay, liệu Mỹ có nên bước vào tham chiến và sách lược thoát ra các cuộc chiến đó như thế nào để là một kết thúc có hậu.

Theo tác giả, bước vào chiến tranh vốn là một quyết định khó khăn, nhưng cách bước ra cũng quan trọng không kém.

Quan điểm này được Giáo sư Luật Kinh tế Quốc tế, Lan Cao, thuộc đại học Chapman, bang California (Hoa Kỳ) tán đồng. Bà vừa phát hành quyển sách bằng Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam nhan đề ‘Hoa sen và Bão tố’, thể hiện một lời trách móc về chính sách quân sự-chính trị của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam và những dư âm để lại cho nhiều thế hệ.

Con gái của Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa, cố đại tướng Cao Văn Viên, chia sẻ với VOA Việt ngữ: “Một khi đã bước vào thì cách đi ra cũng rất quan trọng, không thể ‘vắt chanh bỏ vỏ’, và đừng nên dùng các nước nhỏ như một con cờ.

Các nước nhỏ khác hiện nay nhìn vào cuộc chiến Việt Nam cũng suy nghĩ rằng làm đồng minh với Mỹ rồi sẽ có lúc bị bỏ rơi, sẽ bị kẻ thù còn lại ngay trong nước đánh.” Sau khi được trình chiếu tại Lễ Hội Điện Ảnh Sundance hồi đầu năm nay, phim tài liệu ‘Những ngày cuối ở Việt Nam’ được American Experience Films mua bản quyền phát hành và công chiếu ra rạp không bao lâu trước thời điểm đánh dấu 40 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Bộ phim được đánh giá đã góp phần đáng kể vào kho tư liệu về lịch sử chiến tranh Việt Nam. Đa số những người được phỏng vấn trong bộ phim là các giới chức quân sự Mỹ cắn rứt lương tâm vì kết cục của chiến tranh Việt Nam. VOA ghi thêm: “Đạo diễn Rory Kennedy là con gái út của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy, em ruột cố Tổng thống John Kennedy.”

*

IMG_5701

*

 

THẾ GIỚI NHÌN ÐỂ SO SÁNH TÍNH CÁCH DÂN CHỦ NHÂN BẢN ƯU VIỆT CỦA CÔNG TÁC CẢI CÁCH ÐIỀN ÐỊA và người cày có ruộng VĂN MINH CỦA VIỆT NAM CỌNG HÒA TRƯỚC ÐÂY Ở MIỀN NAM VIỆT NAM.

VÀ TRÒ HÈN HẠ KHỦNG BỐ CƯỚP ÐẤT GIẾT CHẾT 172,008 NGƯỜI CỦA ÐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM ÐÊ HÈN VÔ HỌC TRONG CÁI GỌI LÀ CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TRƯỚC ÐÂY MÀ PHÁT NGÁN KINH TỞM CHO CỌNG SẢN.

NGÀY NAY BỌN CHÚNG 175 ÐỨA UỶ VIÊN CỌNG SẢN VIỆT CÒN TRƠ MẶT TIẾP TỤC HÚT MÁU CƯỚP ÐẤT DÂN TRÊN TOÀN VIỆT NAM ÐEM BÁN BẠC TỶ ÐÔ LA BỎ TÚI RIÊNG PHE NHÓM.

*

CỦA CESAR PHẢI TRẢ VỀ CESAR.TỊCH THU TÀI SẢN 110 TƯ BẢN ÐỎ GIA ÐÌNH CỌNG SẢN.

HẢY MỞ MẮT MÀ XEM LÀN SÓNG 85 TRIỆU DÂN VIỆT ÐỨNG DẬY TƯÓC ÐOẠT KẺ TƯỚC ÐOẠT TRONG NHỮNG NGÀY SẮP TỚI TẠI VIỆT NAM

*

IMG_6165

Sỉ phu Việt nam

https://siphuvietnam.wordpress.com

 

*

Cải cách điền địa ở Việt Nam Cọng a ra sao?

Nguyễn Quang Duy Gửi tới BBC từ Úc

IMG_6684

Ông Ngô Đình Diệm đã tiến hành cải cách nông thôn khi còn làm Thủ tướng

Trong khi miền Bắc phóng tay Cải cách Ruộng đất tiêu diệt tầng lớp địa chủ thì chính quyền miền Nam liên tục tiến hành tư hữu hoá đất đai, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đời sống nông dân.

Qua việc thu mua đất từ các điền chủ rồi bán lại hay phát cho nông dân, trước năm 1975 mọi gia đình nông dân miền Nam đều đã thật sự làm chủ mảnh đất tư hữu của mình.

Chương trình Người Cày Có Ruộng (NCCR) là một cuộc cách mạng xã hội, thay đổi tận gốc rễ nông thôn miền Nam.

Chương trình được thực hiện trong ôn hòa, dựa trên tinh thần thượng tôn luật pháp, hoà giải và hòa hợp xã hội. Một mặt tôn trọng quyền lợi của chủ đất, khôi phục và bảo vệ quyền tư hữu đất đai. Mặt khác giúp tòan thể nông dân có ruộng cày.

Thành công một phần nhờ vào sự đóng góp của Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh.

Nhưng chính yếu vẫn là từ hai vị lãnh đạo miền Nam: Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện chương trình ngay khi về nước và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết tâm nối tiếp thực hiện chương trình.

Ông Thiệu hiểu rõ Luật NCCR không phải chỉ là thành quả của nền dân chủ nghị viện non trẻ, mà còn là một chính sách mang lại chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

Những tài liệu phổ biến gần đây cho thấy, sau Mậu Thân 1968 số thanh niên miền Nam theo cộng sản càng ngày càng ít đi, không đủ bổ xung số cán binh cộng sản ra hồi chánh, lên đến trên 200.000 người.

Chính vì lý do này cộng sản Bắc Việt đã phải mang quân chính quy từ miền Bắc vượt biên giới xâm lấn miền Nam.

Tình hình ruộng đất miền Nam

Khi quân Pháp xâm chiếm nước ta, miền Nam vẫn còn nhiều vùng chưa được khẩn hoang, nhiều vùng vì chiến tranh nông dân đã phải bỏ ruộng vườn.

Lợi dụng cơ hội một số người Pháp và người theo Pháp đã chiếm, rồi thông đồng với nhà cầm quyền Pháp hợp thức hóa quyền sở hữu đất đai họ chiếm được. Trước 1945, theo ước tính trong số 6.530 đại điền chủ (trên 50 ha đất) có 6.316 là ở miền Nam.

Miền Nam không xảy ra Cải cách Ruộng đất, không có nghĩa là cộng sản miền Nam nhân đạo hơn cộng sản miền Bắc.

Từ cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940, cộng sản đã thẳng tay tàn sát tiêu diệt giai cấp điền chủ. Các sử liệu cộng sản tóm tắc việc này như sau: “…lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu đất thóc gạo của địa chủ chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân.”

Khi Việt Minh cướp được chính quyền năm 1945, hầu hết các đại điền chủ đều bỏ ruộng vườn về sống tại Sài Gòn hoặc các thành phố lớn. Việt Minh tịch thu ruộng đất rồi chia cho tá điền canh tác và lấy thuế.

Ở các vùng thuộc Hòa Hảo và Cao Đài, nông dân cũng tự thực hiện việc chia lại ruộng đất hoặc chấm dứt nộp địa tô cho ruộng vườn mà họ đang trồng cấy.

Sắc lệnh Cải cách Điền Địa của Cựu Hoàng Bảo Đại vì chiến tranh và thiếu thực quyền nên không mang lại kết quả cụ thể

Năm 1949, khi người Pháp bắt đầu trao trả độc lập Cựu Hoàng Bảo Đại cho ban hành sắc lệnh về Cải cách Điền Địa (CCĐĐ), nhưng vì chiến tranh và thiếu thực quyền nên sắc lệnh này không mang lại kết quả cụ thể nào.

Sau hiệp định đình chiến Genève chia đôi đất nước, miền Nam đã trải qua hai cuộc CCĐĐ và một số chính sách về ruộng đất.

Cải cách điền địa lần một

Bước đầu của chính sách cải cách điền địa, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho ban hành Dụ số 2 và Dụ số 7 nhằm thiết thiết lập quy chế tá canh.

Địa tô được tính không quá 25% vụ lúa thu hoạch chánh. Thời gian cho thuê được quy định là 5 năm. Tá điền và điền chủ có thể xin hủy bỏ họăc tái ký hợp đồng.

Trường hợp ruộng đất bị bỏ hoang, ước lượng 500 ngàn ha, thì thuộc quyền sở hữu quốc gia. Chính quyền thu và cấp phát không cho tá điền.

Các tá điền trước đây theo Việt Minh được tiếp tục canh tác trên mảnh ruộng do Việt Minh cấp phát trong thời chiến. Địa tô và quyền tá canh nay được chính phủ nhìn nhận và bảo đảm.

Ngày 22-10-1956, Tổng thống Ngô Ðình Diệm cho ban hành Dụ số 57, tiến hành Chính sách CCĐĐ.

Mỗi điền chủ chỉ được quyền giữ tối đa 100 ha ruộng, trong số nầy 30 ha được phép trực canh, còn 70 ha phải cho tá điền thuê theo đúng quy chế tá canh.

Ðiền chủ bị truất hữu được chính phủ bồi thuờng thiệt hại: 10% trị giá ruộng đất bị truất hữu đuợc trả ngay bằng tiền mặt, phần còn lại được trả bằng trái phiếu trong thời hạn 12 năm, với lãi suất là 3% mỗi năm.

Ruộng bị truất hữu được bán lại cho các tá điền, mỗi gia đình được quyền mua lại tối đa 5 ha và phải trả cho nhà nước trong vòng 12 năm.

Giá tiền bán bằng với giá Chính phủ trả cho chủ điền. Như vậy chủ yếu Chính phủ chỉ làm trung gian trong việc chuyển nhượng quyền tư hữu đất đai.

Chiếu theo Dụ số 57, chính phủ truất hữu 430.319 ha đất từ 1.085 đại điền chủ.

Một số ruộng truất hữu cũng được bán cho các cựu chiến binh, những nông dân trốn Việt Minh nay hồi hương và đồng bào miền Bắc di cư vào Nam

Ngày 11-9-1958, Chính phủ còn ký kết Hiệp định Việt Pháp, truất hữu thêm 220.813 ha ruộng đất của Pháp kiều. Như vậy tổng số diện tích đất đai được truất hữu là 651.182 ha.

Số ruộng được truất hữu được giao cho 123.198 tá điền. Ngoài ra còn có 2.857 tá điền khác đã trực tiếp mua lại đất của các đại điền chủ.

Một số ruộng truất hữu cũng được bán cho các cựu chiến binh, những nông dân trốn Việt Minh nay hồi hương và đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.

Giới điền chủ đều ủng hộ chính sách CCĐĐ. Trong thời chiến ruộng đất của họ bị xem như đã mất.

Nay chính phủ khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thuờng thiệt hại nếu bị truất hữu. Đại điền chủ vẫn còn được giữ lại 100 ha.

Các chính sách khác

Nhằm giải quyết công ăn việc làm cho đồng bào miền Bắc di cư, giải quyết nạn thất nghiệp hậu chiến và đồng thời cũng để cô lập họat động du kích cộng sản, Tổng thống Ngô đình Diệm còn thực hiện chính sách xây dựng các khu dinh điền, khu trù mật và các ấp chiến lược.

Đến năm 1961, chính phủ đã thành lập 169 trung tâm tái định cư, với 25 Khu Trù Mật tập trung trên đồng bằng sông Cửu Long, tiếp nhận 50 ngàn gia đình, với 250 ngàn người tái định cư. Diện tích đất trồng được khai hoang hay được tái canh đạt 109.379 ha.

Tháng 4-1957, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho nông dân vay tiền một cách dễ dàng, nhẹ lãi và không đòi hỏi thế chấp hay người bảo lãnh.

Đến năm 1963, Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã cho vay số tiền lên đến 4 tỷ 600 triệu đồng, 85% số tiền để giúp các tiểu điền chủ hay tá điền. Nhưng vì không có thế chấp và vì chiến tranh nên rất ít nông dân chịu trả nợ.

Chính phủ cũng đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẫn, giúp đỡ kỹ thuật cho nông dân. Nhờ đó năng suất lúa đã tăng từ 1,4 tấn/ha trong những năm 1950-1954, lên đến 2 tấn/ha năm 1960-1963.

Thành quả và giới hạn

Nhờ các chính sách nói trên, việc sản xuất, xuất cảng và lợi tức nông nghiệp đã không ngừng gia tăng. Từ năm 1955 đến 1962, mức sản xuất gạo đã tăng từ 2,8 triệu tấn đến 5 triệu tấn, còn xuất cảng tăng từ 70 ngàn tấn lên đến 323 ngàn tấn.

Các điền chủ có ruộng đất truất hữu nhận các các khỏan bồi thường lớn, họ đầu tư xây dựng các nhà máy, các phân xưởng tại nông thôn, hay trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. Nhờ đó không chỉ riêng nông thôn, mà tòan miền Nam sống trong cảnh thái bình.

Giới hạn của chính sách CCĐĐ là 74% tổng số diện tích ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thuộc 65.757 trung điền chủ (từ 5 đến 50 ha) và 6.316 đại điền chủ (trên 50 ha). Vẫn còn 795.480 gia đình nông dân chưa được làm chủ mảnh ruộng đang cày.

Khi đời sống nông dân nâng cao thì ảnh hưởng của cộng sản cũng bị giảm sút. Để tồn tại cộng sản đã tiến hành bạo lực chính trị ám sát, bắt và thủ tiêu cán bộ và chuyên viên phát triển nông thôn.

Cộng sản cấm tá điền làm đơn xin mua ruộng đất truất hữu, cấm tá điền ký hợp đồng với chủ điền, buộc điền chủ hủy bỏ địa tô. Một số ngừơi đã bị giết vì không tuân theo các lệnh cấm nói trên.

Từ sau đảo chánh 1/11 năm 1963 cho đến năm 1965, các chính phủ thường xuyên thay đổi, chính sách Cải cách Điền Địa không được tiếp tục, dinh điền và khu trù mật cũng bị đình chỉ, nhiều ấp chiến lược bị phá bỏ

Cùng lúc cộng sản cho trưng thu thóc lúa của nông dân, tiến hành chiến tranh du kích, khủng bố phá họai làng xã miền Nam.

Sau đảo chánh 1/11 năm 1963 cho đến năm 1965, các vụ đảo chánh liên tục xảy ra, các chính phủ thường xuyên thay đổi. Chính sách CCĐĐ không được tiếp tục. Chính sách dinh điền và khu trù mật cũng bị đình chỉ. Nhiều ấp chiến lược bị phá bỏ.

Cộng sản lợi dụng tình thế đưa cán bộ và quân đội từ miền Bắc vào gia tăng họat động. Sẵn cơ sở hạ tầng rộng rãi chỉ sau một thời gian ngắn cộng sản đã kiểm sóat được một phần nông thôn. Ở những vùng chiếm được cộng sản chia lại ruộng đất cho nông dân.

Đến năm 1965, với sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh, an ninh tại nông thôn dần dần được vãn hồi.

Ngày 3-9-1966, Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra. Ngày 1-4-1967, Hiến Pháp mới được ban hành. Ngày 3-9-1967 cuộc tổng tuyển cử tổng thống và Quốc hội diễn ra, Tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống của nền Ðệ nhị cộng hòa ra quyết định tiếp tục áp dụng Chương Trình CCĐĐ.

Cải cách điền địa lần hai

Cuộc tổng công kích Mậu Thân cộng sản thất bại, tại nông thôn cơ sở hạ tầng cộng sản bị cô lập, an ninh được vãn hồi. Số ruộng trước đây bị bỏ hoang nay được cấp phát cho nông dân.

Đến năm 1969, có thêm 261.874 gia đình được cấp ruộng để canh tác, nâng tổng số người có ruộng lên 438,004 người.

Tháng 7-1969, Chương trình bình định và phát triển nông thôn được tiến hành. Chính phủ cho tổ chức lại cơ cấu hạ tầng nông thôn và đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẩn, giúp đỡ kỹ thuật nông nghiệp cho dân.

IMG_6687

Ngày 25-8-1969, Tổng Thống Thiệu đưa dự luật Người Cày Có Ruộng ra quốc hội thảo luận.

Điểm chính của dự luật là giảm số ruộng đất tối đa điền chủ xuống còn 15 ha, trưng thu và cấp (không bồi hoàn) cho hơn tãm trăm ngàn nông dân chưa có ruộng cày.

Chiến tranh đã tàn phá miền Nam Việt Nam

Nhiều dân biểu nghị sĩ thuộc tầng lớp đại điền chủ không muốn bị truất hữu ruộng đất nên đã tìm cách ngăn cản thông qua dự luật. Mãi đến ngày 6-3-1970 đạo luật mới được Thượng viện thông qua. Ngày 16-3-1970 được Hạ viện thông qua.

Ngày 26-3-1970, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành luật Người Cày Có Ruộng (NCCR) và lấy ngày này làm Ngày Nông Dân.

Tại Cần Thơ vào ngày 26-3-1970, ngày ban hành Luật NCCR Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố:

“Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi.” Ông cho biết: “Tôi đã từng tham gia Việt Minh. Tôi biết rằng Việt Minh là cộng sản, họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai”.

Các ruộng đất không được trực canh bị truất hữu phát cho các tá điền đang canh tác. Mỗi tá điền được phát 3 ha ở Nam phần hay 1 ha ở Trung phần.

Điền chủ trực canh được giữ lại tối đa 15 ha.

Đất truất hữu được trả 20% bằng hiện kim và 80% bằng công khố phiếu với 10% lãi trong tám năm. Giá trị của đất ruộng quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc (hay lợi tức) từ khoảnh đất đó.

Trong vòng 3 năm, 1970-1973, đã có 51.704 điền chủ bị truất hữu tổng số ruộng là 770.105 mẫu. Trong thời chiến đa số ruộng đất bị ảnh hưởng, nên đa số các điền chủ bị truất hữu đều không bất mãn.

Để đền đáp chính phủ cho phổ biến rộng rãi các bích chương: “Người Cày có ruộng ghi ơn tinh thần hy sinh của điền chủ.”

Nhìn chung ông Thiệu thu phục được nhân tâm của giới cựu điền chủ miền Nam.

Luật NCCR cũng quy định nông dân lãnh ruộng do cộng sản cấp cũng được nhận bằng khoán chính thức sở hữu số ruộng.

Cho đến ngày 28-2-1973 Chương trình CCRĐ coi như đã hòan tất. Đã có 858.821 tá điền được hữu sản hóa 1.003.323 ha ruộng đất. Mọi nông dân miền Nam đều có ruộng cày.

Chương trình NCCR đã tạo ra một tầng lớp tiểu và trung điền chủ lên đến 1,3 triệu người.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (trái) công bố luật Người Cày Có Ruộng

Chỉ còn chừng 10% là có từ 5-15 ha đất, với 10% diện tích trồng trọt và họ cũng phải tự chăm sóc cho đất đai. Đại điền chủ không còn và việc tá canh coi như đã chấm dứt.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, thêm cán bộ xây dựng nông thôn, khuyến khích nghiên cứu và áp dụng phương pháp canh tác mới với kỹ thuật mới thúc đẩy gia tăng năng suất.

Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn được thành lập. Với bằng khóan đất, nông dân được vay lãi nhẹ để đầu tư sản xuất.

Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp được đưa về nông thôn. Nông dân bắt đầu trang bị cơ giới để canh tác, sử dụng phân bón hóa học, cải tiến giống lúa, trồng lúa Thần Nông, tăng gia sản xuất gia súc lai giống… Cơ sở hạ tầng phát triển nông dân hăng say học hỏi và sản xuất.

Năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Năm 1974, sản lượng gạo sản xuất đã tăng đến 7,2 triệu tấn với viễn tượng xuất cảng. Nhờ đó đời sống của nông dân được cải thiện một cách rõ ràng.

Số điền chủ có ruộng bị truất hữu, cũng được chính phủ giúp đỡ sử dụng vốn kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, dịch vụ lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, dịch vụ chế biến thực phẩm nông sản, hướng đến việc xuất cảng bán thành phẩm nông nghiệp, giúp nền kỹ nghệ miền Nam khởi sắc đóng góp xây dựng nền kinh tế quốc gia.

Thể chế đi ngược lòng dân rồi cũng sẽ bị thay đổi. Bài học từ Chương trình Người Cày Có Ruộng của Việt Nam Cộng Hòa là phải trao lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.

Chính phủ tương lai ở Việt Nam cần thực hiện chương trình bán trả góp đất cho dân để có ngân sách đầu tư xây dựng lại nông thôn.

Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân sẽ luôn là tầng lớp chính của dân tộc Việt Nam và lịch sử đã chứng minh họ luôn là nền tảng trong việc bảo vệ và xây dựng quốc gia. Nông dân có giàu thì nước mới mạnh.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn riêng của tác giả Nguyễn Quang Duy từ Canberra, Úc.

*

IMG_5889

Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại chùa Phước Thành, Thừa Thiên – Huế

 *

IMG_6352

Phước Khánh – Hôm nay 17/8/2014 tại Chùa Phước Thành-Thừa Thiên Huế, Tăng Đoàn GHPGVNTN gồm Hòa Thượng Thích Chí Thắng, Hòa Thượng Thích Chơn Niệm và Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam (Hòa Thượng Thích Không Tánh và Linh Mục Phero Phan Văn Lợi) đã cùng tổ chức buổi tri ân và tặng quà cho hơn 60 phần quà cho các quý anh thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, mỗi phần quà gồm 1 bì thư 500 ngàn và 10 kg gạo (120 ngàn).

Được biết số quà này là của quý ân nhân gia đình Cựu Quân Nhân VANCOUVER- CANADA và hội COMPASSION của bác sĩ Phan Minh Hiển gửi về giúp đỡ cho thương phế binh ở Thừa Thiên, Huế trong dịp lễ Vu Lan Báo Hiếu Phật Lịch 2558 năm nay.

Trước khi phát phần quà này cho quý bác thương phế binh, Hòa Thượng Thích Chí Thắng viện chủ chùa Phước Thành đã mời quý anh em thương phế binh và thân nhân dùng bữa cơm chay thân mật, để chung vui trong ngày gặp gỡ hôm nay.

Dưới đây là một số hình ảnh của buổi tri ân anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, xin gửi đến quý ân nhân và Phật tử buổi tri ân đó.

IMG_6353IMG_6354

Toàn cảnh buổi tri ân và tặng quà

IMG_6355

Phái đoàn nói chuyện với anh em TPB trước khi tặng quà

IMG_6356

Nhiều người mất cả đôi mắt của mình

IMG_6357

và một phần thân thể

IMG_6358

Hòa thượng Thích Chí Thắng động viên thăm hỏi anh em TPB

IMG_6359

Thượng tọa Thích Chơn Niệm đọc tên các anh em TPB

IMG_6360

Hòa thượng Thích Từ Hân thăm hỏi anh em TPB

IMG_6361

Linh mục Phan Văn Lợi thăm hỏi và tặng quà 

IMG_6362

Hòa thượng Thích Chí Thắng tặng quà 

IMG_6363

Hoà thượng Thích Không Tánh cùng với một TPB

IMG_6364

và nụ cười vẫn nở trên môimôi

Phước Khánh

danlambaovn.blogspot.com

| 8/19/2014

*

IMG_5661

 

*

HỘI ÐỒNG THÀNH PHỐ Garden Grove ủng hộ chế tài CỌNG SẢN VIỆT NAM  vi phạm nhân quyền

Tuesday, August 12, 2014 10:15:39 PM

Linh Nguyễn/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV)Tất cả năm thành viên Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove vừa bỏ phiếu thuận một nghị quyết ủng hộ Dự Luật Chế Tài Giới Chức CSVN Vi Phạm Nhân Quyền, HR4254, do Dân Biểu Ed Royce giới thiệu, qua yêu cầu của Giám Sát Viên Orange County Janet Nguyễn, trong phiên họp thường kỳ tối Thứ Ba, 12 Tháng Tám.

Như vậy, Garden Grove là thành phố đầu tiên ở Hoa Kỳ thông qua nghị quyết ủng hộ HR4254.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn trước lúc phát biểu trước Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove, kêu gọi thông qua nghị quyết ủng hộ HR4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Dự luật này đã được giới thiệu ra Hạ Viện Hoa Kỳ, và nếu được lưỡng viện Quốc Hội thông qua, sẽ trừng phạt những cá nhân vi phạm nhân quyền đối với người dân tại Việt Nam, bằng cách cấm họ và gia đình nhập cảnh Hoa Kỳ và chịu sự chế tài khi sử dụng các định chế tài chánh của Mỹ.

Trước cuộc bỏ phiếu, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, hiện là ứng cử viên thượng nghị sĩ California, ngỏ lời cám ơn hai nghị viên Kris Beard và Steve Jones đã giới thiệu dự luật này với các đồng viện.

“Ðã đến lúc chúng ta phải gởi một thông điệp rõ ràng cho chính quyền CSVN là Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận các vi phạm nhân quyền và chúng ta cần nỗ lực vận động Thượng Viện sớm thông qua dự luật này. Garden Grove là thành phố đầu tiên, sau Orange County, ủng hộ Dự Luật HR4254,” vị dân cử gốc Việt cao cấp nhất California tuyên bố.

Luật Sư Andrew Ðỗ, chánh văn phòng của vị nữ giám sát viên gốc Việt, nhấn mạnh: “Sự chế tài của dự luật này buộc những người vi phạm nhân quyền phải nghĩ đến những hậu quả khi họ bị luật pháp Hoa Kỳ trừng phạt, gia đình của họ cũng không thể được nhập cảnh, và nhất là họ không được sử dụng những định chế tài chánh của đất nước này.”

Lên tiếng kêu gọi Hội Ðồng Thành Phố ủng hộ HR4254, ông Phạm Gia Ðại, một cựu tù nhân chính trị, phát biểu: “Hai mươi mốt năm trước, tôi là một người tị nạn được may mắn đến Hoa Kỳ, sau 17 năm tù cải tạo của Cộng Sản, tôi thông cảm hoàn cảnh tù tội của những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, của các blogger. Xin hãy ủng hộ. Bỏ phiếu thuận cho HR 4254!”

IMG_6302Ðông đảo đồng hương Việt Nam và người bản xứ đến chật kín phòng họp. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Cùng kêu gọi các dân cử ủng hộ, cựu Ðại Tá Lê Khắc Lý, chủ tịch lâm thời Cộng Ðồng Việt Nam Nam California, khẳng định: “Chiến tranh về mặt quân sự đã xong, nhưng cuộc chiến chưa chấm dứt. Hoa Kỳ hãy sử dụng dự luật này như một vũ khí!”

Không phải chỉ có những người Mỹ gốc Việt quan tâm và đến để nói lên nguyện vọng của mình, bà Malou Mariano, người Mỹ gốc Philippines, kêu gọi các nghị viên ủng hộ và làm bầu không khí của cả hội trường như một Hội Nghị Diên Hồng.

“Những ai đồng ý ủng hộ dự luật này, xin quý vị đứng lên!” bà quay lại các hàng ghế sau lưng, lên tiếng, trong tiếng vỗ tay. Trong đám đông đó có cả những cư dân là người bản xứ.

Một thiếu nữ gốc Việt sau đó lên phát biểu qua một câu nói đơn sơ nhưng dễ hiểu.

“Ai lái xe bị phạt thì có đóng tiền phạt không? Vậy thì CSVN vi phạm nhân quyền, có bị chế tài thì cũng đúng thôi!” Cô Trúc Võ, 33 tuổi, cư dân Garden Grove, nói trong khi mọi người vỗ tay tán thưởng.

“Khi vi phạm nhân quyền, CSVN phải chịu chế tài. Tôi yêu cầu Hội Ðồng Thành Phố ủng hộ,” ông Phát Bùi, cựu chủ tịch Ủy Ban Quy Hoạch Garden Grove và hiện là ứng cử viên Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove, nói.

“Tôi tâm đắc nhất với cô bé lớn lên ở Mỹ dùng thí dụ vi phạm giao thông để so sánh với CSVN vi phạm nhân quyền,” ông Lê Phương, 61 tuổi, cư dân Hawain Gardens, nói.

Tựu trung, đa số người phát biểu đều lên tiếng ủng hộ HR4254, trong đó có Tiến Sĩ Joe Ðỗ Vinh, cũng là một ứng cử viên Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove, và một số người khác.

Phó Thị Trưởng Dina Nguyễn và Nghị Viên Chris Phan nhấn mạnh Hoa Kỳ là tiền đồ của thế giới tự do, Dự Luật Chế Tài Giới Chức CSVN Vi Phạm Nhân Quyền, nếu được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua, sẽ đem lại dân chủ cho đất nước và người dân Việt Nam.

–- Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

*

IMG_5661

*

Họp báo Dự Luật HR 4254 chế tài CSVN vi phạm nhân quyền

Friday, March 21, 2014 8:41:19 PM

Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Giám Sát Viên Janet Nguyễn và Dân Biểu Liên Bang Ed Royce (Cộng Hòa-Địa Hạt 39), chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ, họp báo lúc 3 giờ chiều Thứ Sáu tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí (phía trong nhà hàng Zen), Westminster, để chính thức giới thiệu Dự luật HR 4254, dự luật có tác dụng chế tài giới chức cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và xin mọi người Việt ký vào thỉnh nguyện thư để gây áp lực ủng hộ.

 IMG_6688GSV. Janet Nguyễn (trái) và Dân Biểu Liên Bang Ed Royce tại buổi họp báo về Dự Luật HR 4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi rất mừng vì dự luật này sau hơn một năm làm việc, Dân Biểu Ed Royce giới thiệu trước Hạ Viện Hoa Kỳ hôm 14 Tháng Ba và rất hy vọng được các dân biểu ủng hộ,” Giám Sát Viên Janet Nguyễn, mở đầu cuộc họp báo.

“Chúng tôi trân trọng thông báo đến cộng đồng, Dự Luật HR 4254 là kết quả các nỗ lực của hai văn phòng chúng tôi, nhằm trừng phạt những thành phần có hành động vi phạm nhân quyền. Vấn đề hôm nay không phải chỉ cá nhân tôi quan tâm mà là vấn đề của cộng đồng, của cả đất nước Việt Nam,” vị giám sát Địa Hạt 1 nói thêm.

Tiếp lời GSV Janet Nguyễn, Dân Biểu Ed Royce thu hút người tham dự khi ông kể đến trường hợp ông Magnitsky, một luật sư người Nga chết trong tù năm 2009 vì điều tra hồ sơ gian lận thuế của một nhân vật chính quyền. Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Đạo Luật Magnitsky Act năm 2012 nhằm trừng phạt viên chức Nga trách nhiệm đến cái chết của luật sư này.

“Từ ý kiến của Janet, chúng tôi nhận ra được cách trừng phạt những viên chức cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền. Họ cũng muốn đi du lịch và gởi con cháu họ du học tại Hoa Kỳ. Muốn thế họ phải ngừng bắt giữ, hành hạ những nhà tranh đấu cho dân chủ, cho tự do tôn giáo, tự do ngôn luận. Với dự luật này, họ sẽ bị chế tài về tài sản, không được cấp chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ!” vị dân biểu quen thuộc với cộng đồng Việt Nam bị ngắt lời bởi những tràng pháo tay của người tham dự.

Ông quay qua chào bà Trần Thị Minh Ngọc, thân mẫu của nhà tranh đấu Đỗ Thị Minh Hạnh, ngồi trong hàng ghế của những người tham dự, trước khi ông nói thêm: “Sự kiện áp lực chế tài bằng tài sản, bằng tiền kinh doanh từng xảy ra ở miến Điện, ở Ba Lan từ lâu rồi. Việt Nam mới đây cầm tù 61 nhà tranh đấu chỉ vì họ muốn nói lên quan điểm của mình, chỉ vì họ muốn có tự do tôn giáo và muốn có nhân quyền. Hãy đòi hỏi cho một nước Việt Nam có tự do, dân chủ và nhân quyền!”

IMG_6689DB Ed Royce trình bày đại cương Dự Luật HR 4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

GSV. Janet Nguyễn khẳng định: “Không chỉ thông báo cho cộng đồng người Việt tị nạn mỗi khi có phái đoàn cộng sản Việt Nam đi qua thành phố Westminster, Garden Grove hay Santa Ana như những nghị quyết trong quá khứ, Dự Luật HR4254 nếu được thông qua, các viên chức cộng sản Việt Nam sẽ bị cấm tới Hoa Kỳ. Đơn giản chỉ có thế thôi!”

Bà kêu gọi mọi người Việt khắp nơi trên thế giới ký vào thỉnh nguyện thư ủng hộ Dự Luật HR 4254.

“Hãy vào trang mạng www.hr4254.com để ký tên vào thỉnh nguyện thư có tên ‘Không Dung Thứ Vi Phạm Nhân Quyền’ để cùng nhau tạo áp lực và tôi sẽ trình thỉnh nguyện thư này trước Quốc Hội Hoa Kỳ!” GSV. Janet Nguyễn nói.

Trong phần trao đổi ý kiến và giải đáp thắc mắc, Dân Biểu Ed Royce trả lời câu hỏi về xác suất thành công của dự luật này. Ông cho biết rất nhiều sẽ được thông qua. Ông cũng hứa tổ chức các cuộc họp vận động và mời GSV. Janet Nguyễn đến điều trần.

“Không phải chỉ có người Việt Nam lên tiếng đòi chế tài những ai vi phạm nhân quyền, mà còn có các tổ chức phi chính phủ (NGO), các cộng đồng khác cũng có nhu cầu này,” vị dân biểu nói.

Nghị Viên Dina Nguyễn, phó thị trưởng Garden Grove, đề nghị biện pháp chế tài luôn cả thân nhân của những người vi phạm nhân quyền. Dân Biểu Ed Royce ghi nhận ý kiến này.

Nhân dịp này, bà Trần Thị Ngọc Minh cho biết lúc nào bà cũng sẵn sàng yểm trợ dự luật này.

Thành phần tham dự gồm những khuôn mặt đấu tranh quen thuộc trong cộng đồng và một số dân cử gốc Việt. Ông Trần Đình Thức điều khiển buổi họp báo và ông Hòa Nguyễn thông dịch phần tiếng Việt.

— Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

IMG_5661

*

TÔN GÍAO HẢI NGOẠI TẠI THỦ PHỦ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ ÐANG HOẠT ÐỘNG MẠNH NHẰM HỔ TRỢ TÔN GIÁO TRONG NƯỚC ÐỨNG DẬY DÀNH TỰ DO TÔN GIÁO, TỰ DO PHÁP QUYỀN CÔNG BẰNG THEO THỂ THỨC BẦU CỬ QUỐC HỘI LẬP PHÁP ÐA ÐẢNG CHO VIỆT NAM.

 

Sỉ phu Việt nam

 *

Châu Đạo Cao Đài California kỷ niệm 90 năm ngày khai đạo

Wednesday, November 26, 2014 5:34:23 PM

Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Châu Đạo Cao Đài California sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm ngày khai đạo, vào ngày 7 Tháng Mười Hai, ở hội trường trên đường Chesnut, Westminster.

Thánh Thất Cao Đài trên đường Orangewood trong thành phố Garden Grove.

(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Hiền Tài Phạm Văn Khảm, một chức sắc cao cấp trong đạo, cho biết, “Cao Đài giáo được khai đạo vào ngày 15 Tháng Mười năm Canh Dần 1926, đến nay đã được 90 năm. Giáo chủ là Thượng Đế trực tiếp khai đạo, qua Cơ Bút đã ủy nhiệm Đức Hộ Pháp tổ chức nền đạo, định ra luật lệ phát triển đạo. Trong tổ chức có phần hành như lập pháp và phần hành như Hành Pháp trong công quyền. Chỉ trong vòng mấy năm khởi đầu số tín đồ đã lên tới nhiều triệu người ở khắp Trung Nam Bắc Việt Nam và Cambodia.”

“Do sự lớn mạnh nhanh chóng nên nhà cầm quyền thực dân Pháp đã tìm mọi cách ngăn cấm kể cả việc bắt giam Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và đầy đi Madagasca. Đến thời Việt Minh, các lực lượng kháng chiến của Cao Đài không chấp nhận đứng trong hàng ngũ của Cộng Sản, vì đây là một tôn giáo soi sáng cho con người chống lại vô thần mà Việt Minh là vỏ bọc của Cộng Sản vô thần. Nên khi Cộng Sản chiếm được miền Nam vào năm 1975 thì Cao Đài đã bị nhà nước Cộng Sản, qua Mặt Trận Tổ Quốc, ra một bản án lên án các chức sắc Cao Đài là Việt gian phản quốc và ra lệnh giải tán đạo, tịch thu những thánh thất và nơi thờ phượng làm kho hàng,” hiền tài cho biết.

Vẫn theo hiền tài, “trước những phản ứng của tín đồ khắp nơi, nhà cầm quyền Cộng Sản đành phải tái lập đạo bằng một Hội Đồng Chuyển Quản và cũng lập ra một hội thánh, nhưng bao gồm những đảng viên Cộng Sản được cài đặt vào.”

Hiền tài cho biết thêm, “Trong nước Cao Đài càng bị đàn áp, lũng đoạn bao nhiêu thì ở hải ngoại Cao Đài càng phát triển bấy nhiêu. Hiện nay, 42 cơ sở đạo đã được tổ chức khắp nơi cùng với nhiều thánh thất được xây cất theo phiên bản của Tòa Thánh Tây Ninh. Về tổ chức chúng tôi có những cơ sở từ Hương Đạo qua Tập Đạo đến Châu Đạo để điều hành, duy trì và phát triển nền đạo.”

Trong dịp lễ này, Hiền Tài Phạm Văn Khảm cũng cho biết vào ngày Thứ Bảy hôm trước sẽ là buổi lễ theo nghi thức trong đạo. Chủ Nhật là ngày lễ chính, có sự tham dự của nhiều đại diện từ khắp nơi về cùng với quan khách thân hữu trong cộng đồng và giới truyền thông.

Giáo Sư Phạm Cao Dương được ban tổ chức mời nói chuyện về lịch sử đạo.

Hiền Tài Phạm Văn Khảm nói thêm, “Giáo Sư Phạm Cao Dương là một nhà sử học tiếng tăm nên có cái nhìn khách quan của một sử gia. Chúng tôi mời giáo sư nói về lịch sử đạo Cao Đài mà không phải là một chức sắc nào trong đạo cũng vì lý do đó.”

IMG_7097

Cửu Trùng Đài bên trong thánh thất với con mắt lớn trên chính điện.

(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Theo những tài liệu được phổ biến trên trang mạng Wikipedia, Cao Đài được khai sinh chính thức từ năm 1926 đã nhanh chóng phát triển quy mô và gia tăng số lượng tín đồ. Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao Đài, tôn giáo này có trên 10,000 chức sắc, gần 30,000 chức việc, khoảng 5 triệu tín đồ với 958 tổ chức họ đạo, thành lập được 65 ban đại diện, và có 1,290 cơ sở thờ tự. Tính chung hàng năm có ít ra là khoảng 4,000 tín đồ mới gia nhập đạo.

Riêng tại hải ngoại (Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc) có khoảng 30,000 tín đồ Cao Đài với nhiều cơ sở thờ tự và thánh thất như tại Bắc California, San Diego, Pomona. Một thánh thất thật khang trang được xây cất theo mô hình Thánh Thất Cao Đài Tây Ninh từ trong ra ngoài, đã được hoàn thành từ trên 5 năm nay trên đường Orangewood, Garden Grove, nay trở thành một trung tâm lễ bái cầu nguyện vào những ngày Rằm, Mùng Một và các dịp lễ lớn cho các tín đồ Cao Đài ở Nam California. Theo Hiền Tài Phạm Văn Khảm, thánh thất này trực thuộc Châu Đạo Cao Đài California.

Cao Đài giáo là tôn giáo hiệp nhất ba nền tôn giáo lớn ở phương Đông là Nho, Lão và Thích. Sự hiệp nhất này không có nghĩa là thống nhất lại thành một tôn giáo mà là tổng hợp giáo lý của Thánh Giáo (Nho), Tiên Giáo (Lão) và Phật Giáo. Sự tổng hợp này theo giải thích từ các tài liệu được Cao Đài phổ biến, không có nghĩa là phủ nhận giáo lý của tam giáo để lập nên giáo lý Cao Đài mà là gắn liền giáo lý Tam Giáo sao chép lại thành một cơ cấu nhất quán trong đó mỗi thành phần đều có một giá trị trọng yếu của nền Đại Đạo. Vì vậy mà tại các thánh thất, trên Cửu Trùng Đài là một con mắt lớn, phía dưới là hành ảnh các đức thế tôn, Khổng Tử, Lão Tử, dưới là các tiên thánh trong Nho Giáo, Lão Giáo và cả các hiền sĩ, triết gia Tây phương.

Cao Đài cũng là một tôn giáo nhập thế, có lực lượng bảo vệ đạo, bảo vệ quê hương đất nước, nên các chế độ thực dân, độc tài thời nào cũng tìm mọi cách triệt hạ hay hạn chế hoạt động.

*

IMG_7082

*

Xây dựng tượng Ðức Trần Hưng Ðạo tại Little Saigon

Wednesday, August 13, 2014 3:35:24 PM

Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER, Cali. (NV)Vào lúc 3 giờ chiều Thứ Bảy 16 Tháng Tám, các tổ chức trong cộng đồng người Việt ở Nam California sẽ làm lễ động thổ xây dựng tượng đài Ðức Trần Hưng Ðạo tại Little Saigon trên khu đất Hanoi Plaza, trước tiệm bánh ngọt Croissant d’ Oré trên đường Bolsa thuộc thành phố Westminster.

Lễ động thổ xây cất tượng đài bắt đầu từ việc xây một bệ cao 3 feet và sau đó sẽ dựng tượng Ðức Trần Hưng Ðạo cao khoảng 5.6 feet được tạc từ đá hoa cương từ Việt Nam đem qua. Tượng có hình dạng như bức tượng Trần Hưng Ðạo được dựng tại bến Bạch Ðằng Saigon trong thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), còn tồn tại cho đến nay. Hai lá cờ Hoa Kỳ và VNCH đang được treo tại đây sẽ được di chuyển sang hai bên pho tượng, sẽ cao và to hơn trước.

IMG_6303Tượng đài Trần Hưng Ðạo tại bến Bạch Ðằng Saigon trước năm 1975. (Hình trong bộ sưu tập của Năm Rom)

Dự trù của ban xây dựng thì đây chỉ là khu đặt tượng tạm thời, chờ có được một khu đất khác rộng lớn hơn sẽ chuyển đến.

Theo tin tức được loan trên báo chí, truyền thông thì các thành phần tham gia dưới tên một tổ chức là Vietnamese Cultural Center. Mọi đóng góp xin ghi Memo danh xưng này.

Ðức Trần Hưng Ðạo, một danh tướng đời nhà Trần vào thế kỷ 13 đã ba lần đại phá quân nhà Nguyên bên Tầu. Ðối với người dân Việt từ nhiều đời nay, Ðức Trần Hưng Ðạo đã được coi là Thánh. Trên khắp đất nước Việt Nam nhiều nơi đã lập những đền thờ to lớn để nhớ công ơn của ngài. Tại Saigon trước năm 1975, trên đường Hiền Vương, gần khu Ðakao, có đền thờ Ðức Thánh Trần rất lớn, hàng năm chính quyền đã cùng các chức sắc trong đền tổ chức ngày giỗ của ngài. Ngày này cũng là ngày được các chính phủ VNCH liệt kê vào các ngày lễ chính trong năm, các cơ quan công quyền và trường học đều được nghỉ.

Công đức của Ðức Trần Hưng Ðạo không chỉ là một tướng lãnh đánh Ðông dẹp Bắc giữ gìn bờ cõi, mà còn là một biểu tượng của sự đoàn kết, thống nhất ý chí toàn dân trong việc chống ngoại xâm. Sử sách VN còn ghi rất nhiều về những chi tiết này mà ngày nay nhiều sử gia đã nhận định trong ba loại:

– Tinh thần đoàn kết: Trước hiểm họa ngoại xâm, Ðức Trần Hưng Ðạo khi ấy được vua nhà Trần phong làm thái sư đã dẹp bỏ những tị hiềm thù hận có từ thời Trần Thủ Ðộ để thống nhất lực lượng với các tướng lãnh hoàng thân quốc thúc nhà Trần.

– Tinh thần dân chủ: Hai hội nghị Bình Than cho các cấp trong triều đình và Diên Hồng cho các bô lão trong toàn dân để thống nhất ý chí quyết chiến trong mọi tầng lớp dân quân quan dân một lòng. Cả hai hội nghị đều do Ðức Trần Hưng Ðạo tâu vua cho thực hiện.

– Tinh thần thao lược: Ðức Trần Hưng Ðạo đã từng tâu vua rằng: “Khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tầm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị…” (VN Sử Lược của Trần Trọng Kim). Áp dụng sự nhận định đó nên ba lần quân nhà Nguyên từng thắng trận khắp từ Á sang Âu, kéo 50 vạn quân sang đánh nước ta đều đã phải đại bại.

Ngày nay, trong hoàn cảnh đất nước đang đứng trước hiểm họa bành trướng của Trung Cộng, nhìn lại sử Việt trong thời đại của Ðức Trần Hưng Ðạo thấy có nhiều điều để chúng ta, từ những người cầm quyền cho tới dân chúng, nên lấy làm bài học.

Có lẽ vì thế mà tượng Trần Hưng Ðạo đang được cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại xây cất tại ngay thủ đô của người Việt tị nạn cộng sản. Nhiều thành phần trong việc tổ chức đã có cả sự tham gia của các vị dân cử tại địa phương và các vị ứng viên vào các chức vụ trong chính quyền địa phương cũng như các tổ chức tranh đấu của Quân Cán Chính VNCH.

*

HÌNH ẢNH DỰNG TƯỢNG ÐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ÐẠO TẠI THỦ ÐÔ HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ

IMG_6591

*

IMG_5661

*

 

Ðại hội bất thường Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức Việt Nam Hải Ngoại

Thursday, December 04, 2014 7:29:17 PM

Người quan sát

Như chương trình ấn định, đại hội bất thường của Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức Việt Nam tại Hải Ngoại (AHCGCVNHN) đã khai mạc lúc 1 giờ 30 và kết thúc hồi 4 giờ 30 chiều Chúa Nhật ngày 23 tháng 11, 2014, tại Westminster Community Service Center, 8200 Westminster Ave., Westminster, CA 92683, với kết quả đạt được gây phấn khởi trong lòng mọi người.

IMG_7136Ban Xử Lý Thường Vụ mới được bầu. (Hình: Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức Việt Nam Hải Ngoại)

Số tham dự viên hiện diện khoảng trên dưới 150 nhà giáo cùng thân hữu, báo giới, trong số có 59 hội viên là cựu giáo chức từng hành nghề trong hệ thống giáo dục đại học, trung học, tiểu học công tư dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước tháng 4 năm 1975. Chính 59 cựu giáo chức này đã minh danh tham dự cuộc bỏ phiếu đề cử 5 vị vào Ban Xử Lý Thường Vụ (XLTV) để chuẩn bị đại hội bầu tân Ban Chấp Hành của hội được dự trù vào đầu năm 2015, nhân dịp họp mặt mừng Xuân Ất Mùi. Ðặc biệt có sự hiện diện của một số CÐN lão thành như Giáo sư niên trưởng Nguyễn Tư Mô, Ðỗ Thị Nhuận, Nguyễn Hy Vọng.

Mở đầu chương trình đại hội, sau phần thủ tục chào quốc kỳ Việt-Mỹ, mặc niệm các anh hùng tử sĩ, những đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự do, cựu giáo chức Nguyễn Ðình Cường trong vai trò điều hợp chương trình đã mời Giáo Sư Lưu Trung Khảo, chủ tịch hội, lên diễn đàn trình bày lý do triệu tập đại hội bất thường. Nhân dịp này GS Khảo cũng kiểm điểm lại hàng loạt những công tác do hội đã tích cực góp phần thực hiện trong những năm qua, ngoài những sinh hoạt thường xuyên mang tính ái hữu của hội, như thăm viếng những cựu đồng nghiệp đau yếu và những dịp quan, hôn, tang, tế.

Trong số những công tác được coi là quan trọng của hội trong mấy thập niên qua, cựu đồng nghiệp chủ tịch đặc biệt nhấn mạnh tới việc bản thân ông cùng với đông đảo các cựu giáo chức trong hội đã tích cực hợp tác với Ban Ðiều Hành các trung tâm giảng dạy Việt ngữ trong nỗ lực phát huy và bảo tồn tiếng Việt cho các thế hệ trẻ lớn lên ở hải ngoại. Hội đã cung ứng hầu hết những giảng viên trong các khóa tu nghiệp giáo chức Việt ngữ được tổ chức hàng năm tại Nam California. Ông cũng nói tới những đóng góp nhân lực và tài lực của hội cho những sinh hoạt liên hệ của Ban Ðiều Hành các trung tâm giảng dạy Việt ngữ, như soạn đề tài, cử giám khảo trong các cuộc thi văn, sử, địa, để trao giải khuyến khích cho các em học sinh xuất sắc.

Ngoài ra, ông cũng gợi lại những cuộc viếng thăm miền Bắc California của phái đoàn cựu giáo chức với mục tiêu thăm dò để thành lập các chi hội địa phương nhưng không thành công. Tuy nhiên, trong những dịp này phái đoàn cũng đã có cơ hội thăm viếng, tiếp xúc với nhiều đồng nghiệp ở nhiều thành phố trong vùng.

Trước đó, trong phần trình bày lý do, cựu đồng nghiệp chủ tịch đã nhắc lại những nguồn dư luận trái chiều trong mấy tháng vừa qua liên quan tới cá nhân ông, với tư cách chủ tịch, cũng như tới nguyên tắc sinh hoạt của hội. Ðể làm sáng tỏ những nguồn dư luận này, cựu đồng nghiệp Lưu Trung Khảo đã nhấn mạnh tới hai điểm:

-Thứ nhất là vấn đề pháp lý của hội.

-Thứ hai là việc tái nhiệm Ban Ðiều Hành hội trong những năm sau này.

Về điểm thứ nhất, ông yêu cầu mọi người đọc những văn kiện pháp lý phóng lớn và được trưng bày công khai tại đại hội.

Về điểm thứ hai, ông nêu danh một số cựu giáo chức hiện diện để nhấn mạnh tới những dịp mãn nhiệm, dù ông và toàn Ban Chấp Hành ngỏ ý muốn rời chức vụ, nhưng mỗi lần như thế, gần như toàn thể các cựu đồng nghiệp hội viên đều nhất loạt lưu nhiệm toàn thể các thành viên trong Ban Chấp Hành cũ. Vì ý thức trách nhiệm đối với tập thể, anh chị em đã miễn cưỡng phải ở lại.

Tuy nhiên, vì tinh thần trách nhiệm và nhất là vì danh dự của hội, trước những nguồn dư luận trái chiều như thế, ngày 17 tháng 9 năm 2014, trong Thư Ngỏ gửi quý cựu đồng nghiệp Hội AHCGCVNTHN, ông đã công khai từ nhiệm tư cách chủ tịch hội, sau đó thăm dò ý kiến chung của Ban Chấp Hành và những cựu đồng nghiệp quan tâm, ông gửi văn thư triệu tập đại hội bất thường hôm nay.

Tiếp theo, cựu đồng nghiệp thủ quỹ Nghiêm Thị Hiếu đã được mời lên tường trình về các nguồn tài chánh và việc chi thu trong hội từ trước tới nay. Những khoản thu gồm sự đóng góp của đồng nghiệp, đặc biệt như trong mỗi lần họp mặt mừng Xuân, cựu đồng nghiệp Trịnh Thúy Nga (quả phụ cố GS Trần Bích Lan) thường xuyên góp vào quỹ hội 200 MK, hoặc tặng sách bán để gây quỹ cho hội (CÐN Vũ Ðức). Ngoài ra là việc đóng góp niên liễm mang tính tự nguyện 10 MK cho mỗi người. Về khoản chi, ngoài những quà cáp thăm viếng các cựu đồng nghiệp đau yếu, hàng năm quỹ Hội cũng chi ra một khoản để mua hoa, đăng báo phân ưu những cựu đồng nghiệp hoặc vị phối ngẫu mãn phần. Cũng có những khoản đóng góp lớn hơn như gửi giúp quỹ xây dựng Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ (1000 MK), gửi 400 MK về tặng các bạn trẻ đấu tranh cho tự do, nhân quyền ở VN.

Trong cả hai phần tường trình của cựu đồng nghiệp chủ tịch và thủ quỹ, nhờ những dữ kiện nêu ra hết sức cụ thể, những con số chi thu minh bạch, hội trường đã vang lên những tràng pháo tay tán đồng.

Trong nghi thức từ nhiệm, các vị sau đây đã xuất hiện trước cử tọa để cùng từ chức với cựu đồng nghiệp Chủ tịch Lưu Trung Khảo: Nghiêm Thị Hiếu, Trần Cảnh Xuân, Nguyễn Trung Quân, Lê Chính Long, Ðinh Lưu Nhã, Vũ Ðức, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Ðình Cường, Phạm Quân Hồng, Trần Ngọc Vân.

Trong phần phát biểu, CÐN Nguyễn Trung Quân tuyên bố ông đã cực lực phản đối sự việc vài người đã tự tiện ghi tên ông vào một văn bản mang tính cách chia rẽ vì ông không chấp nhận âm mưu chia rẽ tập thể cựu giáo chức Việt Nam Cộng Hòa.

Ðể tiếp nối chương trình Ðại Hội, CÐN Nguyễn Ðình Cường yêu cầu mọi người hiện diện đề cử Ban Chủ Tọa để tiến hành việc thành lập một Ban Xử Lý Thường Vụ (XLTV) công việc của hội với nhiệm vụ nghiên cứu Nội Quy để đưa ra biểu quyết trong đại hội bầu tân Ban Chấp Hành hội vào đầu năm tới.

Sau phần đề cử, bằng nguyên tắc giơ tay, đại hội đã tín nhiệm ba vị vào Chủ Tọa Ðoàn gồm các cựu giáo chức Trần Cảnh Xuân, Phạm Quân Hồng và Trần Ngọc Vân. Thư ký do hai CÐN Phạm Thị Nga và Nguyễn Hữu Bào đảm nhiệm.

Dựa vào nội quy hội, Chủ Tọa Ðoàn đã nêu lên một số nguyên tắc cơ bản trong việc ứng cử và bầu cử. Ban XLTV sẽ gồm 5 vị, nhưng cử tri sẽ chỉ bầu chọn 4 vị. Riêng vị thứ năm tất cả đồng ý lưu nhiệm CÐN Nghiêm Thị Hiếu tiếp tục ở lại chức vụ thủ quỹ cho đến khi tân Ban Chấp Hành được thành lập. Sau khi thâu nhận những ý kiến đóng góp của các cựu đồng nghiệp giáo chức hiện diện, phiếu bầu được phát cho 59 cựu giáo chức hội đủ điều kiện, việc ứng cử và đề cử được tiến hành mau chóng. Vì thái độ khiêm tốn cố hữu của nhà giáo không có ai ứng cử, do đó cử tri đoàn đã đề cử 10 vị để mọi người bầu chọn.

Kết quả bốn vị sau đây đã được tín nhiệm để cùng với cựu đồng nghiệp Nghiêm Thị Hiếu làm việc trong Ban XLTV: các CÐN Phạm Thị Nga (Bích Huyền), Ðỗ Anh Tài, Phạm Quân Hồng, Nguyễn Ðình Cường.

Sau khi công bố kết quả, đại hội đã kết thúc trong không khí hân hoan với niềm tin tưởng, lạc quan của mọi người.

*

*

 

 

 

IMG_7082

*

LÀM THẾ  NÀO MÀ MỘT TỔNG THỐNG PHẢI TỪ CHỨC TRONG XÃ HỘI DÂN CHỦ

*

BÀI HỌC TUYỆT VỜI  VỀ NỀN DÂN CHỦ ÂU MỶ LÀ KHI TỔNG THỐNG TỨC HÀNH PHÁP LÀM SAI THÌ QUỐC HỘI TỨC BÊN LẬP PHÁP CÓ QUYỀN THƯA KIỆN ÐƯA VẤN ÐỀ SAI TRÁI ÐÓ RA TÒA ÁN TỨC LÀ BÊN TƯ PHÁP XÉT XỬ.

THẬT TUYỆT VỜI NHỜ BA CƠ QUAN HÀNH PHÁP,LẬP PHÁP VÀ TƯ PHÁP NÀY ÐỘC LẬP VỚI NHAU NÊN KHÔNG BÊN NÀO CÓ QUYỀN XEN VÀO SAI KHIẾN BÊN NÀO ÐƯỢC.

NHỜ NỀN DÂN CHỦ TUYỆT VỜI NÀY MÀ KHÔNG AI DÁM BẮT NẠT AI, KHÔNG AI DÁM BẮT BỚ AI TÙY TIỆN, KHÔNG AI CÓ QUYỀN BAO CHE THAM NHỦNG, KHÔNG AI CÓ QUYỀN CƯỚP ÐOẠT CỦA CÔNG TIỀN THUẾ NHÂN DÂN LÀM CỦA RIÊNG, KHÔNG AI DÁM BAO CHE TỘI PHẠM, . . .  NÊN TẠO RA MỘT XÃ HỘI ÂU MỶ HÀI HÒA THOẢI MÁI ÐÁNG SỐNG CHO CON NGƯỜI.

CÒN TẠI Á CHÂU THÌ NHƠ NHỚP VÔ VÀN VÌ TẬP CẬN BÌNH Ở TRUNG QUỐC VÀ NGUYỄN PHÚ TRỌNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DO MẶC CẢM NGU DỐT NÊN BỌN CHÚNG CHO LÀ CẢ LẬP PHÁP HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP ÐỀU DO MỘT ÐẢNG CỌNG SẢN CỦA CHÚNG CHỈ HUY LÀ SỐ MỘT.

VÌ SỰ NGU DỐT NÀY DẨN ÐẾN MỘT XÃ HỘI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM HIỆN LOẠN LẠC NHƯ NHỮNG BÌNH THUỐC NỔ ÐỘC TÀI ÐANG LĂM LE BÙNG PHÁT TAN HOANG MỘT NGÀY NÀO ÐÓ.

 NẠN THAM NHỦNG ỨC HIẾP TRÀN LAN KHẮP NƠI VÀ DÂN TRUNG QUỐC DÂN VIỆT NAM NHƯ SỐNG TRONG LÒ LỬA NHÀ TÙ LỚN RẤT TỘI NGHIỆP.

Sỉ phu Việt nam

Chuyên gia Trần Cư

 

*

 IMG_6287

 

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu bên trái và Tổng Thống Richard Nixon bên phải

*

‘Ngày khởi đầu hoàng hôn của VIET NAM CONG HOA’

*

Nguyễn Tiến Hưng

Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Mỹ.

Cập nhật: 15:35 GMT – thứ bảy, 9 tháng 8, 2014

IMG_6289

Tổng thống Richard Nixon mất chức sau vụ scandal nổi tiếng Watergate vào 8/1974.

“It’s so sad, it’s so sad”(Thật là buồn, thật là buồn), tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ… Không ai nói năng gì nữa. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại,” Tổng thống (TT) Richard Nixon viết để kết thúc cuốn Hồi Ký đài 1,120 trang.

Đây là lúc ông ngồi trên chiếc trực thăng rời Washington sau khi từ chức ngày hôm trước. Bà Patricia là phu nhân Tổng thống.

Trước 10 giờ sáng ngày thứ Năm, mồng 8 tháng 8, 1974, Phó Tổng thống Gerald Ford cùng với Phụ tá John Marsh chủ toạ lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc Hội cho gia đình của bảy người quân nhân tử trận ở Việt Nam.

Lễ nghi diễn ra tại Blair House, nhà khách của Tổng Thống [chúng tôi xin mở ngoặc để ghi lại là TT Thiệu đã lưu lại nơi đây vào tháng 4, 1972 khi TT Nixon mời ông tới Washington; chúng tôi có ghé thăm ông].

Lễ nghi vừa xong, ông Ford liền được tướng Al Haig, Chánh Văn Phòng cho biết Tổng Thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội vàng bước qua đường Pennsylvania sang toà Bạch Ốc.

Khi ông vừa tới, TT Nixon đứng lên bắt tay rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, trông mặt ông thật căng thẳng vì vừa trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn.

Với một giọng nghiêm nghị nhưng kiềm chế, ông chậm rãi nói với ông Ford: “Tôi đã quyết định từ chức, quyền lợi đất nước đòi hỏi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi.” Buổi tối hôm ấy TT Nixon lên TV tuyên bố từ chức.

Chúng tôi gọi ngày này là “Ngày Song Bát,” ngày lịch sử của Hoa Kỳ, cũng là ngày đánh dấu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa Việt Nam.

‘Cửa đập nước đã mở?

“Đây là giây phút tôi biết mình sẽ là Tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon…”

Tổng thống Richard Nixon

Watergate là tên của một tập hợp những cao ốc đẹp nằm trên đường Virginia cạnh bờ sông Potomac lãng mạn. Đây là một khuôn viên gồm khách sạn, chung cư sang trọng và một cao ốc văn phòng. Nơi đây có trụ sở của ‘Ủy Ban Quốc Gia Đảng Dân Chủ.’

Nhân viên của Tổng thống Nixon đã cho người đột nhập vào trụ sở này vào ngày 17 tháng 6, 1972 để cài đặt đường giây nghe lén vào mùa vận động bầu cử Tổng thống 1972. Sau khi đổ bể, Quốc Hội điều tra, TT Nixon chối đi là ông không dính dáng gì đến việc này. Cuộc điều tra tiếp tục. Từ chuyện này dẫn tới chuyện khác. Tuy nhiên cũng chưa có bằng chứng nào kết tội Tổng thống.

Tới trên hai năm sau, vào ngày 24 tháng 7, 1974 thì có bước ngoặt: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng Thống Nixon phải chuyển cho chánh án Sirica băng thu 64 cuộc nói chuyện tại văn phòng Toà Bạch Ốc. Trước đó luật sư của Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu để không chuyển băng. Hai bên giằng co rất quyết liệt vì những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate.

Chỉ ba ngày sau thì có biến cố lớn. TT Nixon kể lại về ngày 27 tháng 7, 1972:

“Tôi đang tắm ở bãi biển Red Beach gần San Clemente khi Ủy ban Tư Pháp Hạ Viện bỏ phiếu điều khoản thứ nhất của thủ tục bãi chức tổng thống (impeachment). Điều khoản này buộc tội tôi đã có những hành động cản trở việc điều tra Watergate. Số phiếu thuận là 27 và chống là 11, đúng như tôi vẫn e sợ.

“Tôi đang mặc quần áo trong chiếc xe trailer thì chuông điện thoại kêu và (phụ tá) Ziegler báo tin cho tôi. Đây là giây phút tôi biết mình sẽ là Tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon và một cái áo ở ngoài có vẽ Dấu ấn của Tổng Thống.”

Cuốn băng “Smoking Gun”

IMG_6290

Liệu Kissinger có ‘thao túng’ chính sách của TT Nixon hay không còn là một dấu hỏi.

Ngày 5 tháng 8, Tòa Bạch Ốc bắt buộc phải chuyển giao băng thu cuộc họp ngày 23 tháng 6, 1972 . Băng này đã ghi lại rõ ràng là chỉ mấy ngày sau vụ đột nhập Watergate, chính TT Nixon đã họp với Phụ tá Haldeman để bàn tính việc ngăn chận cuộc điều tra.

Theo kế hoạch thì Haldeman sẽ để cho CIA thông báo đại với FBI là vụ này dính tới an ninh quốc gia nên không điều tra nữa. “Một cách để xử lý vụ này,” Haldeman nói với Tổng thống, “là ta cho Walters (CIA) gọi đại cho Pat (FBI) để chỉ nói ‘Chớ có dính líu gì tới việc này… việc này, chà…chúng tôi không muốn các anh đi sâu hơn nữa’ ” (Stay the hell out of this…this is ah, business here we don’t want you to go any further on it).

TT Nixon chấp thuận kế hoạch. Ông chỉ thị Haldeman “Được rồi, tốt, tôi hiểu hết rồi… Anh gọi bọn họ vào. Tốt, cách xử lý tốt đấy. Phải cho thật cứng rắn. Đó là cách họ đối xử với chúng ta và cũng là cách chúng ta sẽ đối xử với họ.”

Nghe băng này, các luật sư của Tòa Bạch Ốc thấy hết đường cứu chữa! Đây là bằng chứng đi ngược lại với những lời phủ nhận của TT Nixon và ngược lại với những lý luận của các luật sư trước đó.

Như vậy TT Nixon đã có tội là ‘cản trở việc thi hành luật pháp.’ Người ta gọi cuốn băng này là “Smoking Gun,” nòng súng có khói (bằng chứng là súng đã có bắn).

‘Đề phòng Kissinger’

Trong những giờ phút cuối cùng, TT Nixon vẫn còn quan tâm đến VNCH. Ông viết về cuộc họp với ông Ford sáng ngày 8 tháng 8: “Chúng tôi nói tới những vấn đề ông Ford sẽ phải đối đầu khi ông lên chức Tổng thống đúng 24 giờ nữa. Quan trọng nhất là chớ có để cho những người lãnh đạo ở Moscow hay Bắc Kinh nắm lấy việc từ chức của tôi để thử thách Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới.”

“Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình”

TT Nixon nói với TT Ford

Sau đó TT Nixon đã căn dặn người kế vị rằng nên dùng ông Kissinger nhưng phải cẩn thận đối với ông này. TT Ford kể lại lời trối trăn trong Hồi Ký ‘A Time To Heal’ :

“Tổng Thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt Nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này.”

Ông thêm rằng “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình.”

Như vậy TT Nixon đã hối hận vì để cho Kissinger lộng hành? Tuy người tiền nhiệm đã dặn dò như vậy, nhưng TT Ford vẫn khoán trắng cho ông Kissinger.

Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần ông. Tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông.”

Việc TT Nixon từ chức không nằm trong ‘mong muốn’ của TT Thiệu.

Kissinger trả lời “Thưa Ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với Ngài chứ không phải là Ngài cùng với tôi.” TT Ford mời ông Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức vụ cùng một lúc: Ngoại Trưởng và Cố Vấn An Ninh: tha hồ mà thao túng.

Miền Nam rung động

Tuy đã tiên đoán là Tổng Thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Tổng Thống Thiệu vẫn bàng hoàng. Gặp ông ngay buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy ông không giấu nổi sự lo lắng. Vụ Watergate bắt đầu từ tháng 6, 1972 nhưng TT Nixon vẫn thắng cử nhiệm kỳ hai vào mùa Thu năm ấy.

Tuy nhiên sau Hiệp Định Paris thì TT Thiệu đã thấy có điều gì không ổn. Ông kể lại là sau cuộc họp tại San Clemente ngày 3 tháng 4, 1973, khi TT Nixon chào tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng (cùng chiếc Mariner One) thì “hồn vía ông ta như để ở đâu đâu; trực thăng vừa cất cánh thì ông đã quay gót trở lại. Vội vã đi vào nhà.”

Những lần trước khi hai người gặp nhau, dù ở đảo Midway hay ở Sàigòn (1969), lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, TT Nixon vui vẻ giơ tay vẫy chào thật lâu (‘Khi Đồng Minh Tháo Chạy,’ Chương 4). TT Thiệu bắt đầu e ngại nhưng vẫn còn chút hy vọng vì đã có được những cam kết tuy bí mật nhưng hết sức vững vàng của người lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp Định Paris, TT Nixon cũng không nỡ lòng nào bỏ rơi Miền Nam. Ông vẫn tranh đấu cho viện trợ. Nhưng sau ngày Song Bát thì khác.

“Thưa Tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu”

Kissinger cố vấn với TT Nixon

Đang lúc bối rối như vậy thì TT Thiệu nhận ngay được một lá thư của tân Tổng thống Ford gửi cho ông. Thư đề ngày 10 tháng 8, 1974 đã khẳng định: “Thưa Tổng Thống … tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với VNCH trong quá khứ thì vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.”

Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi cho rằng đây chỉ là một mưu lược rất tinh xảo của ông Kissinger nhằm trấn an ông Thiệu. Vì Kissinger đã dấu nhẹm đi không cho TT Ford và Quốc Hội biết gì về những cam kết của TT Nixon, bây giờ ông phải tìm cách để tiếp tục che dấu.

Nếu để ông Thiệu nại đến những cam kết này khi bị Quốc Hội cắt xén quá nhiều viện trợ thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Điều hay nhất là làm sao giữ cho Sàigòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc hạ màn.

Đó là điều ông Kissinger đã từng cố vấn TT Nixon: “Thưa Tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu.” (‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,’ Chương 15).

(Hết phần I)

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa (1973-1975) và là tác giả của các cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” và “Tâm tư Tổng thống Thiệu”. Mời quý vị đón theo dõi phần hai được BBC giới thiệu trong thời gian tới đây.

 

 

*

 

 IMG_5661

 *

TỪ WATERGATE ÐẾN SỤP ÐỔ SAIGON

Từ Watergate đến sụp đổ Sài Gòn’

Nguyễn Tiến Hưng

Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Mỹ.

Cập nhật: 12:06 GMT – chủ nhật, 10 tháng 8, 2014

IMG_6292

Tổng thống Mỹ Richard Nixon rời Nhà trắng sau khi từ chức vì vụ scandal Watergate.

Trong phần tiếp theo của Bấm bài viết nhìn lại sự kiện Tổng thống Mỹ Richard Nixon từ chức (ngày 8/8/1974), tác giả Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kinh tế của Việt Nam Cộng hòa, đề cập hệ quả vụ scandal chính trị Watergate với sự sụp đổ của chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng thể chế VNCH chưa tới một năm sau.

BBC giới thiệu sau đây phần hai và cũng là phần cuối của bài viết nhân bốn mươi năm xảy ra sự kiện này:

Mấy ngày sau khi nhận được thư của Tổng thống (TT) Gerald Ford, sau một buổi họp của Hội Đồng Tổng Trưởng tại Dinh Độc Lập, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bảo tôi ở lại nói chuyện thêm.

Ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, vì ông này quá mới mẻ đối với VNCH.

Tôi nói với ông Thiệu về cái thông lệ của Hoa Kỳ là một tân Tổng Thống thường được Quốc Hội dành cho một “tuần trăng mật” chỉ dài khoảng 100 ngày, đôi khi lâu hơn.

Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân Tổng Thống. Không những TT Thiệu mà tất cả Nội Các cũng hết sức lo âu.

“”Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!” Câu nói của Giáo sư Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu”

Nguyễn Tiến Hưng

Câu chuyện mọi người bàn bạc lúc ăn trưa trong những buổi họp hàng tháng vào sáng thứ Tư tại Phủ Thủ Tướng cũng đều xoanh quanh Watergate và viện trợ Hoa Kỳ.

Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình và xem Việt Nam Cộng Hòa phải xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng Thống Thiệu mời Giáo sư Warren Nutter sang thăm.

Ông là cựu Phụ tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam Hoá.

Ông cũng là người thầy kính mến của chúng tôi tại Đại Học Virginia. Ông rất am hiểu đường đi nước bước của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và vấn đề quân viện.

‘Bỏ dở tô hủ tiếu’

Giáo sư Nutter dự điểm tâm với TT Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23 tháng 8 tại Dinh Độc Lập. Tổng Thống Thiệu nói về tình hình đang trở nên hết sức nguy ngập và bày tỏ sự lo ngại về viện trợ Hoa Kỳ.

Là người ủng hộ ông Thiệu từ lâu, ông Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành động của Quốc hội. Ông hứa khi về đến Washington sẽ cố gắng trình lên Tổng Thống Ford tình trạng nguy ngập ở Việt Nam.

IMG_6293

TT Thiệu không còn nhận được nhiều viện trợ và hậu thuẫn của người Mỹ vào cuối cuộc chiến.

Ông than phiền: “Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!” Câu nói của GS Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu.

Về tới Washington, ông viết một lá thư cho bạn ông là John O. Marsh, Phụ Tá của TT Ford. Nutter nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả các cuộc tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt.

Nhưng nếu Hoa Kỳ ngưng viện trợ thì sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter viết cho ông Marsh và đưa cho tôi một bản sao:

“Tôi chưa thấy ông Thiệu và các tướng lãnh Việt nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất tinh thần nếu Bắc Việt tiếp tục gây áp lực…

“Tôi tin rằng hành động của Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những xáo trộn chính trị và biểu tình trong vài tuần lễ gần đây (tại Sàigòn).

“Tình hình sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe dọa quân sự trước mắt…

“Để cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế”

Giáo sư Warren Nutter

“Để cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế.”

Thêm vào đó, Đại sứ Martin cũng cố gắng vận động tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nhưng chẳng ai làm được gì vì ông Kissinger đã trở nên một ông Quan Toàn Quyền.

Hoàng hôn nền Cộng Hòa

Cuối Hè vào Thu, chân trời Miền Nam đã tím lại.

Chỉ vài ngày sau khi TT Ford viết bức thư cho TT Thiệu khuyên ông đừng có lo nghĩ gì cả vì “sau cùng VNCH sẽ được đầy đủ cả quân viện lẫn kinh viện,” Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện đã cắt thêm nữa: từ mức quân viện cho Tài khóa 1973 là 2.2 tỷ đôla bây giờ cắt xuống còn 700 triệu.

Điều chỉnh theo lạm phát thật cao lúc ấy thì mãi lực của số tiền này chẳng còn bao nhiêu. Thực là tin sét đánh cho Bộ Tổng Tham Mưu VNCH. Đối với TT Thiệu một chút hy vọng khi nhận được thư đầu tiên của vị Tân Tổng thống Mỹ đã tan biến đi như mây khói.

IMG_6294

Có những nỗ lực theo chiều hướng khác nhau để tiếp tục hoặc dừng lại tài trợ của Mỹ cho VNCH.

Ngoài chiến trường thì tình hình bắt đầu sôi động, đặc biệt là ở Đức Dục và Thường Đức.

Tới cuối năm 1974 thì đạn dược và xăng nhớt đã cạn kiệt. Theo dự tính của Bộ Tổng Tham Mưu: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày.

Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng kết luận rằng “nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì: “số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được thêm viện trợ.”

Tình hình chiến sự đã tiếp tục xảy ra, lại theo một nhịp độ gia tăng. Không nhận được thêm viện trợ, lại còn bị Quốc Hội biểu quyết cúp hết quân viện, Miền Nam đã sụp đổ trước tháng 6, 1975.

Về Miền Cali

Sau khi từ chức và trao quyền cho TT Ford, trưa ngày 9 tháng 8, 1974 nguyên TT Nixon và gia đình rời cửa trước Tòa Bạch Ốc từ từ đi trên tấm thảm đỏ dài dẫn tới Marine One, chiếc trực thăng của tổng thống.

Sau đây là những dòng cuối cùng của cuốn ‘Nhật Ký Richard Nixon’ – viết về lúc giã từ Thủ đô:

“Tôi bắt tay Jerry (Ford) – Pat ôm Betty (Phu nhân TT Ford) – rồi hôn Julie (con gái) – và tạm biệt David (con trai). Rồi tôi đứng một mình. Lên hết cầu thang, tôi quay mình, nhìn lại một lần cuối…

“Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. ‘Thật là buồn, thật là buồn’ tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ”

Nhật ký Richard Nixon

“Tôi giơ tay vẫy chào lần cuối cùng. Tôi vẫn cười. Tôi bước vào trực thăng, cửa đóng lại, chiếc thảm đỏ được cuộn nhanh. Động cơ bắt đầu nổ. Cánh quạt bắt đầu quay. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.

“Bất chợt chiếc trực thăng từ từ bay lên. Những người ở dưới vẫy tay chào. Rồi chúng tôi đổi hướng. Bây giờ thì Tòa Bạch Ốc đã nằm phía sau chúng tôi. Chúng tôi bay thấp và ngang qua Washington Monument. Một lần đổi hướng nữa và Hồ Tidal Basin đã nằm ở dưới. Rồi tới Jefferson Memorial.

“Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. ‘Thật là buồn, thật là buồn’ tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ.”

“Sau một lần đổi hướng nữa chúng tôi đã bay về hướng phi trường Andrew, ở đó chiếc Air Force One đã đợi để đưa chúng tôi về California. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.”

Chắc chắn rằng trong những suy nghĩ của TT Nixon về những gì đã xảy ra, ông không khỏi hối hận vì đã sơ xuất để phải chết đuối trong vũng lầy.

Chín tháng sau ngày TT Nixon từ chức, Sài Gòn thất thủ hôm 30/4/1975.

IMG_6295

Vào mùa bầu cử 1972, ông đã quá mạnh để thắng nhiệm kỳ hai, không cần phải cho nghe lén ở trụ sở Đảng Dân Chủ.

Thành tích của ông vẻ vang vì mở cửa Bắc Kinh, lại rút hầu hết quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Chương trình Việt Nam Hóa – chứng minh cho ‘Học Thuyết Nixon’ – đang thành công.

‘Từ mảnh băng trên khóa’

Nhìn theo một khía cạnh tâm linh nào đó, ta có thể cho Ngày Song Bát (8 tháng Tám) cũng chỉ là điểm chốt của vận mệnh TT Nixon.

Từ một chuyện nhỏ nhặt đã gây nên thảm cảnh. Một thanh niên người da màu tên là Frank Wills, 24 tuổi, làm nhân viên bảo vệ cho một cao ốc văn phòng tại khuôn viên Watergate.

Đêm ngày 17 tháng 6, 1973, anh thủng thẳng đi quanh tòa nhà để xem xét, bất chợt anh thấy có miếng băng nhỏ dán vào ổ khóa một cánh cửa.

“Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào? Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát (8/8). Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người Tổng thống lừng danh”

Nguyễn Tiến Hưng

Chẳng nghi ngờ gì, anh lấy tay gỡ miếng băng ra, đóng chặt cửa rồi tiếp tục đi kiểm tra như thường lệ. Ba mươi phút sau anh vòng lại chỗ cũ. Ấy chết, lại có thêm băng dán vào chốt cửa.

Vội vàng, anh chạy lên lobby lấy điện thoại gọi cho cảnh sát Khu Vực II. Cảnh sát ập tới, bắt được năm người trong văn phòng Đảng Dân Chủ đang cài giây nghe lén. Thế là chỉ trong giây phút “Water – gate” đã bắt đầu – cửa đập đã mở ra cho nước lũ tràn xuống.

Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào?

Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát. Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người Tổng thống lừng danh.

‘Đến con thuyền lênh đênh’

Ông đã đại thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ hai – một đại thắng ‘landslide’ – long trời lở đất. Để rồi đại bại, sụp đổ.

Chẳng bao lâu sau khi Sài Gòn sụp đổ, làn sóng thuyền nhân VN tị nạn bắt đầu bùng nổ trên biển.

TT Nixon đã ra đi và giã từ Thủ đô để trở về miền California, nơi có nắng âm hiền hòa hơn Washington

Chưa tới chín tháng sau ngày Song Bát, Miền Nam Việt Nam cũng sụp đổ theo ông.

IMG_6296

Những con thuyền bé nhỏ lênh đênh trên mặt Biển Đông trông giống như những chiếc lá tre trôi dạt dào.

Bao nhiêu người quay lại giã từ Sài Gòn một lần chót.

Mệt lả, họ lẩm bẩm ‘thật là buồn, thật là buồn – It’s so sad, it’s so sad!’

Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Không có lưng ghế, họ ngả đầu vào nhau, nhắm mắt lại, phó mặc cho số phận.

Với chút may mắn, một số người đã vượt qua được đại dương. Từng đợt rồi lại từng đợt, họ kéo nhau về Miền Cali, nơi có nắng ấm hiền hòa.

Thêm một sự trùng hợp lạ lùng nữa: phần đông lớp người ra đi đầu tiên lại được đưa tới Camp Pendleton, gần ngay khu nhà Casa Pacifica của TT Nixon ở San Clemente. Cả hai đều nằm sát Đường Xuyên Bang – Intertate 5.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa (1973-1975), người đồng thời là tác giả của các cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” và “Tâm tư Tổng thống Thiệu”. Mời quý vị theo dõi phần đầu Bấm tại đây.

*

IMG_5889

*

TẠI SAO BẦU CHO VIỆT NAM CỌNG HÒA

*

Thế cờ chính trị tại Việt nam hiện nay thì ngoài đảng cọng sản ra hiện chưa có tổ chức đảng chính trị nào lớn mạnh bằng đảng Việt nam Cọng hòa

Thật vậy qua nghiên cứu của các chiến lược gia am tường sâu sắc về cọng sản Việt nam và về tình hình Việt nam la nếu có cuộc bầu cử đa đảng xẩy ra trong tương lai gan thì chỉ có hai đảng chính trị lon đối đầu với nhau . Ðó là đảng cọng sản Việt nam và đảng Viẹt nam Cọng Hòa.

Nói như vậy không có nghĩa là tuyệt đối vì dỉ nhiên cũng có khoảng vài chục đảng chính trị khác nữa cở trung và cở nhỏ hơn đang hoạt động ráo riết cũng sẽ tham gia bầu cử trong thể chế dân chủ đa đảng sắp tới.

Thí dụ tại Quốc Hội dân chủ đa đảng Việt nam sắp tới :

  • Ðảng cọng sản thắng 100 ghế
  • Ðảng Việt nam cọng Hòa thắng 200 ghế
  • Ðảng Dân chủ Nhân dan thắng 50 ghế
  • v .v .

Ðảng Việt nam Cọng hòa có lợi điểm là đang có khoảng 20  triệu thành viên con em Việt nam Cọng hòa hiện có mặt khắp mọi miền trên đất nước Việt nam.

Ho là thân nhân, gia đình, con, cháu, bạn bè của chế độ Việt nam Cọng hòa trước đây và hiện đang được cài sẳn khắp Việt nam chờ ngày bầu cử đa đảng.

Nếu so với 4 triệu thành viên đảng cọng sản Việt nam thì tổ chức chính trị Việt nam Cọng hòa hiện chiếm đa số và lại có chính danh chính nghĩa tham gia bầu cử theo hiệp định ngừng chiến tại Ba lê và theo tình hình thực tế Việt nam.

Ðảng chính trị Việt nam Cọng hòa hiện được vinh danh khắp nơi trên thế giới vì 39  năm sau chiến tranh Việt nam, thế giới mới thấy rỏ chính nghĩa của Việt nam Cọng hòa ngời sáng và sự hy sinh của Việt nam cọng hòa là vô cùng cao qúy đối với quyền con người.

Việt nam Cọng hòa đúng là một thực thể chính trị thực sự của dân do dân và vì  dân.

Sỉ phu Việt nam

IMG_6372

Chuyên gia Trần Cư
Sinh viên Sỉ quan Quân lực Việt Nam cọng hòa đầu thập niên 70

https://siphuvietnam.wordpress.com

*

IMG_9660

*

HINH ANH VIET NAM CONG HOA TRONG NGAY QUỐC HẬN TẠI THỦ ÐÔ HẢI NGOẠI LITTLE SAGON NAM CALIFORNIA 2014

*

*

IMG_5661

*

IMG_4861

IMG_3891

IMG_3860

IMG_3852

IMG_3882

IMG_3855

IMG_3314

*

IMG_5701

*

Nghị Quyết SR-455: ‘Hãy trả lại sự thật cho lịch sử’

*

Monday, March 31, 2014 6:40:54 PM

*

TNS. Richard Black vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính Viet Nam Cong Hoa

*

Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Ông Richard Black, Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Virginia đến Little Saigon trong hai ngày để trao tặng cộng đồng người Việt Nghị Quyết SR-455, vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, và đặt vòng hoa lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, 30 Tháng Ba, tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ ở Westminster.

 

 IMG_5400Thượng Nghị Sĩ Richard Black tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ hôm Chủ Nhật. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi đến đây để đặt vòng hoa và nghiêng mình tưởng niệm các chiến hữu Việt-Mỹ đã anh dũng hy sinh trong trận chiến Việt Nam. Tôi xin trao tặng cộng đồng người Việt nghị quyết SR-455 của Thượng Viện Virginia, nhằm vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời lên án sự tàn bạo của cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến cũng như trong hiện tại,” TNS. Richard Black tuyên bố trước một số cựu quân nhân thuộc mọi binh chủng, và đồng hương từng phục vụ trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.

Cùng tháp tùng với vị dân cử có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, cũng đến từ Virginia.

Sau khi đặt vòng hoa, TNS. Richard Black ca ngợi sự dũng cảm của người lính Quân Lực VNCH.

“Là một quân nhân tham chiến tại Việt Nam khi tôi mới 21 tuổi, tôi chứng kiến sự chiến đấu dũng cảm của người lính Việt Nam. Phải nói là tôi chưa từng thấy một người lính Việt Nam nào mà không biểu tỏ sự can đảm của mình. Họ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Chúng ta thua cuộc chiến không phải vì  chúng ta không chiến đấu, mà vì Hoa Kỳ đã bỏ rơi họ,” ông cao giọng.

 IMG_5401TNS. Richard Black (trái) và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích tại nhật báo Người Việt hôm Thứ Bảy. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi chứng kiến người lính Việt Nam ngã xuống, vợ họ cầm súng, con họ tiếp đạn và họ chống lại quân cộng sản bạo tàn đến hơi thở cuối cùng. Tôi thấy những bà mẹ Việt Nam trao đứa con còn bồng trên tay, cho một quân nhân Mỹ hoàn toàn xa lạ và chỉ mong con của bà được đến xứ tự do,” ông nói và mắt nhìn mọi người tham dự. “Những quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam bị lãng quên trong nhiều năm nhưng đã được dân chúng Mỹ phục hồi danh dự. Chiến hữu của họ là những quân nhân Việt Nam cũng xứng đáng được tôn trọng. Hãy trả lại sự thực cho những người lính kiêu hùng này. Vì thế, tôi soạn nghị quyết này để làm bằng chứng cho những sự thật lịch sử mà tôi thấy trong cuộc chiến,” lời ông nói bị ngắt quãng bằng những tràng pháo tay của mọi người tham dự.

Ông nhấn mạnh: “Tôi luôn thấy hình ảnh một ngày nào đó thế hệ trẻ lớn lên tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại, tìm được nội dung của nghị quyết SR-455 trong một ống tre đâu đó về sự thực của lịch sử và nói rằng ‘tôi biết rõ ràng cha ông chúng tôi là những chiến sĩ can đảm’, ‘tôi biết mà’”

Tối Chủ Nhật là buổi tiếp tân, bắt đầu từ 4 giờ chiều tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana.

Hai chiếc xe Jeep được ban tổ chức đặt phía ngoài lối vào nhà hàng. Trên cao là một biểu ngữ, dưới ba sọc đỏ nằm ngang tượng trưng cho lá cờ Việt Nam, có dòng chữ lớn “Vinh danh Việt Nam Cộng Hòa”. Phía dưới là chữ JR-455 nằm bên trái và chữ Quốc Hội Virginia, USA, bên phải.

 IMG_5402TNS. Richard Black (giữa) và mọi người tham dự tại lễ đặt vòng hoa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Các quân nhân thay nhau chụp hình lưu niệm với tác giả của Nghị Quyết SR-455.

Rất đông người tham dự buổi tiệc. MC là ông Nguyễn Mạnh Chí với phần văn nghệ do thành viên của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt San Diego phụ trách.

Các tà áo dài rằn ri màu lính của các chị trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ do nha sĩ Cao Minh Hưng hướng dẫn, được mọi người tán thưởng nhiệt liệt. Vị chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia San Diego cùng tham gia hát bài “Lá cờ thiêng” cùng các thành viên của Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt San Diego.

TNS. Richard Black tóm tắt thời gian tham chiến và các kỷ niệm ở Việt Nam của ông qua lời dịch của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông không tiếc lời vinh danh sự quả cảm của Quân, Dân, Cán, Chính VNCH.

Ngoài một số quan khách  được ban tổ chức giới thiệu như cựu Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc, bà quả phụ Thiếu Tướng Lê Trung Trực, cựu Đại Tá Lê khắc Lý, còn có hai dân cử gốc Việt hiện diện là Thị Trưởng Westminster Trí Tạ và Nghị Viên Chris Phan của Hội Đồng Thành Phố Garden Grove, và một số thân hữu khác như ông Hồ Văn Sinh, nhà văn Chu Tất Tiến…

Ông Hoàng Kim Thanh, 68 tuổi, cư dân Westminster, cựu đại úy Nhảy Dù, tâm sự: “TNS Black thật là người bạn quý. Sau 39 năm mà ông vẫn nhớ đến tình chiến hữu. Tôi cảm phục và xúc động khi nghe ông nói người lính Việt Nam kiên trì chống cộng suốt 39 năm qua. Việc ông làm rất có ý nghĩa. Hy vọng thế hệ hậu duệ trong và ngoài nước tiếp nối cha ông để giữ sự toàn vẹn lãnh thổ.”

“ Tôi bệnh nằm nhà, nghe ông thượng nghĩ sĩ đến tôi cũng phải chịu khó đến đây xem ông ấy nói gì. Người Mỹ hối hận và công nhận VNCH mình có chính nghĩa và lên án Việt cộng tàn ác là đúng rồi,” bà Hoàng Lan Lê, 75 tuổi, cư dân Westminster, nói.

Bà Ngân Nguyễn, 70 tuổi, cư dân Garden Grove, cho biết: “Tôi thấy đây là vấn đề mình chờ đợi từ lâu. Ông thượng nghị sĩ ấy là cựu quân nhân nên ông ấy hiểu được mình. Mong các tiểu bang khác cũng lấy nghị quyết này mà làm theo, như vụ cờ vàng ấy!”

 IMG_5403Một cựu quân nhân Không Quân VNCH chào vị dân cử trước cửa nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Trước đó, hôm Thứ Bảy, lúc 1 giờ trưa, TNS Richard Black và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích dành cho nhật báo Người Việt một buổi tiếp xúc và phỏng vấn. Ngay sau đó, hai vị có buổi họp báo tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí. Tại đây, sau khi họp báo, TNS Richard Black nhờ ông Lý Kiến Trúc, chủ nhiệm câu lạc bộ, giữ bản Nghị Quyết SR-455 tại trụ sở để giới truyền thông và đồng hương Việt Nam có thể tham khảo và vận động các tiểu bang khác của Hoa Kỳ làm theo, như Nghị Quyết Cờ Vàng trước đây.

Theo tài liệu của ban tổ chức họp báo, TNS Richard Black từng phục-vụ ba lần ở Việt-nam, từ 1969 đến 1972.  Là một phi công trực thăng thuộc Sư-đoàn TQLC của Mỹ, ông bay tất cả 269 phi vụ, chuyên chở các binh sĩ đồng minh và VN vào chiến trận và vào bốc họ ra trong những chuyến tải thương. Qua kinh nghiệm này, ông chứng kiến sức chiến đấu dũng cảm, kiên cường và bền bỉ của các chiến sĩ VNCH do đó mà ông cũng rất được mến phục. Riêng phần ông, trực-thăng của ông trúng đạn tất cả bốn lần, và một lần chính người lính truyền tin của ông bị trúng đạn chết ngay tại chỗ.  Trong một cuộc hành quân qua sông Hội An và đụng độ dữ dội với địch quân, hai người trong toán của ông sau đó đã được huy chương danh-dự “Medal of Honor,” huy chương cao quý nhất dành cho những hành động anh hùng kiệt xuất trong quân đội. Ông cũng là một trong những người hiếm hoi ở Quốc Hội Virginia được huy chương Sao Đồng “Bronze Star” do bị thương tại mặt trận.

— Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

*

IMG_3860

*

Vinh Danh Quân, Dân, Cán, Chính Viet Nam Cong Hoa 

*

Little Saigon Westminster, Southern California

*

Sunday, March 30, 2014

*

IMG_4759

*

Thuong Nghi Si tiểu bang Dick Black của Virginia đến Quận Cam Little Saigon

*

Thursday, March 27, 2014 1:52:51 PM

Người Việt Minnesota

Cuối tuần này, 29 và 30 tháng 3, 2014, Thượng Nghị Sĩ tiểu bang Dick Black của Virginia sẽ có mặt ở Quận Cam nhằm đẩy mạnh việc công nhận rộng rãi quân, dân, cán, chính VNCH và nhất là Quân Lực VNCH. Ði cùng với ông sẽ có GS Nguyễn Ngọc Bích thuộc Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa kỳ, cùng lúc ông Bích cũng là chủ tịch Ủy Ban Lâm Thời VNCH, một tổ chức được thành lập vào tháng 10 năm 2010 nhằm phục hồi danh dự cho miền Nam tự do và các chiến sĩ đã chiến đấu dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ.

Ðược biết, ông Dick Black là một cựu chiến binh Mỹ, đã từng phục vụ ba lần ở Việt Nam, từ 1969 đến 1972. Là một phi công trực thăng thuộc sư đoàn TQLC của Mỹ, ông đã bay tất cả là 269 phi vụ chuyên chở các binh sĩ đồng minh và VN vào chiến trận và vào bốc họ ra trong những chuyến tải thương. Qua kinh nghiệm này, ông đã chứng kiến sức chiến đấu dũng cảm, kiên cường và bền bỉ của các chiến sĩ VNCH do đó mà ông trở nên rất mến và phục. Riêng phần ông, trực thăng của ông đã trúng đạn tất cả là bốn lần, và một lần chính anh lính truyền tin của ông bị trúng đạn chết ngay tại chỗ. Trong một cuộc hành quân qua sông Hội An và đụng độ dữ dội với địch quân, hai người trong toán của ông sau đó đã được Huy chương vàng Danh dự (Medal of Honor) là huy chương cao quý nhất dành cho những hành động anh hùng kiệt xuất trong quân đội. Ông cũng là một trong những người hiếm hoi ở Ðại nghị viện Virginia có Bronze Star (Sao Ðồng) do bị thương tại mặt trận. Giờ này, ở văn phòng của ông, TNS Dick Black vẫn còn cắm một cây cờ VNCH lớn bên cạnh cờ Mỹ và cờ tiểu bang. Ông cũng còn giữ một cái nón sắt bị đạn AK bắn gần lủng, chỉ chừng vài li nữa là người lính đội nón ấy đã tiêu đời.

Sau khi mất miền Nam, ông Dick Black vẫn giữ cảm tình sâu đậm với chính quyền miền Nam và nhất là các đồng đội của ông trong Quân lực VNCH. Vì vậy nên khi vào Ðại nghị viện, tức cũng như Quốc Hội, TB Virginia ông đã cùng với một số đồng viện muốn phục hồi danh dự cho đồng minh của nước Mỹ trong chiến tranh VN mà trong một thời gian quá lâu đã bị các lực lượng phản chiến mô tả như một quân đội yếu hèn, không dám đương đầu với Cộng quân.

Sau một thời gian vận động cả năm trời, cuối cùng Nghị quyết J.R. 455 của ông đã được các đồng viện ở cả Thượng lẫn Hạ viện Virginia thông qua vào ngày 20 và 21 tháng 2, 2013 với đa số áp đảo là 139 phiếu thuận trên 140 phiếu cả thảy (40 phiếu ở Thượng Viện và 99 phiếu ở Hạ Viện). Nghị quyết gồm tất cả 25 điều khoản hoàn toàn ủng hộ và đề cao cuộc chiến đấu kiêu hùng của quân, dân miền Nam cũng như những đóng góp đáng kể của cộng đồng người Việt tự do sau khi sang Mỹ và đến định cư ở Virginia.

Tháng 2 vừa qua, vào ngày 10 tháng 2, 2014, để đánh dấu một năm Nghị quyết 455 được thông qua ở Virginia, TNS Dick Black đã mời một phái đoàn cộng đồng từ Virginia DC Maryland và một phái đoàn từ Richmond, thủ phủ của tiểu bang, đến một buổi họp của Thượng viện để ông có dịp đề cao VNCH và Quân lực VNCH. Phái đoàn từ Virginia DC Maryland, ngoài ông Chủ tịch Cộng đồng Ðoàn Hữu Ðịnh (cựu sĩ quan Lôi Hổ), ông Phó chủ tịch Nguyễn Mậu Trinh (cựu sĩ quan Mũ Ðỏ, đồng thời là hội trưởng Hội Cao Niên vùng HTÐ), còn có Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng và Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi đại diện cho bên quân đội, và ông Lý Hiền Tài, cựu dân biểu VNCH, nghĩa là đủ cả đại diện Hành pháp lẫn Lập pháp và Quân lực VNCH. Ngoài ra còn mấy “bà mẹ VN” mặc áo dài vàng ba sọc đỏ. Bên cộng đồng Richmond có ông Phan Ðức Tính, một doanh gia và nhân sĩ nổi tiếng trong vùng, cô Lan Trần giám đốc Phòng Thương mại Á châu Virginia, ông Huỳnh Văn Hiệp đại diện Hòa Hảo, ông Phạm Toàn đại diện Công Giáo, một phái đoàn Cao Ðài (Trần Quang Sĩ, Lê Hùng, Trần Thị Tuyết Anh), Hòa Thượng Kim Cang đại diện Phật Giáo, và Mục Sư Tin Lành Nguyễn Minh Hà, chưa kể một số quân nhân (Người Nhái, Biệt Ðộng Quân, v.v…), nghĩa là đủ cả bên dân sự, quân nhân lẫn tôn giáo. Ngoài ra, từ Cali về còn có ông Hồ Văn Sinh của VNCH Foundation và cô Phạm Diễm Chi, nữ quân nhân.

Giới thiệu phái đoàn VN (khoảng 40 người), TNS Dick Black nói: “Chưa bao giờ chúng ta được đón ở trong phòng hội này một phái đoàn nhiều anh hùng đến như thế!” Rồi ông giới thiệu mấy nhân vật chủ chốt với từng người được mô tả qua vài hàng tiểu sử vắn tắt. Tiếp lời ông là ông chủ tịch Thượng Viện chào mừng phái đoàn rồi ông yêu cầu toàn thể hội trường nghênh đón phái đoàn đến thăm Thượng Viện. Tất cả 40 thượng nghị sĩ đứng lên vỗ tay ran và cuộc “standing ovation” này đã kéo dài gần 3 phút.

Tưởng cũng nên nhắc, Virginia là tiểu bang đầu tiên công nhận cờ vàng, tiểu bang đầu tiên công nhận ngày “Chiến Sĩ Cho Tự Do” (Freedom Fighters Day) vào đúng ngày Quân Lực VNCH (19 tháng 6), và cũng là tiểu bang vận động mạnh cho ngày Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Day) mỗi năm ở trên Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 5. Với Nghị quyết J.R. 455, Virginia là tiểu bang đầu tiên công nhận quân, dân, cán, chính và vinh danh Quân Lực VNCH trong cuộc chiến cho tự do, dân chủ ở Việt Nam.

Ðược hỏi, nhân dịp gì mà ông Dick Black có mặt ở Quận Cam cuối tuần này, ông Bích cho biết: “Trước hết là ông muốn gặp gỡ người Việt và nhất là các chiến hữu của ông ở thủ đô tỵ nạn.” Sau là vào 10 giờ sáng Chủ Nhật, 30 tháng 3, ông sẽ đến tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ để dâng hoa tưởng nhớ đến các chiến sĩ VNCH cũng như các chiến sĩ đồng minh Mỹ. Sau, đến 4 giờ chiều cùng ngày, sẽ có một bữa cơm tiếp đón ông ở Emerald Bay và nghe ông nói vì sao ông đã thúc đẩy Nghị quyết J.R. 455 ở Virginia.” Ông Bích còn cho biết sau Virginia, Ủy Ban Lâm Thời VNCH và Nghị hội sẽ còn tiếp tục đi vận động với một số tổ chức và cơ quan bạn để làm sao có được những nghị quyết tương tự ở một số tiểu bang khác nữa, nhất là ở những nơi nào có đông người Việt.

Ông Dick Black cũng mong được gặp các cơ quan truyền thông ở trong vùng tại một buổi họp báo vào lúc 3 giờ chiều Thứ Bảy, 29 tháng 3, ở Hội quán Văn hóa Nghệ thuật của nhà báo Lý Kiến Trúc ở nhà hàng Zen, để giải tỏa một vài ngộ nhận chung quanh Nghị quyết J.R. 455.

*

Buổi Vinh Danh Quân, Dân, Cán, Chính Viet Nam Cong Hoa

*

IMG_5889

*
Monday, March 17, 2014 2:31:30 PM


SANTA ANA (NV) – Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cùng một số thân hữu sẽ tổ chức ‘Ngày Vinh Danh Quân, Dân, Cán, Chính, Việt Nam Cộng Hòa’ vào lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, 30 Tháng Ba, tại Nhà Hàng Emerald Bay, 5015 W. Edinger Ave, Santa Ana, CA 92703.

                                 IMG_3883

 

Thư mời gửi ngày 16 Tháng Ba có đoạn: “Kính gởi: Quý vị Quân Nhân đã từng tham gia chiến đấu trong các Quân Binh Chủng của Quân Lực VNCH, quý vị là công chức, cán bộ hay nhân viên đã từng phục vụ trong guồng máy Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, và quý vị đã từng là công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa.”

Thư nhắc đến ngày 22/2/2-2013, là ngày Lưỡng Viện Quốc Hội Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ, thông qua Nghị Quyết JR 455 với số phiếu thuận 139/140, vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa, và ngày 10/2/2014 khi Lễ Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức tại Tòa Nhà Quốc Hội Tiểu Bang Virginia với sự có mặt của 40 thượng nghị sĩ, 40 người tiêu biểu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và nhiều đại diện tôn giáo.

Ban tổ chức cũng cho biết, “ngày 30/3/2014 sắp tới nối tiếp sẽ là một buổi lễ vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa tổ chức tại Little Saigon Nam California,” và cho biết sẽ có sự tham dự của vị thượng nghị sĩ Dick Black, tác giả nghị quyết JR 455.

Để liên lạc ban tổ chức, quý vị có thể gọi vào số 703-220-0491, 714-722-8129, hoặc 714-962-1452. (T.A.)

*

IMG_9660

*

XEM HỒ CHÍ MINH VÀ ÐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM CHỈ LÀ LOẠI RÁC RẾN BÊN ÐƯỜNG LÀM BẨN GÓT CHÂN, NAY 90 TRIỆU DÂN VIỆT NÔ NỨC CHUẨN BỊ ÐẠI LỂ TƯỞNG NIỆM CỐ TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỌNG HÒA NGUYỄN VĂN THIỆU TẠI THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA

*

VINH DANH TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỌNG HÒA NGUYỄN VĂN THIỆU

*

IMG_5701

*

IMG_4426

IMG_4426

*

Hình trên là Cố Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa Nguyễn Văn Thiệu
Hình dưới là Ðệ nhất phu nhân Tổng Thống Việt nam cọng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đang đọc diển văn trong Buổi lể Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Thiệu tại thủ đô người Việt hải ngoại Little Saigon Nam California Hoa Kỳ tháng 9 năm 2013

*

IMG_3426

IMG_3421

IMG_3417

IMG_3600

IMG_3601

IMG_3607

IMG_3614

IMG_3590

IMG_3599

IMG_3586

*

VÌ KHINH ÐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM CHỈ LÀ LOẠI RÁC RẾN BÊN ÐƯỜNG LÀM BẨN GÓT CHÂN, NAY 90 TRIỆU DÂN VIỆT TRONG NGOÀI NƯỚC NÔ NỨC CHUẨN BỊ ÐẠI LỂ TƯỞNG NIỆM CỐ TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỌNG HÒA NGUYỄN VĂN THIỆU TẠI THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA LÚC 10 GIỜ SÁNG NGÀY THỨ BẢY 28 THÁNG 9 NĂM 2013 KHUÔN VIÊN ÐÀI TƯỞNG NIỆM CHIẾN SỈ VIỆT MỶ

*

THỦ ÐÔ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON WESTMINSTER NAM CALIFORNIA CHUẢN BỊ ÐẠI LỂ TƯỞNG NIỆM RẤT LONG TRỌNG
CỐ TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỌNG HÒA NGUYỄN VĂN THIẸU VÀO NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2013

*

Chuẩn Bị Lễ Tưởng Niệm Cố TT Nguyễn Văn Thiệu 28-9

*

(08/24/2013)

Westminster (Bình Sa)- – Tối Thứ Năm ngày 22 tháng 8 năm 2013, tại văn phòng Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, Ban tổ chức Lễ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có một buổi họp để thông báo một số công tác đã thực hiện sau một tháng chuẩn bị và phân công cho các đơn vị tham dự để thực hiện một số công tác.

Buổi họp dưới sự chủ tọa của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, nguyên Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục, Trưởng Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm, tham dự buổi họp có qúy vị đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai, qúy vị đại diện: Tập Thể Chiến Sĩ, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, đại diện một số các hội cựu quân nhân thuộc các Quân binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một số các hội đồng hương và hội đoàn, đoàn thể.

Sau khi nghe Ông Nguyễn Thành Điểu tường trình một số công tác đã thực hiện, trong dịp nầy ông cũng cho biết tính đến ngày họp đã có 20 đơn vị ghi danh tham dự.

Trong hình một số các thành viên trong ban tổ chức.
Được biết Lễ Tưởng Niệm có sự hiện diện của Phu Nhân Cố Tổng Thống và một số qúy vị cựu tướng lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Buổi lễ sẽ được tổ chức vào lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy ngày 28 tháng 9 năm 2013 tại khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ số 14181 All American Way Westminster CA 92683
Chương trình có phần đặt vòng hoa tưởng niệm, để tiện việc sắp xếp. Ban tổ chức xin thông báo để các đơn vị nào muốn đặc vòng hoa xin liên lạc về các số điện thoại sau:

Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm (714) 867-6109, LS. Nguyễn Xuân Nghĩa (714) 423-8888, Nguyễn Phục Hưng (714) 638-7276, Phan Kỳ Nhơn (714) 548-0440, Nguyễn Thành Điểu (213) 631-1060, Nguyễn Nam Hà (714) 260-1962, Đoàn Hữu Định (703) 475-6186, Nguyễn Xuân Tám (703) 868-5430.

Thủ đô Little Saigon Nam California Hoa Kỳ tháng 9 năm 2013

*

IMG_9660

*

DƯỚI ÐÂY LÀ CÁC HÌNH ẢNH VỀ CUỘC VIẾNG THĂM VÀ NÓI CHUYỆN VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỌNG HÒA CỦA NGUYÊN THỦ TƯỚNG VIỆT NAM CỌNG HÒA LÀ ÐẠI TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM NĂM 2010 TẠI THỦ ÐÔ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ

*

IMG_4616

IMG_4619

IMG_4716

IMG_4717

*

IMG_5701

Camera moi 49 013

*

Hình trên là buổi tiếp đón Cựu Thủ Tướng Việt Nam Cọng Hòa Trần Thiện Khiêm đến thăm và đặt vòng hoa tại Ðài Tưởng Niệm Chiến Sỉ Việt Mỷ

*

IMG_4633

*

IMG_3868

*

SỨC MẠNH CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠI VIỆT NAM

*

SỨC MẠNH CỦA VIỆT NAM CỌNG HÒA VÀ CỦA CÁC NHÀ DÂN CHỦ VIỆT NAM LÀ VÔ ÐỊCH. HIỆN NAY LỰC LƯƠNG VIỆT NAM CỌNG HÒA TẠI VIỆT NAM PHỎNG ÐOÁN LÀ 20 TRIỆU THÀNH VIÊN VÀ GIA ÐÌNH HỌ ÐANG ÐÓNG ÐÔ KHẮP VIỆT NAM. ÐÂY LÀ MỘT ÐẶC TÍNH MÀ XÃ HỘI TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ VÌ NGƯỜI ÐÀI LOAN KHÔNG CÓ KINH NGHIỆM CHỐNG CỌNG MẠNH NHƯ NGƯÒI VIỆT NAM

LỰC LƯỢNG VIỆT NAM CỌNG HÒA ÐANG TRÊN ÐƯỜNG ÁP ÐẢO MẤY TRIỆU ÐẢNG VIÊN CỌNG SẢN VIỆT NAM THAM Ô ÈO UỘT MẤT TINH THẦN LẠI GIAO ÐỘNG ÐANG MANG CỦA CẢI BẤT LƯƠNG THÁO CHẠY.

LỰC LƯỢNG XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM, LỰC LƯƠNG CÁC BLOGGERS VIỆT NAM, LỰC LƯƠNG CÁC NHÀ DÂN CHỦ VIỆT NAM, LỰC LƯỢNG 20 TRIỆU THÀNH VIÊN VIỆT NAM CỌNG HÒA, TẤT CẢ HỌ ÐANG NHÌN NGẮM CÁCH THỨC SẼ TIẾP THU CHÍNH QUYỀN TRÊN TÒAN QUỐC VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO SAO CHO GỌN NHẸ, KHI BIỂU TÌNH CÁCH MẠNG QUYỀN CON NGƯỜI BÙNG NỔ LỚN TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NGÀY SẮP TỚI.

ÐÚNG VẬY , CHẾ ÐỘ VIỆT NAM CỌNG HÒA TUYỆT VỜI ÐANG TỒN TẠI RẤT MẠNH TẠI VIỆT NAM VÀ KHẮP THẾ GIỚI VÌ SỨC MẠNH CỦA LẺ PHẢI CỦA DÂN CHỦ CỦA CHÂN LÝ LÀ GHÊ GỚM VÀ KHÔNG GÌ XÔ NGẢ ÐƯỢC.

THẬT ÐÁNG KHÂM PHỤC CHẾ ÐỘ VIỆT NAM CỌNG HÒA LÀ MỘT CHẾ ÐỘ CỦA DÂN DO DÂN VÀ VÌ DÂN. MỘT CHẾ ÐÔ MÀ TƯỚNG TÁ SẲN SÀNG CHẾT THEO THÀNH KHI THÀNH MẤT VỀ TAY GIẶC

Sỉ phu Việt nam

IMG_6370

IMG_6181

Chuyên gia Trần Cư
https://siphuvietnam.wordpress.com

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

30 THÁNG 4 : NGÀY ” VIỆT NAM CỌNG HÒA ” CHÍNH NGHĨA ÐÃ TỎA SÁNG VÀ VINH DANH TẠI NGHỊ VIỆN VIRGINIA HOA KỲ

*

IMG_3883

*

Virginia kỷ niệm một năm NQ J.R. 455, vinh danh Viet Nam Cong Hoa  và quân đội
Wednesday, February 05, 2014 8:08:04 PM

*

RICHMOND, Virginia (NV) – Sáng Thứ Hai, 10 Tháng Hai, tới đây, Hạ Viện Virginia sẽ tổ chức một buổi lễ chào mừng và vinh danh Viet Nam Cong Hoa và Quan Luc Viet Nam Cong Hoa, mà nhiều người giờ đây đã thành công dân Mỹ với những đóng góp vào sự thịnh vượng của tiểu bang.
Ðây là kết quả một cuộc vận động lâu ngày do Thượng Nghị Sĩ Dick Black (Cộng Hòa-Ðịa Hạt 13), một cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam, khởi xướng.

*

IMG_4759

*

Thượng Nghị Sĩ Dick Black. (Hình: aattp.org)
Dù đơn vị của ông không có bao nhiêu cử tri người Mỹ gốc Việt, ông vẫn nhớ đến những chiến hữu Việt Nam của ông và muốn đem lại sự công bằng cho họ và quốc gia của họ vì ông cho rằng miền Nam Việt Nam đã bị những quan điểm chống chiến tranh (antiwar) biến thành một xã hội xấu xa, tham nhũng, không có dân chủ.

Ông muốn sách giáo khoa của Mỹ phải trả lại sự thật cho cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân miền Nam trong hơn một phần tư thế kỷ.
Do vậy nên ông đã vận động với các đồng viện và thúc đẩy việc ra Nghị Quyết S.J. 455 (sau thành J.R. 455) “Ngày Công Nhận Miền Nam Việt Nam” (South Vietnamese Recognition Day), cuộc đấu tranh can trường của QLVNCH và sự đóng góp to lớn của người Mỹ gốc Việt vào sự thịnh vượng của tiểu bang Virginia.

Vào Tháng Hai năm ngoái, nghị quyết này đã được lưỡng viện Quốc Hội Virginia thông qua với một đa số áp đảo.
Ðể kỷ niệm một năm Nghị Quyết J.R. 455, Thượng Nghị Sĩ Dick Black đã mời một phái đoàn cựu quân nhân và viên chức VNCH đến Richmond để được ghi nhận và vinh danh như những chiến sĩ can trường của một quốc gia và quân lực đồng minh lâu năm của Hoa kỳ.

Ðược biết trong phái đoàn đi Richmond Thứ Hai này có mấy vị tướng cũng như đại diện lập pháp và hành pháp của VNCH bên cạnh các đại diện cộng đồng vùng DC Maryland Virginia cũng như ở miền Trung Virginia và đại diện các tôn giáo.

Trong thời gian tham chiến tại Việt Nam, ông là một phi công trực thăng chuyên chở hàng trăm binh sĩ và sĩ quan VNCH vào chiến trường cũng như chở họ về trong những chuyến tải thương, nhiều khi trong những tình cảnh lửa đạn rất là nguy khốn.

Từ đó, theo ông kể lại, ông đã cảm thấy ngày càng nể trọng thái độ kiên cường và chịu đựng vô bờ bến của người lính VNCH, nhất là binh chủng Biệt Ðộng Quân mà ông đã có dịp đi hành quân chung mà cũng lần đó ông đã bị thương khá nặng.

Sau khi rời quân đội với cấp bậc đại tá, ông đi học lại và quay sang làm nghề luật sư trước khi đi vào chính trị.
Sau khi thắng cử chức dân biểu tiểu bang, đại diện Ðịa Hạt 33, vài nhiệm kỳ, ông ứng cử thành công chức thượng nghị sĩ. (N.N.B.)

*

IMG_9660

*

IMG_3857

*

Việt Nam Cọng Hòa Được Vinh Danh Ở “Quôc-Hội” Virginia

*


(02/12/2014)

Tác giả : Tâm Việt
Thứ Hai, 10/2/2014, vừa qua là một ngày lịch-sử đối với nhiều con dân Việt-nam Cộng-hòa ở Virginia. Bởi hôm đó, tên của VNCH và của quân-lực VNCH đã được chính-thức vang lên và vinh danh ngay trong phòng hội lớn của Thượng-viện Virginia với toàn-thể 40 thượng-nghị-sĩ có mặt đứng lên chào đón phái-đoàn đến từ nhiều nơi song chủ-yếu là người Việt quốc gia cư ngụ ở hai miền Bắc và Trung Virginia.

Kỷ-niệm một năm Nghị-quyết J.R. 455

Để kỷ-niệm đúng một năm Nghị-quyết J.R. 455 được thông qua do cả hai viện, tức Thượng-viện và Hạ-viện Đại-nghị-viện Virginia vào ngày 21 và 22/2/2013 (với đa-số gần như tuyệt-đối, 139/140 phiếu thuận), từ trước Tết Thượng-nghị-sĩ Tiểu-bang, ông Dick Black, đã liên-lạc với cộng-đồng Việt-nam ngỏ ý muốn được mời một phái-đoàn đến thủ-phủ Richmond của tiểu-bang, để cho ông ta và các đồng-viện có dịp đích-thân vinh danh một đồng-minh cũ của Hoa-kỳ, tức miền Nam Việt-nam, Việt-nam Cộng-hoà và Quân-lực VNCH.

Đáp ứng lời mời của Ông Black, Cộng-đồng Người Việt DC-Maryland-Virginia đã đứng ra phối-hợp chuyến đi từ Bắc-Virginia, ông Phan Văn Tính, một thương-gia có công-ty xây cất lâu năm ở Richmond liên-lạc với cộng-đồng ở miền Trung-Virginia và các đại diện tôn-giáo (Công-giáo, Phật-giáo, Phật-giáo Hòa Hảo, Cao Đài, và Tin Lành), còn G.S. Nguyễn Ngọc Bích liên-lạc với mấy tiểu-bang ở ngoài Virginia, chủ-yếu là California.

Kết-quả là một phái-đoàn tuy không lớn lắm nhưng vẫn có ít nhiều đại-diện-tính đã được thành-lập để đi xuống dự buổi lễ.

Xuất phát từ Eden Center

7 giờ sáng đúng, xe buýt đã chờ sẵn ở Trung-tâm Thương mại Eden (Falls Church, VA). Người ta thấy ông Nguyễn Văn Đặng chạy qua chạy lại đôn đốc mọi người. Mặc dù ông đã có tuổi, ông vẫn là một vị tự nguyện xăng xái nhất: nào cờ, nào quạt, nào biểu-ngữ (“Vietnamese Community of DC-MD-VA”), rồi đến nước uống, bánh mì kẹp thịt, đủ thứ không thiếu thứ gì (kể cả “napkins,” túi rác và “đĩa DVD Asia Entertainment” để chiếu lên cho bà con coi).

Tuy lúc đầu có lo ngại trên đường có thể bị chậm vì đang sửa đường song cuối cùng, xe cũng đã đi ro ro và đến sớm hơn một tiếng đồng-hồ. Gần 10 giờ, các anh chị em ở địa-phương đã ra đón rước và đi cùng phái-đoàn vào tòa nhà Quốc-hội mà ở Virginia kêu là “Đại-nghị-viện” (“General Assembly”). Mọi người tay bắt mặt mừng, nhất là mấy anh chị em trẻ ở ngay địa-phương đã tỏ ra thật niềm nở thành “lạ trước, quen sau” ngay. Mấy vị lớn tuổi như ông Huỳnh Hiệp (Hòa Hảo) thì đã sinh-hoạt sẵn với cộng-đồng Bắc-Virginia nên rất quen thuộc và không có gì bỡ ngỡ.

Đúng 10 giờ, anh Chris Lore, phụ-tá của Thượng-nghị-sĩ Dick Black hướng-dẫn mọi người lên văn-phòng của Ông Black. Bắt tay, giới-thiệu, vỗ vai, ôm nhau, chả mấy lúc không-khí vui nhộn hẳn lên. Ông Black, một cựu-đại-tá từng tác chiến ở VN trong tư-cách là một phi-công trực-thăng ở Vùng II (xuất phát từ Đà-nẵng), đã kể lại một vài kỷ-niệm chiến-tranh của ông bên cạnh các chiến-sĩ VNCH. Ông còn giữ được một cái mũ sắt của một chiến-sĩ VN bị súng đối-phương bắn vào đầu sém chết, đạn đi xẹt vào nón, bể một miếng đến tận gần vào đầu nhưng may mắn không chọc thủng. Vào văn-phòng ông, người ta cũng để ý thấy có một lá cờ VNCH thật lớn ngang bằng kích thước với cờ Mỹ và cờ Virginia. Ông nói ông rất hãnh diện về lá cờ này—bởi ông đã vào sinh ra tử với không biết bao nhiêu chiến-sĩ VNCH trong 269 chuyến trực-thăng ông lái trong vòng ba “tua” ông sang phục-vụ ở VN.

Sau khi hàn huyên và chuyện trò tíu tít ở trong văn-phòng, ông Black mời mọi người đi ra trước tòa nhà “Quốc-hội” để chụp hình chung trước tượng Thomas Jefferson, cha đẻ của Hiến-pháp đầu tiên của Mỹ, cũng như chính ngay trước tòa nhà “Quốc-hội.”

IMG_4812

Phái đoàn Viet Nam Cong Hoa.

Lễ vinh danh

Khoảng 11g15, anh Chris Lore mời mọi người lên lầu để được hướng-dẫn vào “Gallery” tức phòng đón các quan-khách. Khoảng 20 vị nằm trong danh-sách chính-thức được sắp xếp để ngồi phía trước còn những vị trong cộng-đồng thì ngồi hàng ghế sau.

Đúng 12 giờ, ông chủ-tịch Thượng-viện gõ búa gỗ để báo phiên họp bắt đầu. Ông Black là người gần như đầu tiên được mời phát biểu. Ông đứng lên và nói đã đến lúc cần phải nhắc đến một đồng-minh lâu năm của Hoa-kỳ, nhiều năm chiến-đấu thật can trường trước sự xâm-lăng của CS Bắc-Việt được cả khối CS quốc-tế ủng-hộ, đứng đằng sau. Ông nêu ra những trường-hợp như:

Tết Mậu-thân (1968), tuy nhiều đơn-vị miền Nam cho quân về nghỉ phép (vì tin lời hưu chiến của CS) song không có đơn-vị nào bỏ chạy cả. Trái lại, khi các quân-nhân nghỉ phép trở về, quân-đội VNCH đã đánh bại cuộc tổng-tấn-công của CS đến mức thảm-hại.

Hay Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), tuy quân-đội Hoa-kỳ không còn được tham-chiến dưới đất nữa song Quân-lực VNCH đã đứng vững ở An-lộc “anh-dũng” cũng như đánh bật CS ra ở Kontum và tái-chiếm Quảng-trị trong một chiến-công vang lừng (“Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu / Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…”).

Rồi ông cũng nhắc đến chiến-công “oanh-liệt” của Hải-quân VN chống lại hải-quân Trung-Cộng ở Hoàng-sa (ngày 19/1/1974), một cuộc chiến “can trường trong chiến-bại” song vẫn giữ được chính-nghĩa cho miền Nam.

Để làm chứng cho quân-lực VNCH và cả nền dân-chủ phôi-thai của miền Nam, Thượng-nghị-sĩ Dick Black đã nhắc đến các vị tướng hiện diện như Đề-đốc Đinh Mạnh Hùng, Thiếu-tướng Trần Quang Khôi hay cựu-Dân-biểu Lý Hiền Tài. Ông cũng giới-thiệu các ông Đoàn Hữu Định, Chủ-tịch Cộng-đồng DC-MD-VA, Nguyễn Mậu Trinh, chủ-tịch Hội Cao Niên, các đại diện tôn-giáo (Phật-giáo, Công-giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành) cũng như mấy nhân-vật nổi trong cộng-đồng Richmond (các ông Phan Văn Tính, Tăng Văn Tuệ, Châu Thành, các bà Phạm Thị Minh Trâm, Lan Trần) bên cạnh mấy cựu-quân-nhân (Nguyễn Văn Tiến, Người nhái, và Văn Kỳ, Biệt-động-quân).

Từ xa nhất, California, ông Black cũng giới-thiệu ông Hồ Văn Sinh và cô Diệu Chi thuộc VNCH Foundation. Tóm lại, mỗi khi nhắc đến tên ai thì vị đó được mời đứng lên. Ngoài ra còn có một số đồng-bào cũng đến dự, như nhóm “Các bà mẹ VN” mặc áo dài màu cờ (vàng 3 sọc đỏ) trông thật rực rỡ. Sau khi phái-đoàn được nêu đích-danh và được mời đứng lên, ông chủ-tịch Thượng-viện đã góp thêm lời chào mừng của ông và sau đó, toàn-thể 40 vị Thượng-nghị-sĩ đã đứng lên chào đón phái-đoàn bằng một tràng vỗ tay thật lâu mà tiếng Mỹ gọi là “standing ovation” kéo dài cả mấy phút. Có người cảm-động đến rớt nước mắt.

Đến làm tin có Đài SBTN địa-phương do cô Destiny Huỳnh đảm trách phần phỏng vấn, chưa kể bên cạnh phái-đoàn đi từ Bắc Virginia còn có hai nhiếp-ảnh-gia chuyên-nghiệp (anh Khánh, nhiếp-ảnh-gia quân-đội, và anh Nhất Hùng) và vài nhà báo viết khác. Được hỏi, ai cũng cho đây là một buổi lễ lịch-sử, lần đầu tiên sau gần 40 năm, chỗ đứng của VNCH và Quân-lực VNCH được chính-thức ghi nhận trong một “quốc-hội” tiểu-bang. Theo nhận xét của ông Đoàn Hữu Định, Nghị-quyết J.R. 455 là “một nghị-quyết rất tốt, đáng được đón nhận một cách thật vui vẻ và chân-tình bởi không riêng gì cộng-đồng VN ở Virginia mà còn trên cả toàn-quốc Hoa-kỳ.”

Trước khi chia tay, Thượng-nghị-sĩ Dick Black nói: “Không những đây là một cơ-hội để chúng tôi trả lại sự thật cho VNCH và các quân-nhân VNCH. Chúng tôi còn mong nghị-quyết này sẽ về tận Việt-nam để con cháu của quý-vị và hàng triệu quân-nhận VNCH có thể hãnh-diện về việc làm của cha ông họ, biết là họ đã hy-sinh anh-dũng cho lý-tưởng tự do và tương-lai của đất nước của họ.”

Và trước khi ra về, phái-đoàn ở xa còn được cộng-đồng địa-phương khoản đãi một bữa cơm thịnh soạn và thật ngon miệng ngoài những tình-cảm thân thương đã được trao đổi nhân dịp này.

*

IMG_9660

*

Thượng Nghị Sĩ Black giải thích về Nghị Quyết SJ455
Friday, April 12, 2013 2:29:16 PM

*
Nguyễn Ngọc Bích

*

Sau khi có tin là Nghị quyết Lưỡng viện SJ455 của Virginia đã được thông qua để lập ra một “Ngày Việt Nam Cộng Hòa” (Republic of Vietnam Day) ở Virginia, nhiều người đã gọi về để chia sẻ sự mừng vui khi nhận được tin này.

Từ Seattle, Washington State, cựu Ðại Tá Phạm Huy Sảnh đã yêu cầu gởi cho ông và các bạn thuộc nhiều binh chủng trong Quân Lực VNCH miền Tây bắc bản văn của nghị quyết bằng tiếng Anh để xem có thể đưa ra được những nghị quyết tương tự ở các tiểu bang miền Tây Bắc Hoa Kỳ hay không. Giáo Sư Nguyễn Chính Kết ở Houston, Texas, cũng gọi lên ca ngợi việc làm này của đồng bào ở Virginia. Từ Arizona cũng có người yêu cầu được có bản tiếng Anh “để vận động ở Arizona” cho một bản nghị quyết tương tự.

Chương trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt ở Nam Cali cũng ngỏ ý muốn được phỏng vấn về câu chuyện hình thành nghị quyết tiên phong này. Từ Paris, một cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên cũng muốn có một bản tiếng Anh để phổ biến đến các bạn ở Âu Châu.

Nhưng đặc biệt nhất là có một vị, ký tên Thi Kham Nguyen ở Côte d’Azur miền Nam nước Pháp, đã điện cho Thượng Nghị Sĩ Dick Black, người đỡ đầu cho Nghị quyết SJ455 từ những ngày đầu tiên cho đến khi nó được thông qua vào tháng 2, 2013. Ðiện thư của vị phụ nữ này viết gỏn gọn có mấy chữ: “Thank you for VN Day that you’re agreed with us: Republic VN Day+Forever” (“Cám ơn thượng nghị sĩ đã đồng ý với chúng tôi về một Ngày VN: Ngày VNCH Mãi Mãi”). Vì văn phòng TNS Dick Black không rõ về giới tính của người viết điện thư nên đã trả lời và xem đó là một người đàn ông. Văn phòng ông đã chuyển đến cho chúng tôi nội dung lá thư và xin một bản dịch Nghị quyết S455 sang tiếng Việt để có thể gởi cho vị phụ nữ nói trên. Chúng tôi đã cho văn phòng ông biết người viết là một phụ nữ, nhưng dưới đây chúng tôi xin dịch nguyên văn thư trả lời lúc ban đầu của TNS Black. Thiết tưởng lá thư này cũng giải tỏa được một số thắc mắc mà người Việt chúng ta có thể có được về nghị quyết vừa thông qua ở Virginia. Lá thư có tiêu đề của văn phòng TNS Black với nội dung như sau.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Thưa ông Nguyễn:

Cám ơn ông đã gửi cho tôi điện thư về nghị quyết mà tôi đã thảo ra và đưa ra khóa năm nay, 2013, để cho Ðại Nghị Viện Virginia thông qua. Nghị quyết đặt ra lệ là kể từ nay, ngày 30 tháng 4 sẽ được đánh dấu như Ngày Việt Nam Cộng Hòa ở Virginia. Nghị quyết đó đã được đồng thanh biểu quyết ở Thượng Viện và chỉ có một phiếu chống trong số 100 dân biểu ở Hạ Viện.

Tôi viết nghị quyết trên là để tạo ra một văn bản lịch sử chính xác và vĩnh viễn về sự can trường của người Nam Việt Nam đã chiến đấu chống bạo quyền Cộng sản. Nghị quyết ghi lại cái dã man ác độc của bọn đồ tể đã cưỡng chiếm được miền Nam. Nó nêu ra chuyện hai triệu người đã bỏ trốn khỏi “Thiên đàng Nhân dân” của tên độc tài khát máu Hồ Chí Minh. Nó kể lại chuyện những quân nhu quân cụ bị cắt đứt, làm cho những chiến binh anh dũng của Quân Lực VNCH đã không còn đạn dược để tiếp tục chiến đấu, và chuyện hơn một triệu người vô tội đã bị gởi đi đến các trại tập trung, nơi dây khoảng 1/3 số người trong đó đã chết.

Hiệp Hội Thương Mại Á Châu đã mời một nhóm cựu quân nhân và cựu cảnh sát VNCH đến văn phòng của tôi để bàn thảo cái nghị quyết và đảm bảo là nó chính xác. Tôi biết ơn ông Tính Phan, chủ tịch, và bà Mỹ Lan Trần, giám đốc điều hành của hiệp hội, đã đứng ra tổ chức buổi gặp gỡ đó. Tôi cũng biết ơn ông Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Ban Ðiều Hợp Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, là đã đóng vai trò hướng dẫn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cũng như Thượng Nghị Sĩ Toddy Puller và các dân biểu Mark Keam và Bob Marshall, mỗi một vị này đã có một vai trò đặc biệt trong việc biến nghị quyết thành hiện thực.

Chúng tôi đang dịch nghị quyết sang tiếng Việt, và tôi mong rằng nghị quyết này sẽ vào được tận Việt nam hiện đang bị [CS] chiếm đóng. Nhân dân Việt Nam đáng được biết là tiểu bang Virginia công nhận sự can trường của người miền Nam VN trong chiến đấu và rằng những hy sinh của họ sẽ không bị lãng quên.

Là một phi công, tôi đã chuyên chở hàng trăm binh sĩ VNCH đi vào chiến trường. Như một sĩ quan bộ binh thuộc Trung Ðoàn 1 TQLC Mỹ, tôi đã tham dự nhiều trận chiến dưới đất vai kề vai với các binh sĩ VNCH anh dũng.

Trước khi rời VN, tôi bị thương trong một trận ở sông Hội An, ở phía Nam Ðà Nẵng. Tôi hy vọng là những người con, trai cũng như gái, của những anh hùng đã chiến đấu để bảo vệ tự do của Việt Nam Cộng Hòa sẽ học được sự thật khi nghị quyết này về đến tận Việt Nam đang bị [CS] chiếm đóng cũng như đi ra khắp thế giới.

Thân kính,

[ký tên]

Richard H. Black
Thượng nghị sĩ Virginia, đơn vị 13

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

Phân tích một số điểm vì sao xã hội Việt Nam hôm nay thê thảm đến như vậy, như bài viết dưới đây. Ðọc thật nảo lòng cho một xã hội Việt nam cọng sản nát bét như tương :

 

–       Ðảng cọng sản Việt nam hiện nay và lá cờ Việt nam cọng sản hiện nay là do ngoại bang dựng nên. Ngoại bang ở đây là Trung quốc. Những người chỉ huy đảng cọng sản Việt nam hiện nay thành thật mà công nhận rằng dốt nát mà bướng chỉ biết tiền chứ chẳng biết gì cả

 

–       Tứ trụ Trọng, Sang , Dủng, Hùng đều tham nhủng billions of dollars. Riêng Dủng tham nhủng multi-billons of dollars

 

–       Kẻ đang ngồi viết đây là một chuyên gia lâu năm từ Việt Nam biết rất rỏ cọng sản Việt Nam và biết rất rỏ chế độ Việt nam cọng hòa trước 1975 ở miền Nam Việt Nam

 

–       Nếu so với miền Nam Việt nam thì ông Tổng Thống Thiệu trước đây dù có bị dư luận miền Nam lúc đó trước 1975 chê không được giỏi lắm

 

–       Nhưng sau này các tài liệu phơi bày cho thấy riêng về ngoại ngử ông Thiệu nói giỏi ít nhất ba thứ tiếng khi báo chí tây phương phỏng vấn ông gồm Việt, Anh, Pháp

 

–       Ông Thiệu làm Tổng Thống nhiều năm mà nay xem lại nhà mẹ ông ở tỉnh Ninh Thuận vẫn sống đời nghèo đạm bạc nhà cửa bình dân trong vùng bình dân

 

–       Ông xuất thân là một Trung Tướng quân đội trước khi ứng cử chức vụ Tổng Thống trong thể chế dân chủ đa đảng của miền Nam Việt Nam

 

–       Năm 1974 khi Hoa Kỳ ký kết rút quân về nước để chấm dứt chiến tranh Việt nam thì cũng là lúc Trung quốc lợi dụng Hoa Kỳ đang rời Việt Nam để Trung quốc ồ ạt xua quân vào chiếm đảo Hoàng sa của Nam Việt Nam

 

–       Dù thế yếu nhưng Tổng Thống gốc Trung Tướng quân lực Viẹt Nam cọng hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn ra lệnh đánh Trung quốc quyết giữ đảo của tổ tiên giòng giống Việt

 

–        Phía Trung quốc bị Hải quân Việt Nam Cọng hòa bắn cháy banh xác trước một chiếc tàu nhưng sau đó hải quân miền nam Việt Nam đành chịu tổn thất nặng trước hoả lực địch

 

–       Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đưa ngay sự việc Trung quốc xâm lược đảo Hoàng Sa của Nam Việt nam lên Liên Hiệp quốc ngay sau đó.  Ðồng thời nghiên cứu phương thức đánh đuổi giặc bảo vệ biên cương tổ quốc như tổ tiên Việt Nam thời trước đã làm

 

–       Ngày nay trước tình thế nhiểu nhương thê thảm của 90 triệu dân Việt. Nếu đem so sánh cố Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa Nguyễn Văn Thiệu  với tứ trụ lảnh đạo cọng sản Hà Nội hiện tại thì ông Thiệu đúng là bậc thầy là mẩu mực mà dân Việt Nam mong ước

 

–        Lịch sử đã chứng minh ông Tổng Thống Thiệu là một nhân vật tài năng đức độ không tham nhủng xứng đáng lảnh đạo nước Việt Nam hơn hẳn bộ tứ trụ lảnh đạo cọng sản Việt nam hiện nay gồm Trọng, Sang, Dủng và Hùng.

*

IMG_5661

*

Dân khí suy đồi và trách nhiệm con người

*

Nhà văn Võ Thị Hảo

Gửi cho BBC Việt ngữ từ Hà Nội
Cập nhật: 14:57 GMT – chủ nhật, 4 tháng 8, 2013

Nhà văn Võ Thị Hảo nói ít người dám lên tiếng chống lại cái ác

“Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ… Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù…

“Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn…”

(Phan Bội Châu –Bức thư viết bằng máu và nước mắt từ đảo Lưu Cầu)

*

Chuyện cướp bóc ở làng Vĩ Đại

*

Làng ấy nhỏ, nhưng có tính vĩ cuồng nên tự đặt tên là làng Vĩ Đại.

Ông Cột sống giữa làng Vĩ Đại gồm ba mươi ba người. Xung quanh có ông Kèo, bà Ninh, người làng cùng một số côn đồ.

Đám côn đồ chuyên hà hiếp cướp đoạt. Mỗi tháng tại làng có trung bình 9 vụ cướp bóc.

Người làng nhìn thấy nhưng lờ đi, chỉ đến khi mình là nạn nhân, mới kêu khóc thì đã muộn.

Không đành lòng, ông Cột, ông Kèo và bà Ninh bèn bênh vực những nạn nhân. Đám côn đồ phải chùn tay. Số vụ cướp bóc giảm còn 6.

Đám côn đồ ấy tức lắm, một hôm liền dựng ra một vụ đánh ghen, xúm lại đánh ông Cột, đã thế còn hô hào dân làng vào đổ tội, bêu riếu, làm nhục, làm chứng giả.

Ông Cột bị ném đá gẫy nát một chân, rồi từ đó cũng ê chề vì người làng xử ác, không dám lên tiếng nữa.

Số vụ cướp bóc tăng lên 1/3, lại trở thành 9 vụ.

Ông Kèo và bà Ninh vẫn liều mạng bênh vực người lành. Bọn côn đồ thấy chiêu dối trá bạo lực hiệu quả, liền đổ cho ông Kèo tội ăn cắp. Tòa án làng dẫu biết Kèo vô tội nhưng vẫn tống Kèo vào ngục.

Thế là chỉ còn bà Ninh đơn thương độc mã. Số vụ cướp bóc tăng lên thành 15. Thu nhập của đám côn đồ tăng theo. Mỗi tháng, tại làng Vĩ Đại có khoảng 15 nạn nhân.

Bọn chúng được đà, lại đổ tội làm giấy tờ giả, đưa tiếp bà Ninh vào tù. Số vụ cướp bóc tăng lên 20 rồi 25…

Bây giờ thì những người không phải côn đồ đều trở thành nạn nhân. Nhiều người trong đám côn đồ cũng bị kẻ mạnh hơn hà hiếp.

Lúc đó, có người dân làng Vĩ Đại mới đập đầu kêu khóc mà rằng: Bây giờ chúng ta dở sống dở chết, chẳng còn ai cứu giúp. Giá như ngày trước chúng ta dám kêu lên, không mặc kệ ân nhân bị hành hạ, không làm chứng dối, ném đá tiếp tay cho bọn cướp hãm hại người lành thì đâu đến nông nỗi này…”

Sự dối, bạo lực và dân khí suy đồi

Câu chuyện trên đây là thực tế đang có ở nhiều nơi tại VN, khi rất nhiều người trong chúng ta đã bỏ qua lương tri và sự thật, im lặng, vô cảm trước sự oan khuất của đồng bào mình.

Nhiều người đã từng chua chát tự hỏi, trong đám đông chen chúc kia, trong đồng nghiệp, trong hàng xóm, trong bạn bè, trong những nhà chức trách tại cơ quan đoàn thể… khi chúng ta làm điều đúng, khi bị oan khuất, liệu có bao nhiêu người trong số họ dám đứng ra nói sự thật và bênh vực ta?

Ai? Hy vọng nào ở đám người hoặc hèn nhát hoặc tham lam vô cảm chỉ sáng tối làm bóng lộn bộ da và căng đầy cái dạ dày của mình, sống chết mặc bay?

Hy vọng nào từ đa số dân biểu, quan chức, cơ quan đoàn thể, nhà báo, luật sư, văn nghệ sĩ, quan tòa, quân đội, công an, nhà khoa học, nhà giáo… – những người có công cụ ngôn ngữ, quyền lực hoặc vũ khí có thể bảo vệ công lý nhưng đã và đang cúi đầu khoanh tay câm lặng, chỉ lên tiếng khi đụng đến quyền lợi của chính họ?

“Đa phần mọi người đều nói rằng tìm người có dũng khí và trung thực bây giờ thật khó như tìm kim đáy biển.”

Đa phần mọi người đều nói rằng tìm người có dũng khí và trung thực bây giờ thật khó như tìm kim đáy biển.

Chính bởi thế, chúng ta là số đông, gần cả trăm triệu người, nhưng lại bị gọi là một đám đông hèn yếu, thậm chí còn không dám mở miệng cất lời bảo vệ chính mình, cam tâm nô lệ, còn nói gì đến việc bảo vệ người khác!

Đó là sự suy đồi của dân khí.

Vấn đề thịnh suy của một đất nước, đương nhiên ở trách nhiệm nhà cầm quyền, nhưng không thể không tính đến nguyên nhân dân khí.

Khí chất và khí phách của người dân thể hiện trong tính cộng đồng, trách nhiệm xã hội, trong sự lựa chọn, dám tôn vinh sự thật, biết tri ân những người vì cộng đồng và công lý, dám chống lại bất công, bạo ngược.

Dân khí mạnh buộc kẻ ác phải chùn tay và phải cư xử đúng mực. Dân khí cũng khiến mỗi người có được sức mạnh tinh thần để thoát vòng nô lệ luôn chờ chực bủa vây.

Chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu từng xót xa khi bàn về dân khí.

“…Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi … có miệng lưỡi mà không biết trình bày,…u mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế…( Phan Bội Châu toàn tập. Tr 145. NNXB Thuận Hoá Huế.1990.

Hãy ngẫm nghĩ tiếp những lời của Phan Bội Châu: ” … Các người chỉ là một khối thịt sống, ù ù cạc cạc không biết cái gì, chỉ ngồi mà trách cứ lẫn nhau, trông mong lẫn nhau mà thôi….đến nỗi cùng xô đẩy dắt díu nhau xuống hồ cả một lũ, một đoàn… Ngó lại các ngươi, ta chỉ hổ thẹn với con chó của tên Đạo Chích…” (Thời thế và anh hùng- Phan Bội Châu toàn tập- tr175- 176- NXB Thuận Hóa- Huế- 1990)

Ít người Việt Nam dám làm những điều khiến chính quyền bực mình

Những lời đó đã phản ánh tình trạng dân khí của người VN trong những năm đầu thế kỷ XX. Thời đó, với sự hà khắc của chế độ phong kiến, nếu dám trái ý triều đình, có thể bị tội tru di tam tộc.

Tệ thế, nhưng thời đó vẫn có những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và đông đảo người ủng hộ… Đám tang người tù yêu nước Phan Chu Trinh ngày 4/4/1926 có tới khoảng sáu vạn người Nam kỳ (có tài liệu nói là khoảng mười vạn, tức là khoảng 1/3 dân số Sài Gòn) theo sau quan tài ông để bày tỏ lòng biết ơn và chí khí, bất chấp sự ngăn cấm của chính quyền, phong trào truy điệu để nối chí ông được tổ chức khắp ba kỳ.

Thật đáng buồn là sau hơn một thế kỷ, những nhận định của Phan Bội Châu vẫn mang tính thời sự, thậm chí thực tế còn đáng đau xót hơn hơn.

Làm sao tưởng tượng nổi là không khí quy chụp tư tưởng, vu oan giá họa, xét xử bất cần công lý thuở Cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước dường như đang sống lại ở thời này ở nhiều vụ việc, tạo vô số dân oan ở nơi nơi. Trong một số bài báo và phóng sự truyền hình, thật nhục nhã cho nghề nhà báo khi một số người thay vì làm rõ sự thật như sứ mạng, thì lại “gắp lửa bỏ tay người” chỉ để đổi lấy tiền bạc, chức vị hoặc sự yên ổn!

Trên thực tế, tỉ lệ người trộm cắp cướp đoạt không lớn so với dân số nhưng sự hoành hành của chúng thật không giới hạn. Chỉ có thể ngăn chặn bằng cải cách thể chế. Một mặt khác, mỗi công dân cũng không thể không nhìn lại trách nhiệm của mình trong việc đã để dân khí suy đồi.

Tù nhân lương tâm – những Tráng sĩ công lý

IMG_5310

Những tù nhân lương tâm – những tráng sĩ vì đấu tranh cho lợi quyền chung mà phải giam cầm sau song sắt – lẽ nào ta không nợ họ?!

Khi tù nhân lương tâm Nelson Mandela khốn khổ vì bị nhà cầm quyền Nam Phi kết án chung thân, đày đọa ông trong tù tới 27 năm, mỗi người Nam Phi và người dân trên thế giới, kể cả người VN, đều nợ ông vì ông đã vì dám dũng cảm đứng lên chống lại chế độ phân biệt chủng tộc, bảo vệ quyền con người và tự do.

Mặc dù nhà cầm quyền đổ nhiều trọng tội, bôi nhọ bằng mọi cách, nhưng ông đã được tôn vinh là người anh hùng của Nam Phi và thế giới, lĩnh tới hơn 250 giải thưởng, trong đó có giải Nobel Hòa bình, trở thành vị tổng thống dân cử đầu tiên của Nam Phi và là một trong những vị cứu tinh của nhân loại.

Bà Aung San Suu Kyi đã bị giam cầm và quản thúc trong hơn 20 năm nhưng cuối cùng chế độ ở Myanmar phải thay đổi theo hướng bà kêu gọi

Tương tự, bà Aung San Suu Kyi đã bị chế độ độc tài quân phiệt Myanma nhục mạ, kết tội, giam cầm và quản thúc tới gần 21 năm chỉ vì bà lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động cho việc thiết lập một nền dân chủ và thể chế tiến bộ cho người Myanma. Bà cùng những đồng chí của mình đã thức tỉnh chế độ quân phiệt tàn bạo, khiến đất nước này gần đây phải chuyển đổi theo thể chế dân chủ và tự do. Bà là vị cứu tinh của Myanma, cũng được coi là vị anh hùng của thế giới.

Mỗi người Myanma, nếu có lương tri, đều biết rằng mình may mắn được nợ bà- nợ những nỗi thống khổ mà bà đã vì họ mà chịu đựng. Nợ những cử chỉ nhằm giải phóng chế độ độc tài quân phiệt mà bà đã bền gan thực hiện cho bà và cho họ.

Khi xã hội loài người tiến lên được một bước về phía tự do, bình đẳng và công lý thì thường lại có rất nhiều người phải hy sinh trong công cuộc đấu tranh chống lại những thế lực luôn lấy việc cưỡng đoạt hạnh phúc của người khác để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng làm lẽ sống.

Suy cho cùng, không ai sống trên đời mà lại có thể chối bỏ hân hạnh gánh trên vai những món nợ tinh thần phải trả cho mình và cho cộng đồng, cho niềm hạnh phúc của con người.

“Khi xã hội loài người tiến lên được một bước về phía tự do, bình đẳng và công lý thì thường lại có rất nhiều người phải hy sinh trong công cuộc đấu tranh chống lại những thế lực luôn lấy việc cưỡng đoạt hạnh phúc của người khác để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng làm lẽ sống.”

Bởi thế bất kỳ công dân nào cũng có trách nhiệm đương nhiên phải đấu tranh cho tự do, nhân quyền và công lý cho mình và cho mọi người.

Đó là khí chất làm người, là dân khí, là nhân tố cốt lõi tạo nên nền công bằng và vững mạnh cho một đất nước.

Cần ý thức rằng, khi một người chối bỏ trách nhiệm đó, là đem lại tổn thương cho chính mình và cho xã hội. Trong nỗi oan khuất của người vô tội này bao giờ cũng hàm chứa mối đe dọa về nỗi oan khuất rồi cũng sẽ đến với những người khác.

Khi công dân ý thức được điều đó, nghiễm nhiên sẽ có phẩm giá của loài hiểu biết, hãnh diện về khí chất làm người của mình, sẽ không còn sợ hãi bóng tối và những sự đe dọa.

Khi nhận thức được như thế, sẽ có sức mạnh tinh thần để biết tạ ơn và biết hành động để trả nợ, để không chỉ sống cho ta, trong kiếp ngắn ngủi này, mà biết còn hân hoan sống cho cộng đồng.

‘Thế lực thù địch’

IMG_5311

Người VN, đương nhiên mỗi người cũng mang món nợ của mình.

Như người làng Vĩ Đại nợ những giọt máu, nợ cái chân gẫy, nợ sự oan khuất và tự do bị tước đoạt của ông Cột ông Kèo bà Ninh…

Ta hân hạnh nợ nần bao nhiêu người anh hùng bảo vệ đất nước, chống tham nhũng, ma túy, cướp bóc, những nhà tư tưởng và nhà khoa học vì con người. Ta nợ bao Tráng sĩ lương tâm – họ xứng đáng được tôn vinh là Tráng sĩ – vì có bản lĩnh dám chỉ ra những cái sai cho nhà cầm quyền biết- thực chất là họ đã giúp nhà cầm quyền để củng cố nền hòa bình, công lý và tự do.

“Những người dám nói lên sự thật, đòi quyền làm người, dám phản đối cái ác và bất công, hoàn toàn không hề là người đối lập với đảng và chính phủ VN, mà chính nhiều cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống quyền lực đã tự hành xử ngày càng đối kháng với quyền lợi chính đáng của nhân dân, đất nước.”

Thật đau lòng là nhiều người trong số họ lại đang bị giam cầm và hành hạ sau song sắt nhà tù. Đa phần trong số họ là vô tội, giữ được bản lĩnh. Càng bị đàn áp, bôi nhọ, phẩm chất của họ càng tỏa sáng.

Những người dám nói lên sự thật, đòi quyền làm người, dám phản đối cái ác và bất công, hoàn toàn không hề là người đối lập với đảng và chính phủ VN, mà chính nhiều cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống quyền lực đã tự hành xử ngày càng đối kháng với quyền lợi chính đáng của nhân dân, đất nước.

Nhưng danh sách tù nhân lương tâm tại VN tăng theo mức độ đàn áp. Chỉ trong nửa đầu năm 2013 này đã có tới khoảng 50 người bị bắt giam. Theo công luận và nhiều luật sư, họ đã bị kết tội oan. Đặc biệt bất công là trường hợp quy tội “trốn thuế” cho Điếu Cày và luật sư Lê Quốc Quân để bỏ tù và đối xử tàn nhẫn với họ, trong khi vô số cá nhân, công ty, đại gia, người trong giới biểu diễn…thiếu thuế hàng chục, hàng trăm tỉ đồng, thì chỉ truy thu và được gọi là “kê khai thiếu chứ không phải trốn thuế,”(theo trả lời PV của bà Lê Thị Thu Hương, Phó cục trưởng Cục thuế TP HCM- Theo VNExpress- 27/7/2013)

Gần đây, việc bị dồn vào tình thế phải tuyệt thực liên tiếp của một số tù nhân lương tâm như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Điếu Cày…và cuộc nổi dậy bất đắc dĩ của tù nhân tại trại giam Z30 A Xuân Lộc – Đồng Nai ngày 30/6/2013 vừa rồi đã lại làm phẫn nộ thêm nhiều người có lương tri trong và ngoài nước.

Hiện trạng ấy khiến cho dư luận đặt ra nhiều câu hỏi nhức nhối. Có khôn ngoan không, khi nhà chức trách đang chọn cách giải quyết những vấn nạn chính trị – kinh tế- xã hội bằng súng và xiềng xích đe nẹt tự do ngôn luận thay vì cải cách thể chế và cải cách kinh tế?

Chỉ tìm cách đổ lỗi cho các “thế lực thù địch diễn biến hòa bình” bên ngoài chứ không cắt bỏ khối ung bướu ngay trong thể chế, đó thực ra là một sự “tự sát”, không những làm trầm trọng thêm các vấn đề cấp bách hiện nay mà còn khiến VN càng thêm giảm uy tín và khiến cộng đồng quốc tế không thể làm ngơ.

Gần chót về tự do

VN hiện đang bị xếp thứ gần chót hạng(172/179 quốc gia) trong bảng Chỉ số Tự do Báo chí thường niên 2013 do Phóng viên Không biên giới thực hiện.

Không phải vô cớ, không chỉ có sự đòi hỏi từ một số đồng bào VN, mà ngày càng dồn dập tăng số lượng cá nhân và tổ chức trung lập có uy tín trên thế giới bày tỏ sự ủng hộ đối với những nhà phản biện và tù nhân lương tâm VN, đòi phải lập tức trả tự do cho họ.

Ngày 18/4/2013, QH châu Âu thông qua nghị quyết tố cáo VN đàn áp tự do ngôn luận và hạn chế tự do tôn giáo.

Ngày 17/6/2013, có tới 12 tổ chức NGO, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Thế giới, Trung tâm nhân quyền Kennedy(Mỹ) và một đoàn gồm 12 nghị sĩ Mỹ… cũng lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu chính phủ VN phóng thích ngay luật sư vô tội Lê Quốc Quân, đồng thời yêu cầu chấm dứt việc đàn áp các luật sư và các nhà chỉ trích chính phủ về vấn đề nhân quyền.

Ngày 27/6/2013, bản Dự thào về luật nhân quyền cho VN đươc được UB đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua, đưa ra cảnh báo dứt khoát cho VN là phải cải thiện về nhân quyền, nếu không muốn có những tổn hại về kinh tế và thương mại, hoặc những nguồn viện trợ nằm ngoài tính cách nhân đạo từ Mỹ.

Một Dự luật nhân quyền cho Việt Nam và Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam, hiện đang được trình cho Hạ nghị viện và rồi Thượng nghị viện Mỹ, là những hành động cảnh báo mạnh mẽ để VN cân nhắc lại và hành xử cho đúng với những văn bản đã ký cam kết về quyền con người cùng thế giới.

Trong hoàn cảnh Chủ tịch nước VN vừa ký văn bản cam kết hợp tác toàn diện với Mỹ, nếu VN không cam kết suông, thì vấn đề cải thiện nhân quyền tại VN lại càng cấp bách hơn bao giờ hết.

*

IMG_4445

*

IMG_3869

*

Biệt Ðộng Quân VNCH đại hội, chào cờ Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ
Sunday, July 20, 2014 4:57:05 PM

Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Hội Biệt Ðộng Quân Nam California vừa long trọng tổ chức Ðại Hội Biệt Ðộng Quân, nhân dịp kỷ niệm 54 năm thành lập binh chủng, tại Little Saigon, trong đó phần chính là lễ chào cờ, đặt vòng hoa và truy điệu các anh hùng Biệt Ðộng Quân vị quốc vong thân được tổ chức rất trang nghiêm tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, vào sáng Chủ Nhật, 20 Tháng Bảy.

IMG_6186
Ðoàn quân danh dự Biệt Ðộng Quân rước quốc quân kỳ vào lễ đài ở Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)
Khoảng 10 giờ sáng, các cựu chiến sĩ Biệt Ðộng Quân tề tựu rất đông đảo tại nơi hành lễ. Ngoài các cựu chiến sĩ trong màu áo oai hùng của binh chủng, còn có rất nhiều vị phụ nữ trong trang phục áo dài màu nâu đỏ và rất nhiều quan khách và đồng hương đến tham dự.

Khai mạc là Lễ Rước Quốc Quân Kỳ Việt Mỹ với sự điều hợp của ông Ðổ Mạnh Trường.

Ðoàn hầu kỳ đi rất hùng hồn trang nghiêm qua hai hàng quân tiến đến bàn thờ tổ quốc được đặt trước tượng đài.

Sau phần nghi thức, ông Nguyễn Minh Chánh, tổng hội trưởng Biệt Ðông Quân, phát biểu: “Kính thưa các chiến hữu và gia đình, hôm nay, chúng ta tề tựu nơi đây để tri ân những anh hùng, liệt nữ đã hy sinh mạng sống để đem lại tự do, dân chủ và tô thắm cho quốc kỳ VNCH. Vì vận nước con dân Việt đã phải ra đi khắp bốn phương trời, nhưng tấm lòng luôn hướng về quê cha đất tổ. Vì hiểm họa cộng sản đã hai lần con dân Việt phải rời bỏ ruộng vườn, mồ mả tổ tiên để đi tìm tự do.”

Ông nói tiếp, “Tháng Bảy, 1954, gần một triệu đồng bào từ miền Bắc phải di cư vào Nam trốn tránh cộng sản khi Hiệp Ðịnh Geneva được ký kết chia đôi đất nước. Cuộc chiến chống cộng sản của Quân Lực VNCH, chống sự xâm lăng của Cộng Sản Hà Nội để giữ gìn miền Nam được sống trong tự do dân chủ, sau cùng đã phải chấm dứt trong nỗi đau xót vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi cộng sản tràn vào cưỡng chiếm miền Nam. Thảm họa Tháng Tư, 1975, đã buộc hàng trăm nghìn người phải rời bỏ đất nước ra đi chạy trốn chế độ cộng sản phi nhân một lần nữa.”

Ông Chánh cũng chia sẻ với mọi người là biết bao nhiêu người đã bỏ xác trên đường tìm tự do dù biết rằng, ra đi lần này không những mất mát cửa nhà, tài sản mà còn mất cả quê hương. Dù tha hương trên xứ người, Biệt Ðộng Quân không quên trách nhiệm: bảo quốc – an dân.

Sau đó, ông khẳng định, “Dù không còn vũ khí, Biệt Ðông Quân phải tiếp tục cuộc chiến chống chế độ Cộng Sản tàn bạo, dã man. Lằn ranh chống cộng không bao giờ được xóa bỏ. Biệt Ðộng Quân luôn sát cánh cùng cộng đồng người Việt tị nạn trong mọi sinh hoạt chống Việt Cộng bán nước và Trung Cộng cướp nước.”

“Hôm nay, ngày 20 Tháng Bảy, 2014, đại gia đình Biệt Ðông Quân tựu tập nơi Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ thuộc thành phố Westminster để tưởng niệm các bậc tiền nhân, anh hùng tử sĩ. Xin linh hồn quý chư liệt vị có linh thiêng hãy phò trợ cho con dân Việt đang sống lưu vong sớm quay về quê cha đất tổ, giành lại quê hương, xây dựng đất nước phồn vinh,” ông Chánh nói thêm.

Tiếp theo là Lễ Ðặt Vòng hoa và Lễ Truy Ðiệu, do các ông Phạm Văn Thuận, Nguyễn Minh Chánh và Phan Thái Bình, đại diện cho Hội Biệt Ðộng Quân Nam California, cung kính dâng lễ.

Cuối cùng là phần chụp hình lưu niệm.

Sau đó, đại hội được khai mạc tại hội trường Westminster.

Ðược biết, đại hội lần này được quy tụ rất đông đảo các cựu chiến sĩ BÐQ từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và thế giới, và kéo dài trong hai ngày, với tiền đại hội ở tư gia một cựu Biệt Ðộng Quân ở Garden Grove.

Kết thúc đại hội là một buổi tiệc được tổ chức ở nhà hàng Paracel Seafood, Westminster, vào chiều Chủ Nhật.

*

Sự thật của chiến tranh Việt Nam

*

IMG_6185

Bruce Hutchinson * Nguyễn Hùng (Danlambao) chuyển ngữ
Tháng 07, 2014

Toàn bộ phần chuyển ngữ:

Trở lại cách đây vài thập niên, Nam Việt Nam và Hoa Kỳ lúc đó đang chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam một cách dứt khoát theo bất cứ thước đo nào

Đó không phải chỉ theo quan điểm của tôi. Đó cũng là quan điểm của kẻ thù của chúng ta: cán bộ nhà nước cộng sản VN.

Chiến thắng đã là điều hiễn nhiên khi Tổng Thống Nixon ra lệnh không lực Mỹ dội bom các cơ sở kỹ nghệ và quân sự tại thủ đô Hà Nội và tại thành phố cảng Hải Phòng.

Và sẽ ngưng dội bom nếu cộng sản Bắc Việt đồng ý trở lại bàn hội nghị hòa bình tại Paris mà họ đã rời khỏi trước đó. Cộng sản miền Bắc quả thực đã phải trở lại bàn hội nghị và chúng ta ngưng dội bom như đã hứa.

Ngày 23/01/1973, Tổng Thống Johnson đọc bài diễn văn trước toàn dân vào giờ cao điểm công bố rằng Hiệp ước hòa bình đã được ký tắt bởi Hoa kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, VC(MTGP) và sẽ được chính thức ký vào ngày 27/01/1973.

Những gì mà Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam đạt được từ hiệp ước là chiến thắng.

Tại Tòa Bạch Ốc, ngày này được gọi là “Ngày chiến thắng tại Việt Nam”

Hoa Kỳ đã bảo vệ cho chiến thắng này với một điều cam kết đơn giản ghi trong Hiệp ước.

Đó là: nếu Nam Việt Nam cần bất cứ thiết bị quân sự để tự vệ mình chống lại hành động xâm lược của Bắc Việt, Mỹ sẽ cung cấp viện trợ thay thế cho Miền Nam từng món một, 1 viên đạn cho 1 viên đạn, 1 trực thăng cho 1 trực thăng. Thay thế cho tất cả trang cụ bị mất mác. Việc xâm nhập của lực lượng quân sự từ cộng sản miền Bắc đã bị ngừng lại vì những thỏa thuận đó.

Nhưng những cam kết của Mỹ đã bị đổ vở. Nó đã xảy ra theo cách thức như vầy: một năm sau, vào tháng 08/1974 Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ “xì căn đan” Watergate. Ba tháng sau ngày Nixon từ chức, cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11/1974 với kết quả là đảng Dân Chủ thắng lớn tại Hạ Viện. Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện đã dùng số đa số mới đạt, đã hủy diệt những điều cam kết của Mỹ về viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam nhằm thay thế quân cụ theo cách một cho một, hủy hoại hoàn toàn những cam kết của chính quyền Mỹ với miền Nam Việt Nam tại Paris là cung cấp toàn bộ thiết bị quân sự mà chính quyền Việt Nam

Cộng Hòa cần đến trong trường hợp miền Bắc xâm lược. Nóí một cách đơn giản và chính xác là đại đa số dân biểu đảng Dân Chủ của QH Mỹ lần thứ 94 đã không giữ lời cam kết của nước Mỹ.

Ngày 10/04/1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp thỉnh cầu các dân dân biểu của Quốc hội Mỹtrong một phiên họp vào buổi tối của lưỡng viện được trực tiếp truyền hình trên cả nước.

Trong bài diễn văn Tổng Thống Ford đã cầu khẩn lưỡng viện hãy giữ lời cam kết của Mỹ. Trong khi Tổng Thống Ford đọc bài diễn văn, nhiều dân biểu của đảng Dân chủ đã bỏ phòng họp đi ra ngoài.

Nhiều vị này đã góp phần tạo nên sự đổ vỡ và thất bại tại Việt Nam. Chính họ đã từng tham gia vào các cuộc biểu tình chống lại việc giúp Miền Nam VN chiến đấu chống cộng sản miền Bắc trong nhiều năm. Và đương nhiên họ từ chối cung cấp viện trợ cho miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/04/75 Miền Nam đầu hàng và hàng loạt trại tù gọi là cải tạo được CS VN dựng lên khắp cả nước và hiện tượng thuyền nhân đã bắt đầu.

Nếu người dân miền Nam Việt Nam nhận được viện trợ từ Mỹ như đã được cam kết, có thể nào kết quả sẽ khác đi?

Thật ra kết quả trước đó đã khác rồi. Lãnh đạo cs miền Bắc đã thừa nhận họ chỉ thử Tổng Thống mới đắc cử G. Ford xem ông phản ứng ra sao với hành động vi phạm hiệp ước của họ bằng cách tấn công lấn chiếm hết làng này đến làng khác rối tiếp theo là thành phố, rồi các tỉnh lỵ. Và Hoa Kỳ chỉ đáp lại bằng hành động phản bội lại những điều chính Hoa Kỳ đã từng cam kết. Mỹ đã từ chối tái cung cấp khí cụ cho dân chúng miền Nam Việt Nam theo như Mỹ đã từng hứa cam kết. Từ lúc đó bộ đội Miền Bắc biết rằng họ đang trên đường tiến tới chiếm đóng thủ đô Sài gòn của MN VN. Thành phố này sau đó nhanh chóng được đổi tên thành phố Hồ chí minh.

Cựu Thượng nghị sĩ William Fulbright của tiểu bang Arkansas, nguyên là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại, đã tuyên bố công khai về vấn đề miền Nam Việt Nam đầu hàng. Ông nói như vầy: “Tôi không buồn rầu hơn so với tôi buồn rầu về việc Arkasas thua Texas một trận banh bầu dục”.

Mỹ đã biết rỏ miền Bắc có khả năng sẽ vị phạm trắng trợn Hiệp ước Paris, do đó Mỹ đã có kế hoạch đối phó. Điều mà chúng ta không biết là chính quốc hội Mỹ của chúng ta lại vi phạm trắng trợn hiệp ước đó. Và Hoa Kỳ đã vi phạm mọi điều khoản ghi trong Hiệp ước, thay mặt cho cộng sản miền Bắc.

Đó là những gì đã xảy.

Tôi là Bruce Hutchinson

Sau khi Sải gòn bị thất thủ, hơn một triệu người dân miền Nam bị đưa vào các trại giam cải tạo trong vùng quê, rừng thiên nước độc.

250.000 người đã bị chết tại đó, những nạn nhân của các vụ hành quyết tập thể, tra tấn dã man, bệnh tật, và thiếu dinh dưởng.

Từ năm 1975 đến 1995, hai triệu người miền Nam Việt Nam đã đào thoát trốn khỏi đất nước của họ, vượt Biển Đông trên các chiếc thuyền mong manh không đủ trang bị để mưu tìm tư do.

Được thế giới biết đến là Thuyền Nhân, ước tính là có khoảng 200 ngàn người trong số họ đã bị chết trong nỗ lực đó-tìm tự do-nạn nhân của chết đuối và của bị giết hại bởi bọn hải tặc.

Hiện giờ Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi một nhà nước cộng sản chuyên chế.

Nhưng họ lại từ bỏ tất cả lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa cộng sản mà họ đã căn cứ vào đó đưa vô số người dân cùng chung huyết thống của họ ra làm vật tế thần.

Trình bày: Bruce Hutchinson

Chuyển ngữ và phụ đề tiếng Việt

Ngày 22 tháng 07 năm 2014

Nguyễn Hùng
danlambaovn.blogspot.com

*

Hiệp Định Genève: Tuổi Trẻ Việt Nam cần một sự thật

*

IMG_6178

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) – “…Không có ông Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam thì không có Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, không có “ta vào Nam nổ súng là đánh cho Liên xô, Trung Quốc” (Lê Duẩn) với 20 năm cốt nhục tương tàn, gần 3 triệu người nằm xuống vô nghĩa (so Nam Hàn với hàng trăm ngàn người Việt đang làm nô lệ hiện nay) và quan trọng là không có hành vi tập thể “vô đạo”chưa từng có trong lịch sử nhân loại là con tố cha, em tố anh, vợ tố chồng, trò tố thầy, để CSVN trực tiếp giết chết cho 172.000 (tư liệu CCRĐ của CSVN) đồng bào vô tội…”.

Hiệp Định Genève 1954 – Như vết thương thầm lặng, mãi vẫn “mưng mủ” chưa bao giờ lành trong tâm thức người dân Việt, cứ mỗi trung tuần tháng 7 hàng năm (20/7) như trái gió trở trời lại làm nhói đau trái tim nhiều chục triệu đồng bào chúng ta trong một câu hỏi: Tại sao Đông Nam Á hàng chục quốc gia chỉ duy nhất Việt Nam là phải có Hiệp Định chia đôi đất nước gây ra đẫm máu và nước mắt ấy và nếu không có cái hiệp định đó thì quốc gia chúng ta sẽ như thế nào? câu hỏi này trăn trở trong tư duy những công dân trẻ từ 19 đến 29 tuổi (sinh sau 1975) chiếm 1/3 dân số hiện nay mà vì lý do “nhạy cảm” của chế độ CS khá nhiều bạn trẻ trong số này chưa có điều kiện tiếp cận Iternet hay bị nhồi nhét khẩu hiệu tuyên truyền duy nhất “Đảng ta anh hùng giải phóng dân tộc” nên đôi khi chưa đối diện với chân lý, bản chất của sự thật.

Có hàng ngàn tư liệu, nhiều nguồn, nhiều khuynh hướng khách và chủ quan tỉ mỉ khác nhau trong góc nhìn về Hiệp Định Genève 1954 nhưng tựu trung nổi bật lên dễ nhận diện ra nhất đó là:

“…Không có ông Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam thì không bao giờ có Hiệp Định Genève chia đôi đất nước”. Dù hiện nay thứ chủ nghĩa CS ngoại lai không dị ứng với “máu” người này đã sụp đổ, nhân loại nguyền rủa, nhưng di luỵ trầm luân của nó vẫn còn đeo đẳng dân tộc VN đến tận ngày nay, nỗi thống khổ vẫn chưa chưa dứt được.

Đây là sự khẳng định tuyệt đối thách thức mọi sự phản bác, bởi nó chứng minh từ tư liệu lưu trữ tàng thư trong văn khố Nga, Trung, Pháp, Nhật và Hoa Kỳ với nhân chứng vật chứng cùng thời điểm từ quá khứ tại Việt Nam còn tồn tại để không có chất “cường toan” nào tẩy xoá nỗi một sự thật, mà CSVN cứ cố tình trắng trợn bịp bợm lừa gạt nhân dân mình.

Mới đây, ngày 4/7/2014, Ban Tuyên giáo Trung ương CSVN đã ban hành Hướng dẫn số 128-HD/BTGTW tuyên truyền kỷ niệm 60 năm Ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (20/7/1954-20/7/2014)

MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU (của Ban Tuyên giáo Trung ương CSVN)

“… Giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc về vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trên mặt trận ngoại giao… Qua việc đảng CSVN với Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết Ngày 20 tháng 7 năm 1954 (!??) (*)

Chỉ có bản chất lưu manh bịp bợm vì vinh hoa phú quí quyền lợi con cháu cá nhân đảng phái bầy đàn mới vô liêm sỉ nói khác hơn một sự thật từ khách quan của lịch sử? Những dữ kiện sự thật mà ai cũng biết trừ Chế độ CSVN là không muốn mọi đảng viên và nhân dân công khai mổ xẻ để biết tường tận.

Chúng ta thử nghiệm suy xem “thắng lợi vĩ đại” đó nó như thế nào??

Khi châu Âu, giữa đệ nhị thế chiến, đế quốc thực dân Pháp bị đoàn quân phát xít Đức xâm lược đánh bại chiếm đóng, kéo theo thực dân Pháp phải mất quyền kiểm soát tại Đông Dương (Việt Miên Lào) và quyền này rơi vào tay quân Nhật, năm 1941.

Ngày 9/3 năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông dương. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao trách nhiệm cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux ra tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện.

Tại kinh đô Huế, đại úy quân đội Nhật Kanebo Noburu vào yết kiến trình báo cho vua Bảo Đại biết quyền lực của thực dân Pháp đã chấm dứt trên toàn cõi Đông Dương . Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thoả thuận trao trả độc lập cho Việt Nam .

Hai ngày sau, 11 Tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố: Nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại (nguyên văn):

“Cứ theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hoà ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được huỷ bỏ và vô hiệu hoá. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập”.

Theo đó triều đình Huế hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 (vốn áp đặt nền bảo hộ thực dân lên toàn cõi nước Việt). Tiếp theo Vua Bảo Đại ban hành Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3/1945 lấy khẩu hiệu “Dân Vi Quý” ( 民爲貴) làm phương châm trị quốc. Nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua triệu ra Huế giao nhiệm vụ thành lập nội các mới.

Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam (không kể các triều đại phong kiến và chính phủ bảo hộ của Pháp trước đó) và ông Trần Trọng Kim trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng trong nhân dân lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4/1945 trong đó các vị trí quan trọng gồm có những nhân sĩ:

Bác sĩ Trần Đình Nam – Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Luật sư Trịnh Đình Thảo – Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Kỹ sư Lưu Văn Lang – Bộ trưởng Công chính

Bác sĩ Hồ Tá Khanh – Bộ trưởng Bộ Kinh tế

Luật sư Phan Anh – Bộ trưởng Bộ Thanh niên

Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn – Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.

Chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim

Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức có tên tuổi – trong số đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan An …v.v… họ đều là những giáo sư, luật gia, nhà báo, khoa bảng, thực tài tốt nghiệm trong và ngoài nước hiếm có lúc bấy giờ (mà những người CSVN không có hay so sánh được ) – (Nhà sử học, giáo sư Đinh Xuân Lâm) (wikipedia)

(Chúng ta củng cần lưu ý) Bước đầu tiên của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo trong tân chính phủ Hoàng Gia Việt Nam lúc bấy giờ là ra lệnh trả tự do cho hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ bao gồm tất cả đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và các đảng phái khác).

(Xem thả tù chính trị) trong: (vi.wikipedia.org/wiki/Đế_quốc_Việt_Nam)

Tuy nhiên, chỉ 10 ngày sau của chính sách nhân bản quang minh chính đại cho một Việt Nam đoàn kết vì Độc Lập của tân CP Trần Trọng Kim đổi lại là: Hành vi như phường “cướp cạn” của tay chân ông Hồ Chí Minh qua lời kể của nhạc sĩ Tô Hải (người tham dự mít tinh) – năm nay gần 90 tuổi- tường thuật lại được viết trong trang Blog của ông, nhân dịp nhớ lại ngày 19 tháng tám của hơn 60 năm trước. Cho đến nay, ngày này vẫn được sách vở chính thống tuyên giáo CSVN gọi là ngày tổng khởi nghĩa thành công, cướp chính quyền từ tay Pháp, hay từ tay Pháp và Nhật, hoặc từ chính phủ Trần Trọng Kim. !??. Đây các bạn trẻ Việt nam hãy xem một trong những “thắng lợi vĩ đại của đảng ta”:

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ mới Trần Trọng Kim của Việt Nam. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly (cờ vàng 3 sọc đỏ) treo trang trọng trên toà nhà bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, (tay chân của ông Hồ Chí Minh) cướp diễn đàn để diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xoá bỏ gông xiềng”

Hình bìa báo LIFE của Pháp- Khởi đầu Buổi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim tại Hà Nội (cờ vàng 3 sọc đỏ treo trang trọng trước tiền sảnh)

Một lúc sau tay chân CS của ông HCM cướp diễn đàn giật cờ 3 sọc xuống trương lên cờ đỏ sao vàng giữa buổi mít tinh.

Họ – CSVN- lừa người dân nghèo khó thiếu thông tin thế giới quan – Nhưng giới trí thức người có học thì biết rất rõ rằng Nhật đã đảo chính Pháp từ ngày 9 tháng 3, rồi Nhật lại đã đầu hàng Mỹ và Đồng Minh từ đầu tháng 8 cùng năm, thì cách nói “cướp chính quyền từ tay Pháp và Nhật” là bịp bợm vì lẽ tại các thời điểm ấy thực dân Pháp và phát xít Nhật có còn đâu chính quyền thuộc địa để mà cướp? Vậy chỉ có thể nói là “cướp chính quyền Trần Trọng Kim” mà thôi.

Napoleon từng nói: Lịch Sử thường được viết lại bởi những kẻ thắng trận.

(“ History was written by victors” )

Đúng là như vậy, sau khi cướp chính quyền non trẻ Trần Trọng Kim của Việt Nam đang trền đà thành công giành lại Độc Lập, thì Ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN chữa thẹn bằng cách nói với nhân dân: “Cướp chính quyền Trần Trọng Kim tay sai, chính phủ bù nhìn của phát xít Nhật” – Nhưng một lần nữa sự thật và lịch sử không đứng về phía họ, bởi vì trước đó 2 ngày, ngày 15 tháng 8 Nhật hoàng Hirohito đã đọc bài diễn văn trên đài phát thanh quốc gia tuyên bố Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh. Bài diễn văn được phát đi trên khắp lãnh thổ Đế quốc Nhật Bản. Ngày 28 tháng 8, chỉ huy Tối cao Lực lượng Đồng Minh bắt đầu chiếm đóng Nhật Bản. Nghi lễ đầu hàng đã được thực hiện trên chiến hạm USS Missouri của Hải quân Hoa Kỳ.(**)

Ngoại trưởng Nhật Bản Shigemitsu ký văn kiện đầu hàng Mỹ và Đồng minh trên chiến hạm USS Missouri.

Thật là buồn cười cho một tư duy ấu trĩ bịp bợm không biết xấu hổ là gì cho đến tận ngày nay họ, CSVN, vẫn là não trạng “đầu tôm” với lập luận ngu xuẩn biện minh cho hành vi cướp Chính Phủ non trẻ của quốc gia Việt Nam là họ: “Cướp chính quyền tay sai Trần Trọng Kim, chính phủ bù nhìn của phát xít Nhật”. Có phi lý không? Làm tay sai cho một Nhật Bản thảm bại, đầu hàng vô điều kiện bị tước khí giới, không còn Chính Phủ, giao toàn bộ đất nước cho quân Mỹ chiếm đóng !?.

Tóm lại, khái quát cục diện toàn cảnh, Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á, mọi chế độ thực dân tất yếu đã đến ngày cáo chung không có bất cứ lý do nào sống lại để chúng ta nghiệm suy ra rằng, từ năm 1945 nếu không có Hồ Chí Minh ăn phải “bả” CS khát máu, du nhập một thứ chủ nghĩa tàn bạo, cướp chính quyền, áp đặt lên đầu dân tộc Việt Nam một chủ nghĩa ngoại lai, thì ít nhất, nếu nhân dân còn suy tôn hướng về một Gia Long Nguyễn Ánh thì chúng ta đã có một “Cộng Hoà thống nhất Hoàng Gia Việt Nam” như Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Campuchia hay văn minh dân chủ như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc đã hoàn thiện hội nhập cất cánh với quốc hiệu đa nguyên: Việt Nam Cộng Hoà lâu rồi.

Và nếu vậy thì dân tộc Việt Nam đã tránh được nghịch cảnh chia đôi đất nước như Hiệp Định Genève 1954 vì ý thức hệ bởi chủ nghĩa CS – Một thứ chủ nghĩa đã làm dân tộc trải xương máu suốt 2/3 thế kỷ nhưng đến nay chủ nghĩa ấy nó như ánh tà dương le lói cuối ngày trên toàn thế giới nhưng Tuyên Giáo CSVN thì chỉ thị ra sức tuyên truyền “cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam”-

Thật là cách mạng “vĩ đại” khi 190 quốc gia trên thế giới chỉ còn sót lại 4 nước CS lẽ loi trong đó CH/XHCN/CSVN là một!?? và là quốc gia có số dân nghèo nhiều nhất Khối ASEAN sau Campuchia? Nhưng tham nhũng thì nằm top hàng đầu trong danh sách của tổ chức “minh bạch thế giới” !??

Hoàng Thanh Trúc
danlambaovn.blogspot.com

_________________________________

Chú thích:

(*) http://www.tuyengiao.vn/…/Tuyen-truyen/…/Huong-dan-tuyen-truyen-ky-nie.

(**) vi.wikipedia.org/wiki/Nhật_Bản_đầu_hàng

*

*

Việc thi hành hiệp đinh Genève

*
IMG_6178

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Bắc Việt Nam (BVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?

1. Hiệp đinh Genève

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là HenriDelteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào, Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève) gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:

Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.] Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc (tức Bắc Việt Nam) và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam (tức Nam Việt Nam). Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

2. Ai vi phạm hiệp đinh Genève

Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:

Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức,Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam. (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay khi trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết.

3. Bắc Việt Nam đòi hỏi điều không có

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Trong khi chính Bắc Việt Nam (BVN) vi phạm hiệp định Genève, thì ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S.Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiệnGenève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genèvehọp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng:

“Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris:Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

4. Bắc Việt Nam bịa đặt lý do để tấn công miền Nam

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève ngay khi hiệp định nầy chưa được ký kết, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Nam. Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.

Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng.

Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.

Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn hoang tưởng.

Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như LêDuẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

Kết luận

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định Genève, trong khi VNDCCH tức BVN liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH tức BVN mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà tức NVN dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước.

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève, xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

(Toronto, 20-7-2014)

Trần Gia Phụng
danlambaovn.blogspot.com

*

IMG_5661

*

LÁ BÀI THỂ CHẾ DÂN CHỦ ÐA ÐẢNG VIỆT NAM CỌNG HÒA ÐANG NẰM TRÊN BÀN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI VÌ TRUNG QUỐC LÀM LOẠN BIỂN ÐÔNG VÀ CỌNG SẢN VIỆT NAM THÌ NHU NHƯỢC CHỊU LÀM THÂN NÔ LỆ LÀM ÐẦU CẦU TAY SAI THEO TRUNG QUỐC BÁN NƯỚC KHÔNG DÁM KIỆN TRUNG QUỐC VỀ VẤN ÐỀ CƯỚP BIỂN ÐÔNG CỦA VIỆT NAM RA QUỐC TẾ XÉT XỬ TRONG HÒA BÌNH

*

Phục hồi Hiệp Định Paris 1973: Hoang tưởng hay hiện thực?

*
IMG_6179
Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS
Cách đây hai tuần, tôi có viết bài “Khoảng Cách Chạy Tội: Sự Thực Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973.” Bài này có một tiểu mục về chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris của Ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch của Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH, một hình thức chính phủ lưu vong. Tôi đã kết luận rằng đây là một ý kiến hoang tưởng.

Nhiều độc giả đặc biệt chú ý tới một tiểu mục này và đóng góp khá nhiều ý kiến.Riêng Ông Nguyễn Ngọc Bích vẫn nghiêm chỉnh cho rằng ý kiến phục hồi Hiệp Định Paris là một việc khả thi.

Theo ông, sau khi lấy lại miền Nam Việt Nam, ông sẽ tổ chức tổng tuyển cử và những người di cư từ miền Bắc vào Nam sau 30-4-1975 được phép ở lại miền Nam, nhưng họ không có quyền đi bầu. Phần đông ai cũng thấy đây là một chuyện hoang tưởng.Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của một số độc giả,kể cảÔng Nguyễn Ngọc Bích, tôi xin giải thích rõ hơn vì sao phục hồi Hiệp Định Paris không thể là một hiện thực.

Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973

Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973 đã có từ cuối thập niên 1970. Sau khi GS Vũ Quốc Thúc được chính phủ Pháp can thiệp cho di cư sang Pháp vào 1978, ông đã nhận thấy những nhân vật chủ chốt cũ của VNCH cần thành lập một chính phủ lưu vong để phục hồi Hiệp Định Paris và tiếp tục tranh đấu chống Cộng Sản.

Nhưng mãi đến cuối 1986, ý kiến này mới được thảo luận nghiêm chỉnh trong một cuộc hội thảo tại Paris để bàn về vấn đề thuyền nhân. LS Vương Văn Bắc, cựu bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, nhận định rằng Hiệp Định Paris vẫn còn có giá trị và có những điều khoản giúp thiết lập hòa bình ở Việt Nam và như vậy sẽ chấm dứt được thảm cảnh vượt biển và quốc tế sẽ không nhìn những thuyền nhân như những người tị nạn kinh tế.

Các tham dự viên của cuộc hội thảo đã quyết định thành lập Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 (Comité de Juristes Vietnamiens pour la Remise en Vigueur des Accords de Paris de 1973) do GS Vũ Quốc Thúc làm chủ tịch.

Ủy Ban Luật Gia Việt Nam (Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 viết tắt) soạn thảo bạch thư “Chiến Tranh và Hòa Bình ở Đông Dương” (Guèrre et Paix en Indochine) và chính thức kêu gọi Chánh Phủ Pháp đứng ra hòa giải vì Pháp đã tổ chức cuộc hòa đàm đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

Tiếp theo sáng kiến của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973, một vài nhân vật và một số tổ chức khác đã theo đuổi việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973.

Trước và sau khi của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được thành lập, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tiếp xúc với tổ chức này thường xuyên, vì ông ủng hộ việc vãn hồi Hiệp Định Paris. Chính cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã gửi thư lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề này vào năm 1993.

Đến năm 2008, Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu chủ tích Hạ Viện và cựu thủ tướng VNCH, thành lập Chánh Phủ VNCH lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông Cẩn cũng chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris 1973.

Sau khi ông đột ngột từ trần vào năm 2009, hai Ông nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá của Chính Phủ VNCH lưu vong tiếp tục công việc vận động này. Người ta không rõ chính phủ lưu vong này đã đạt những kết quả cụ thể nào.

IMG_6180

Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ, Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.

Gần đây nhất, Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH) của Ông Nguyễn Ngọc Bích mới thành lập vào tháng 10, 2012 cũng gửi thỉnh nguyện thư gồm trên 30.000 chữ ký, kêu gọi Liên Hiệp Quốc tái nhóm một Hội Nghị Quốc Tế khẩn cấp về Việt Nam để “phục hồi Hiệp Định Paris 1973 nhắm trả lại danh dự và công bằng cho 40 triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.

Thỉnh nguyện thư này gián tiếp xác nhận UBLĐLTVNCH là một chánh phủ lưu vong và có một “quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ngoài lãnh thổ”. Việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và thành lập chính phủ lưu vong VNCH chỉ là phương tiện.Mục tiêu của UBLĐLTVNCH là phục hoạt chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết những nhân vật chính của VNCH từ ngày ra nước ngoài sống ẩn dật hoặc ngày nay đã quá lớn tuổi hoặc đã qua đời.

LS Lâm Chấn Thọ, một người chủ trương trở lại Hiệp Định Paris 1973, phân tách rằng “Vì không có một tổ chức nào ở hải ngoại hoặc quốc nội có đủ tầm vóc để được các thành phần không cộng sản tín nhiệm, chính phủ lưu vong là chất keo kết nạp tất cả các tổ chức không cộng sản lại.” Người ta muốn biết tất cả bốn chính phủ Việt Nam lưu vong ở Hoa Kỳ có được người Việt trong và ngoài nước ủng hộ hay không, cho đến nay đã kết nạp được bao nhiêu đoàn thể, có bao nhiêu thành viên, thành lập được bao nhiêu cơ sở.

Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973

Việc làm của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được một phần chính giới Pháp ủng hộ. Tuy nhiên, quan điểm chính thức của Pháp đã được DB Georges Mesmin trình bầy tại cuộc hội thảo 1986 tại Paris rằng:

“Khi chính phủ Pháp chính thức yểm trợ Việt Nam (Cộng Sản) gia nhập Liên Hiệp Quốc [1977], thì mặc nhiên Pháp đã xí xóa việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973.”

Ủy Ban Luật Gia Việt Nam cũng không nhận được sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Trước cuộc hội thảo một ngày, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:

“Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience).Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.”

Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.

Vào năm 1989, cựu TNS Phạm Nam Sách và cựu DB Nguyễn Hữu Thống gửi đơn lên Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan để kiện CSVN vi phạm Hiệp Định Paris 1973. Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thụ lý được trường hợp này vì cơ quan này chỉ sử tranh chấp giữa các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Quốc mà thôi.

Hoa Kỳ không đưa ra một quan điểm chính thức nào về việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 cho đến năm 1990. Sau khi cuộc vận động tại Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thành công, Luật sư Nguyễn Hữu Thống nhân danh Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (UBLGBVDQ) vận động thẳng với chánh phủ Hoa Kỳ và được Tổng Thống George H. W. Bush phúc đáp rằng Hoa Kỳ không trở lại Hiệp Định Paris 1973 nữa.

UBLGBVDQ được thành lập vào 1990 gồm có LS Nguyễn Hữu Thống, LS Nguyễn Văn Chức, GS Vũ Quốc Thúc, LS Phạm Nam Sách, LS Nghiêm Xuân Hồng,và GS Nguyễn Cao Hách.

Không có quốc tế yểm trợ, kế hoạch vận động vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 chủ xướng từ năm 1986 đã thất bại. GS Vũ Quốc Thúc chia sẻ cảm nghĩ của ông về sự kiện này như sau:

“Dù biết trước những sự khó khăn này, ngay từ năm 1986, chúng tôi đã tìm cách nêu vấn đề trở lại Hiệp định Paris. Mục đích của chúng tôi, lúc bấy giờ, là kích thích tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Việt Nam tại Pháp, phần nào đã suy giảm sau khi thấy CSVN rầm rộ ăn mừng “mười năm tái thống nhất đất nước … Tóm lại, vấn đề trở lại Hiệp định Paris, coi như đã bị các đồng minh cũ của Việt Nam Cộng Hoà gạt bỏ hẳn.”

Sau khi công cuộc phục hồi Hiệp Định Paris bất thành và Hoa Kỳ bình thường hóa ngoại giao với Hà Nội, GS Vũ Quốc Thúc đã hợp tác TS Nguyễn Bá Long, rút kinh nghiệm của những cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Đông Âu, thiết lập Phong Trào Hiến Chương 2000 để đấu tranh với CSVN và vận động cho một thể chế tự do dân chủ tại Việt Nam. Bản Hiến Chương 2000 được công bố vào ngày 25-11-2000 tại Paris.

Kể từ năm 1977, khi Việt Nam được gia nhập Liên Hiệp Quốc, tức là đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, ngày càng có thêm trở ngại cho việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 và đến nay có thể nói không còn một hi vọng nào cả.Đối với quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận, Hiệp Định Paris không còn giá trị nữa.

Hoa Kỳ chính thức công nhận Việt Nam khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận với Việt Nam vào năm 1994 và tái lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995. Kể từ thời điểm này Hoa Kỳ chính thức không còn tôn trọng Hiệp Định Paris 1973.

Ngay từ đầu Hiệp Định Paris 1973 cũng chỉ là một thỏa hiệp tạm bợ để Hoa Kỳ hi vọng có thêm thời gian tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt. Do đó, không có một động cơ nào để Hoa Kỳ phục hồi hiệp định này.Trái lại, chính sách của Hoa Kỳ hiện nay là liên kết với chính quyền Hà Nội để ngăn chặn lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Tại buổi hội thảo về chính sách ngoại giao vào giữa tháng 12 vừa qua tại Hà Nội, Đại Tá CSVN Trần Đăng Thanh, giảng viên thuộc Học Viện Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, nói rằng Hoa Kỳ “đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc.”

Trong một buổi hội thảo vào cuối năm 1987 cũng tại Paris do do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 tổ chức, ông Henri Kissinger, cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của cựu Tổng Thống Richard Nixon, giải thích rằng:

“Hoa Kỳ không phản ứng khi Hà Nội vi phạm hiệp định vì Hoa Kỳ đang bị lúng túng với vụ Watergate. Dư luận Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ đã rút hết quân rồi, việc Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris xâm chiếm miền Nam là việc nội bộ của Việt Nam, Hoa Kỳ không thể nào nhân cơ hội này trở lại Việt Nam để bị lôi cuốn một lần nữa vào ‘vũng bùn chiến tranh’ và Quốc hội Mỹ cũng không chấp nhận.”

Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 là thiếu hỗ trợ quốc tế.Phục hồi nó không dễ dàng và không đem lại quyền lợi thực tiễn nào cho các nước tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.Từ lâu hiệp định này đã là một sự kiện quá khứ.

Trong 40 năm vừa qua, theo thiển ý của tôi, mặc dù có những cá nhân xuất sắc nhưng ở hải ngoại chưa thấy xuất hiện một tổ chức nào lớn mạnh, có uy tín và hậu thuẫn của người Việt để có thể đảm đương những việc làm có tầm vóc quốc tế như việc vận động phục hồi Hiệp Định Paris, giả sử nếu đó là một việc hợp lý đáng làm. Chúng ta không có thực lực.Đó là trở ngại không kém quan trọng.Và nếu không có thực lực, không một định chế quốc tế nào ủng hộ chúng ta cả.

Hiệp Định Paris 1973 chỉ còn giá trị lịch sử

Hiệp Định Paris 1973 đã chết ngắc ngoải vào đầu năm 1974, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris 1973 vô giá trị vì CSVN lợi dụng thời gian ngưng bắn để lấn chiếm những vùng hẻo lãnh. Những vi phạm này được xác nhận trong thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ ngày 10-4-1973 và công hàm của Hoa Kỳ gửi 11 nước yểm trợ Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.

Khi CSBV xua quân vượt qua sông Bến Hải để tiến chiếm Việt Nam vào 8-1-1975, Hiệp Định Paris đã bị khai tử từ ngày đó.Cả thế giới làm ngơ trước sư vi phạm trắng trợn này. Hoa Kỳ cũng không có một phản ứng nào mặc dù Điều 7 (b) của Đạo Luật về Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam (Act of The International Conference of Vietnam) ký ngày 2-3-1973 bởi 12 nước bảo đảm Hiệp Định Paris 1973 qui định rằng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ và nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam có thể triệu tập hội nghị quốc tế thay mặt những nước đã ký kết hoặc trong trường hợp có it nhất sáu nước đồng ý.

Hiệp định Paris 1973 đã chết thì không thể làm sống lại được vì những điều khoản trong hiệp định này. Thật vậy, Hiệp Định Paris 1973 công nhận Việt Nam có hai miền Bắc và Nam. Riêng miền Nam Việt Nam có hai chánh phủ: (1) Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và (2) Chánh Phủ Cách Mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
Điều 9 (b) của Chương IV qui định rằng:

“Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.”

Sau ngày 30-4-1975, chánh phủ VNCH không còn và sau ngày 2-7-1976 Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cũng bị sát nhập vào Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việt Nam không có hai miền Nam Bắc riêng biệt nữa.Sau 30-4-1975 cả triệu người Bắc di cư vào Nam lập nghiệp, không kể 150,000 quân CSBV được hai Ông Chu Ân Lai và Kissinger cho phép chính thức ở lại miền Nam Việt Nam kể từ ngày Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973. Miền Nam hiện nay không còn là miền Nam trước 30-4-1975 nữa.Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 để đòi Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trả lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17, để miền Nam tổ chức tổng tuyển cử là một chuyện hoàn toàn thiếu thực tế. Ngoài ra, không ai muốn Việt Nam lại bị chia cắt ra làm hai phần một lần nữa.

Kết luận

Sau 40 năm, tình hình thế giới đã thay đổi.Biển Đông nổi sóng vì tham vọng bành trướng củaTrung Quốc.Bàn cờ Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn.Không nên và cũng không thể nào lập lại bàn cờ cũ được.Cách đây một phần tư thế kỷ, những cố gắng của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 và Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền chứng tỏđã quá trễ rồi. Rút kinh nghiệm của những người đi trước, ngày nay ý tưởng phục hồi một hiệp định đã trở thành vô giá trị, với toan tính dựa dẫm nặng nề một lần nữa vào thế lực ngoại quốc, là một hoang tưởng và một dại dột.

Ông Lê Quế Lâm, một độc giả, sau khi đọc bản thảo của bài viết này đã tóm tắt suy nghĩ của ông như sau:

“Hiệp Định Paris 1973 ra đời đến nay vừa tròn 40 năm, đất nước đã thay đổi quá nhiều, làm sao có thể tái tạo bối cảnh cũ để trình diễn. Chỉ còn cách đóng tuồng để hoài vọng quá khứ.”

Theo thiển ý của tôi, về mặt quốc tế, lội ngược dòng là chết. Tương kế tựu kế là sách lược khôn ngoan cho một quốc gia nhỏ bé và chậm tiến như Việt Nam trong tình trạng hiện nay. Về mặt quốc nội, yểm trợ những nhà dân chủ kiên cường ở trong nước là quốc sách.

Cách đây vài năm, tôi được dịp tham gia một cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam tại Hòa Lan. Trong dịp này tôi được hân hạnh gặp một thuyết trình viên là Bà J. W. E Spies, lúc đó Bà là Chủ Tịch Đảng Christian Democratic Appeal và dân biểu Quốc Hội Hòa Lan, và hiện nay Bà là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Khi được hỏi về vấn đề vận động quốc tế cho tự do dân chủ ở Việt Nam, Bà nói rằng người Việt Nam trước tiên phải hi sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng lời khuyến cáo của Bà Spies thật rất thực tiễn và chí lý đáng cho chúng ta suy ngẫm.

© Nguyễn Quốc Khải
© Đàn Chim Việt
—————————————
Tài liệu tham khảo:
1. Lam Chan Tho, “Est-il Une Solution Pour Le Vietnam?” 2-10-2012.
2. Lê Quế Lâm, “Những Đóng Góp Cho Đất Nước Sau 1975 Của Một Chứng Nhân Lịch Sử: GS Vũ Quốc Thúc,” Thụ Nhân Âu Châu, 16-7-2011.
3. Lê Quế Lâm, “Đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc,” Việt Thức, 28-12-2010.
4. Nguyễn Hữu Thống, “Hiệp Định Hòa Bình Paris Dẫn Đến Hòa Bình của Những Nấm Mồ,” Việt Vùng Vịnh, 2-6-2010.
5. Nguyễn Quốc Khải, “Sự Thật Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973,” RFA, 17-12-2012.
6. Nguyễn Quốc Khải, “Mạn Đàm về Chính Phủ Lưu Vong,” Đàn Chim Việt, 05-12-2012.
7. Nguyễn Thiếu Nhẫn, “Sự Vong Thân Của Một Vị Tôn Sư,” Tin Paris, 2-10-2011.
8. Paris Peace Accords, “Act of The International Conference of Vietnam”, March 2, 1973.
9. Trần Đăng Thanh, “Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học,” Ba Sàm. 19-12-2012.
10. Trần Thị Diệu Tâm, “Buổi Giới Thiệu Sách của GS Vũ Quốc Thúc tại Paris,” 12-11-2010.
11. Trần Thị Diệu Tâm, “Tang Lễ của LS Vương Văn Bắc,” 28-12-2011.
12. U.S. Department of State, “Complaints of Violations of the Cease-fire: United States Note Verbale transmitted April 10, 1973 for delivery to prticipants in the International Conference in Vietnam,” April 10, 1973.
13. Vũ Quốc Thúc, “Thời Đại của Tôi,” nhà xuất bản Người Việt, 2010.
14. Đào Nương, “Chỉ Một Ngày Là Lập Xong Chính Phủ,” Saigon Nhỏ số 1019, 9-11-2012.

*

IMG_5661

*

21/07/2014
Kỷ Niệm 60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Bài học gì cho Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay?

*

Ls Lưu Tường Quang
(Sydney, Australia – Tháng 3-2014)

Bài viết đánh dấu 60 năm Hiệp Định Genève được soạn thảo với một hi vọng nho nhỏ là chúng ta có thể học được kinh nghiệm của quá khứ đau buồn mà đất nước Việt Nam thân yêu đã phải trải qua. Hiệp Định này và hậu quả của nó đã được trình bày từ nhiều quan điểm khác nhau, kể cả tài liệu khá đầy đủ của Bộ Quốc Phòng Mỹ, The Pentagon Papers (1971).

Từ năm 2004, một số tài liệu do Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến giúp chúng ta hiểu thêm về quan điểm và mục tiêu chiến lược của hai cường quốc cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc, trong vấn đề Việt Nam (Đông Dương) và thân phận của Việt Minh/Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) trong quan hệ với hai đồng minh bảo trợ.

Tài liệu Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh xác nhận điều mà chúng ta đã suy diễn là VNDCCH – cũng như Quốc Gia Việt Nam/Việt Nam Cộng Hòa (QGVN/VNCH) – đã bị chi phối quá nhiều bởi chính trị đại cường và do đó đã không theo đuổi được chính sách độc lập.

Bài viết này phần lớn nhìn vào sách lược của Bắc Kinh tại Hội Nghị Genève trong nỗ lực củng cố và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc như là một đại cường đang bước chân vào diễn đàn quốc tế. Có thể nói, đây là sách lược mà Bắc Kinh theo đuổi liên tục trong 60 năm qua, kể cả trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Việt Nam hiện nay.

Bối Cảnh

Hiệp Định Genève 1954 giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời hậu bán thế kỷ thứ 20 khi mà cuộc chiến tranh lạnh đang ở mức độ cao. Nhưng lý do dẫn đến sự chia cắt đất nước Việt Nam vào ngày 21 tháng 7 năm 1954 bắt nguồn từ những biến cố lịch sử trong và sau Thế Chiến Thứ Hai, đặc biệt là tại Hội Nghị Potsdam.

Sau khi đã đánh bại Đức Quốc Xã và trước khi Nhựt Bản đầu hàng, lãnh đạo đồng minh gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô đã họp Hội Nghị tại Potsdam từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 để qui định việc phân chia quyền lực và vùng ảnh hưởng trong thời hậu chiến.

Việt Nam không phải là một vấn đề lớn trong chương trình nghị sự. Phe đồng minh quyết định trao quyền giải giới quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến thứ 16 trở ra Bắc cho Trung Hoa Dân Quốc (quân đội Tưởng Giới Thạch) và từ vĩ tuyến thứ 16 (từ phía nam Đà Nẳng) trở vào Nam cho Anh Quốc. Cũng tại Hội Nghị nầy, phe đồng minh đã chấp nhận lời yêu cầu của đại diện nước Pháp vừa được giải phóng, để Pháp có thể tiếp thu trở lại thuộc địa Đông Dương. Đây là một quyết định tai hại cho Việt Nam và đi ngược lại trào lưu dân tộc tự quyết trong vùng Đông Nam Á. Tướng Charles de Gaulle, được coi là anh hùng tranh đấu cho nền tự do của nước Pháp, nhưng trong vấn đề Đông Dương, Tướng de Gaulle là một tên thực dân không hơn không kém.

Mặc dầu một hiệp ước sơ bộ được ký kết ngày 06.03.1946 với chính quyền Hồ Chí Minh, cuộc chiến Việt-Pháp đã không thể tránh được và trở nên khốc liệt hơn kể từ cuối năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm Bắc Kinh và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc). Khối cộng sản (Liên Xô và Đông Âu) – và đặc biệt là Trung Quốc đã trở thành hậu phương lớn tiếp viện ồ ạt chiến cụ, và gởi cố vấn tham chiến tại Việt Nam.

Năm 1952, Đại tướng Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống Mỹ và vào giữa năm 1953, Washington ủng hộ Kế hoạch Navarre của Pháp nhằm thực hiện chiến lược mới và xúc tiến việc thành lập quân đội QGVN. Trong kế hoạch mới nầy, Điện Biên Phủ, một tỉnh lẻ tại vùng biên giới Lào-Việt được chiếm lại và tạo dựng thành một căn cứ quân sự với một lực lượng quân đội Liên Hiệp Pháp khoảng 10 ngàn người.

Cũng vào giữa năm1953, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) tạm thời được ngưng bắn (armistice) chính thức vào ngày 27 tháng 7. Phương thức ngưng bắn nầy được coi là có thể áp dụng tại Đông Dương.

Có lẽ vì thế mà vào ngày 25.01.1954, tại Berlin, Hội Nghị Ngoại trưởng Tứ Cường (Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô) bày tỏ ý định triệu tập một hội nghị về Triều Tiên và Đông Dương tại Genève vào ngày 26 tháng 4 cùng năm. Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô gởi mật điện yêu cầu Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc thông báo và khuyến khích VNDCCH tham dự [1]. Cũng theo mật điện nầy, Liên Xô tin rằng QGVN, Lào và Cao Miên sẽ đồng ý tham dự. Mật điện nầy không nói lý do tại sao Liên Xô tin như vậy, nhưng một chi tiết ít khi được nhắc đến là Quốc Trưởng Bảo Đại đã cử cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tham dự Hội Nghị Berlin với tư cách quan sát viên [2].

Theo một chiến lược cố hữu ‘vừa đánh vừa đàm’ mà Chu Ân Lai đề cập trong Bản Nhận Định và Đề Nghị trình Ủy Ban Trung Ương trước khi Hội Nghị Genève bắt đầu, và để tạo thế mạnh chính trị trước hoặc trong khi Hội Nghị Genève được triệu tập, Việt Minh tập trung một lực lượng hùng hậu nhằm bao vây Điện Biên Phủ. Vào tháng 3 năm 1954, tương quan quân số đôi bên là 50 ngàn chống 10 ngàn, tức là Tướng Võ Nguyên Giáp, dưới sự cố vấn của Đại Tướng Trung Cộng Trần Canh [3], có ưu thế gấp 5 lần nhiều hơn.

Ngày 07.05.1954, Điện Biên Phủ thất thủ và tạo một ảnh hưởng chính trị lớn tại Paris vượt xa giá trị quân sự của tỉnh lẻ nầy. Bộ đội Việt Minh thiệt hại khoảng 8 000 nhân mạng so với khoảng 1500 của quân đội Liên Hiệp Pháp. Bảo Đại nói rằng sự thất thủ của Điện Biên Phủ chẳng phải là một tai họa chiến lược gì [4].

Nhưng mục tiêu của Việt Minh không phải, hoặc không chỉ là quân sự – mà là ảnh hưởng chính trị tại các thủ đô phương Tây. Mười bốn năm sau, Hà Nội đã mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 tại VNCH và đã thất bại nặng nề về mặt quân sự, nhưng lại chiến thắng về mặt chính trị tại Washington, dẫn đến Hòa Đàm Paris sau đó.

Một ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Hội Nghị Genève được khai mạc để thảo luận vấn đề Đông Dương (Hội Nghị đã bắt đầu từ 29 tháng 4, để thảo luận vấn đề Triều Tiên)

Sự Kiện:

Hội Nghị Genève về Đông Dương được triệu tập ngày 08.05.1954 và kết thúc vào quá nửa đêm ngày 20.07.1954 tức là ngày 21.07.1954.

Đồng Chủ tịch Hội Nghị là Anh Quốc và Liên Xô và thành phần tham dự gồm:
Anh Quốc/United Kingdom:
Anthony Eden, Bộ trưởng Ngoại Giao
Hoa Kỳ/United States:
General Walter Bedell Smith, Thứ trưởng Ngoại Giao
U. Alexis Johnson
Trung Quốc/People’s Republic of China
Chu Ân Lai/Chou En-lai, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao
Chang Wen-t’ien
Li K’e-nung
Việt Minh
Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Ngoại Giao
Ai Lao/Laos
Phoui Sananikone, Bộ trưởng Ngoại Giao
Liên Xô/USSR
Vyacheslav Molotov, Bô trưởng Ngoại Giao
Pháp/France
Georges Bidault, Bộ trưởng Ngoại Giao (đến ngày 17.06.1954)
Jean Chauvel
Pierre Mendès-France, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao (từ ngày 17.06.1954)
Việt Nam
Giáo sư Nguyễn Quốc Định, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Bửu Lộc) Nguyễn Đắc Khê, Bộ trưởng (trong chính phủ Bửu Lộc)
Bác sĩ Trần Văn Đỗ, Bộ trưởng Ngoại Giao (trong chính phủ Ngô Đình Diệm)
Cao Miên/Cambodia
Tep Phan, Bộ trưởng Ngoại Giao
Sam Sary

Trong thành phần này, Việt Nam là nước duy nhất có hai phái đoàn đại diện cho hai chính phủ thù địch là QGVN và VNDCCH. Pathet Lào và cộng sản Khmer, mặc dầu được phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh) ủng hộ, nhưng vẫn không được mời tham dự Hội Nghị. Thế nhưng, không phải vì thế mà họ bị bỏ quên, vì Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng lúc nào cũng nêu vai trò của phe cộng sản tại Ai Lao và Cao Miên với đòi hỏi là Hội Nghị phải giải quyết chung vấn đề cho cả 3 nước Đông Dương. Hai phái đoàn Ai Lao và Cao Miên lập luận rằng vấn đề Ai Lao và Cao Miên khác với vấn đề Việt Nam, nên cần có giải pháp riêng. Tuy lập trường nầy được phe phương Tây ủng hộ, sau cùng quan điểm của phe cộng sản được chấp nhận.

Việt Nam có 3 trưởng phái đoàn liên tiếp, vì các thay đổi chính phủ tại Sài Gòn. Giáo sư Nguyễn Quốc Định là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Bửu Lộc (11.01 – 16.06.1954) và Ông Nguyễn Đắc Khê cũng là Bộ trưởng (phụ trách vấn đề dân chủ hoá) trong chính phủ Bửu Lộc. Còn Bác sĩ Trần Văn Đỗ là Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên và thứ nhì (16.06.1954 – 23.10.1955). Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống VNCH [5].

Trong thời gian Hội Nghị, Pháp cũng có thay đổi chính phủ: Chính phủ của Thủ tướng Joseph Laniel mà Bộ trưởng Ngoại Giao là Ông Georges Bidault bị phe nhóm trung tả của Ông Pierre Mendès-France đánh bại tại Quốc Hội. Ngày 17.06.1954, Ông Mendès-France trở thành Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao và thay thế Ông Bidault tại Hội Nghị Genève. Đây là biến chuyển chính trị vô cùng tai hại cho QGVN, như chúng ta sẽ phân tích ở phần sau của bài này.

Hội nghị Genève thảo luận hai vấn đề chính là Triều Tiên và Đông Dương, nhưng đã dành phần lớn thì giờ cho Đông Dương hơn, vì Triều Tiên đã được ngưng bắn trong khi chiến cuộc vẫn tiếp diễn tại Việt Nam trong suốt thời gian Hội Nghị. Bài nầy chỉ chú trọng vào vấn đề Việt Nam tại Genève mà thôi. Ngoài diễn đàn chính tại Genève, đại diện quân sự đôi bên còn nhóm họp tại Trung Giã (Tỉnh Phúc Yên), từ ngày 4 đến 27 tháng 7 để bàn thảo về những vấn đề kỹ thuật như việc hạn chế hoạt động quân sự, rút quân, tập kết, trao đổi tù binh vv…

Riêng về Việt Nam, Hội Nghị kết thúc với một Hiệp Định (Accords sur la cessation des hostilités en Indochine, Accords de Genève 1954 (20 juillet 1954) và Một Lời Tuyên Bố Sau Cùng (The Final Declaration of The Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954). Hiệp Định gồm 47 điều với hai bản văn chính thức bằng tiếng Pháp và tiếng Việt được ký bởi Thiếu tướng Henri Delteil, đại diện Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương và Ông Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc Phòng của VNDCCH.
Một vấn đề còn tranh cãi

Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng vấn đề tồn đọng và còn được tranh cãi là hiệu lực và tính cách ràng buộc của Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Văn kiện nầy chỉ được vị đồng Chủ tịch Anthony Eden đọc lên trước khi Hội Nghị bế mạc [6] và không ai ký tên vào bản văn cả.

Hoa Kỳ không phải là thành viên kết ước, nhưng tuyên bố tôn trọng Hiệp Định. QGVN từ chối ký tên và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phát biểu rõ rệt là Việt Nam chống đối hoàn toàn giải pháp chia cắt đất nước. Vì vậy, mặc dầu Lời Tuyên Bố của Trưởng Phái Đoàn Trần Văn Đỗ không được chính thức ghi vào văn bản, nhưng không ai có thể coi là QGVN/VNCH chấp nhận kết quả của Hội Nghị Genève, kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng. Tại Thủ đô Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên tiếng chống đối mạnh mẽ việc đặt nửa phần đất nước dưới chế độ cộng sản và cờ rủ được treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ phía nam Sông Bến Hải, như là ngày tang cho tổ quốc.

Trong cốt lõi, Lời Tuyên Bố Sau Cùng gồm hai điểm quan trọng. Thứ nhất là vĩ tuyến 17 là ‘ranh giới quân sự tạm thời’ chớ không phải là ‘một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ’(đoạn 6). Và thứ hai là tổng tuyển cử dự trù được tổ chức 2 năm sau, tức là vào tháng 7 năm 1956, để thống nhất Việt Nam (đoạn 7).

Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một văn kiện chính trị, bày tỏ ý muốn của phe cộng sản (Liên Xô, Trung Quốc và VNDCCH) và được Anh và Pháp đồng ý, nhưng ước muốn tự nó không thể có hiệu lực cưỡng hành như một hiệp ước. Phe cộng sản và một số tác giả phương Tây bằng vào các lời cam kết tôn trọng Hiệp Định Genève mà kết luận rằng Lời Tuyên Bố Sau Cùng là một phần của Hiệp Định và có tính cách ràng buộc. VNCH, thể chế chính trị kế thừa QGVN, không đồng ý với quan điểm nầy.

Trên nguyên tắc, Tổng thống Ngô Đình Diệm không chống đối một cuộc tổng tuyển cử tự do và được Liên Hiệp Quốc giám sát. Không ai – kể cả những chính phủ và các tác giả ủng hộ phe cộng sản – có thể lập luận rằng bầu cử tự do có thể được tổ chức tại Bắc Việt trong năm 1956. Đấy là một chế độ độc tài toàn trị, do guồng máy công an kiểm soát chặt chẽ từng nhà bằng phương thức hộ khẩu, mô phỏng theo chế độ Mao Trạch Đông. Trái lại, Nam Việt Nam là một chế độ tự do, tuy chưa hoàn hảo.

Người ta có khuynh hướng so sánh chế độ tự do tại VNCH với chế độ dân chủ Tây Âu và Bắc Mỹ, trong khi vì hoàn cảnh lịch sử, VNCH đáng lẽ phải được so sánh với các nước vừa được độc lập sau Thế Chiến Thứ Hai như Indonesia và Philippines – là những quốc gia non trẻ tập tễnh trên con đường dân chủ đầy chông gai. Điều trớ trêu là ông Hồ Chí Minh không bị chỉ trích vì chế độ độc tài toàn trị ở Miền Bắc, mà Ông Ngô Đình Diệm lại bị đả kích vì chế độ tự do tại Miền Nam ‘thiếu dân chủ’. Điển hình cho khuynh hướng nầy là tác giả Joseph Buttinger, thoạt đầu là một người bạn nhưng sau đó trở thành một người chỉ trích dữ dội ông Ngô Đình Diệm [7].

Người ta cũng thường trích dẫn nhận xét của Tổng thống Dwight D. Eisenhower, theo đó ông Hồ Chí Minh có thể thắng trong một cuộc bầu cử tự do. Ngoài lý do nhận xét nầy thường được trích dẫn bên ngoài văn mạch (out of context) khi Tổng thống Mỹ so sánh ông Hồ Chí Minh với cựu Hoàng Bảo Đại, nhận xét này còn phải được hiểu, trong bối cảnh thực tế của năm 1956 khi Miền Bắc đông dân hơn Miền Nam. Bởi vậy, cho dầu 100% dân chúng Miền Nam ủng hộ ông Ngô Đình Diệm – một scenario không thể xảy ra bắt cứ tại đâu bên ngoài khối cộng sản – ông Hồ Chí Minh vẫn có thể đạt được đa số [8].

Còn việc giám sát của Liên Hiệp Quốc thì sao? Lập trường xuyên suốt của QGVN/VNCH là Liên Hiệp Quốc phải có vai trò chính trong việc giám sát cuộc đình chiến cũng như trong vấn đề tổ chức bầu cử tự do. Tại sao phe cộng sản tại Hội Nghị Genève cũng như sau Hội Nghị luôn luôn từ chối sự giám sát của Liên Hiệp Quốc trong vấn đề chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình tại Viêt Nam?

Trước kia, chúng ta có thể suy đoán, nhưng ngày nay chúng ta có thể tìm được lý do trong số 80 công điện và phúc trình mật và tối mật mà Chu Ân Lai gởi về Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và được Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh phổ biến hạn chế hồi năm 2004. Bằng chứng cũng có thể tìm thấy trong các nhật ký của Molotov trong số 8 văn kiện mật mà Moscow đã phổ biến.

Phe cộng sản – cá biệt là Bắc Kinh – rất e ngại vấn đề Việt Nam được quốc tế hóa mà Bắc Kinh coi là con đường dẫn đến sự tham dự của Hoa Kỳ [9]. Liên Xô còn có thêm một lý do khác để chống đối sự tham dự của Liên Hiệp Quốc. Trong vấn đề Triều Tiên, Moscow đã không sử dụng quyền phủ quyết khi Hội Đồng Bảo An quyết nghị can thiệp, dẫn đến sự tham chiến quốc tế do Mỹ lãnh đạo trong cuộc chiến Triều Tiên (1950 – 1953). Trong vấn đề giám sát của Liên Hiệp Quốc, ông Hồ Chí Minh (mà các văn kiện mật và tối mật của Bắc Kinh và Moscow thường gọi với bí danh là “Comrade Ding/Đồng chí Ding”) tuân theo đường lối của hai đàn anh cộng sản.

Ngày nay, trong bối cảnh khác và tác nhân tranh chấp khác – tức là giữa Trung Quốc và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hoặc với Philippines, Bắc Kinh cũng chống đối việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dầu là dưới hình thức trước Tòa Án Quốc Tế hay dưới hình thức thương thuyết đa phương, mà mục đích là để ngăn ngừa sự tham dự của Mỹ.

Một lập luận khác cũng thường được nêu lên là vì Pháp chấp nhận thi hành Hiệp Định Genève kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng, nên QGVN/VNCH cũng bị ràng buộc và phải thi hành. Cơ sở của lập luận nầy là (a) QGVN chưa hoàn toàn độc lập trong Liên Hiệp Pháp, và (b) Pháp hành xử thẩm quyền ngoại giao thay cho QGVN tại Hội Nghị Genève.

Luận điệu nầy không đúng. Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất Nam Bắc Trung theo Bản Tuyên Bố Chung Việt-Pháp tại Vịnh Hạ Long ngày 05.06.1948 và được chính thức xác nhận bởi Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ngày 08.06.1949. Trên cơ sở hai văn bản nầy, thì QGVN quả thật chưa hoàn toàn độc lập về phương diện tài chánh và ngoại giao. Thế nhưng, giới hạn cuối cùng nầy đã được tháo gỡ bởi Hiệp Ước Việt-Pháp mà Thủ tướng Bửu Lộc và Thủ tướng Joseph Laniel đã ký ngày 04.06.1954.

Tại Hội Nghị Genève, Việt Nam là một quốc gia hoàn toàn độc lập và được ít nhất là 35 quốc gia khác trên thế giới công nhận từ năm 1949 đến năm 1955 so với 26 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trong cùng khoảng thời gian ấy [10].

Quan điểm của Sài Gòn là VNCH không bị ràng buộc bởi Lời Tuyên Bố Sau Cùng là có cơ sở.

Phân Tích: chính trị đại cường

‘Chính trị đại cường’ hay chính trị nước lớn là một nhóm chữ đơn giản nhưng không thể hiện được sự phức tạp trong quan hệ Anh-Pháp-Mỹ từ phía ‘đồng minh’ phương Tây. Từ phía cộng sản, quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow chưa có gì gây cấn và được coi là rất đầm ấm, vào thời điểm 1954 vì Trung Quốc, chỉ sau 5 năm thành lập, còn phải học hỏi nhiều từ Liên Xô về mặt ngoại giao trên diễn đàn quốc tế. Nhưng không phải vì sự khác biệt trong nội bộ cường quốc phương Tây và trong nội bộ cường quốc cộng sản mà hai phía đối nghịch Việt Nam không phải đối diện với nhiều khó khăn tại Hội Nghị. Đáng ngạc nhiên là những khó khăn này lại giống nhau, tức là những khó khăn với chính ‘đồng minh’của mình. Dị biệt giữa Washington, London và Paris sâu đậm và phức tạp hơn, nên QGVN đã không thể vượt qua những trở lực tại Hội Nghị và sau cùng đã phải chịu thất bại nặng nề hơn là VNDCCH [11].

Khởi thủy, lập trường của hai phe đối nghịch Việt Nam đều chống đối giải pháp chia cắt đất nước. Thế nhưng trong khi QGVN nhất quán duy trì lập trường bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, thì VNDCCH đã không cưỡng lại được sức ép của Trung Quốc và Liên Xô nên phải chấp nhận giải pháp chia đôi.

Chia đôi Việt Nam là giải pháp mà Moscow và Bắc Kinh chủ trương rất sớm từ đầu tháng 3 năm 1954. Lần đầu tiên bước vào sân khấu chính trị thế giới nên Bắc Kinh đã chuẩn bị rất kỹ. Chính Thủ tướng Chu Ân Lai đã soạn thảo chính sách chỉ đạo mà Ban Bí Thư Ủy Ban Trung Ương đã cứu xét và chấp thuận ngày 02.03.1954 [12].

Theo tài liệu quan trọng nầy, Trung Quốc đánh giá cao thành công của Liên Xô trong việc vận động triệu tập Hội Nghị Genève và coi việc tham dự của Trung Quốc là một bước tiến lớn, mặc dầu các cường quốc ‘phản động’ không tin là Hội Nghị có thể đạt kết quả gì. Bởi vậy, chính sách của Trung Quốc là phải tham dự̣ để cải thiện thể đứng ngoại giao và phá vỡ âm mưu gây chiến của ‘đế quốc Mỹ’. Trung Quốc phải nỗ lực đạt kết quả, dầu là kết quả giới hạn hoặc tạm thời, để mở đường cho việc giải quyết tranh chấp bởi các đại cường.

Trung Quốc đã tự coi mình là một đại cường. Đối với Đông Dương, Trung Quốc phải cố gắng để hội nghị không thất bại, và tham dự để, nếu cần, tạo ra tình trạng vừa đánh vừa đàm (“negotiating while fighting”) nhằm gây khó khăn cho Pháp và tạo mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ. Một cách cụ thể, chính sách đã nói rõ là ‘ngưng bắn tại chỗ’ không tốt bằng chia đôi Nam/Bắc có thể là tại vĩ tuyến thứ 16. Chu Ân Lai còn nói thêm là Trung Quốc phải chuẩn bị thảo luận các giải pháp hợp tác kinh tế thương mại để bẻ gẫy phong tỏa của Mỹ – và bên lề hội nghị, cải thiện bang giao song phương với Anh, Pháp và Canada. Trong bản văn này, Chu Ân Lai đã nhận xét chính xác là các cường quốc phương Tây chia rẽ và có nhiều khó khăn chính trị nội bộ.

Sự phối hợp giữa phe cộng sản chặt chẽ hơn là phe phương Tây. Ngày 22.04.1954, tại Moscow, Chu Ân Lai thảo luận với Đệ Nhất Bí Thư Nikita Khrushchev và Thủ tướng George M. Malenkov và Liên Xô đồng ý với chính sách của Chu Ân Lai. Khrushchev nói chính sách nầy phải được bảo mật. Khrushchev cho biết là đã tiếp Đồng chí Ding (bí danh của Hồ Chí Minh) và cho biết yêu cầu của Hồ Chí Minh có thể được thỏa mãn (satisfied), nhưng không nói rõ hoặc mật điện không ghi rõ là yêu cầu gì. Mật điện nói thêm là Hồ Chí Minh ghé lại Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Đông trên đường về [13].

Một phiên họp quan trọng khác được tổ chức tại Liễu Châu / Liuzhou, Trung Quốc, ngày 04.07.1954 giữa Chu Ân Lai và các phụ tá với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhưng nội dung không được tiết lộ trong mật điện [14].
Bề ngoài, Chu Ân Lai có vẻ quan tâm đến uy tín của VNDCCH. Ngoài các phiên họp đặc biệt với Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai không bỏ lỡ cơ hội than phiền với các trưởng phái đoàn phương Tây về việc mà ông gọi là “bất bình đẳng” (inequality) trong việc phương Tây phân biệt đối xử giữa QGVN và VNDCCH.

Trong cuộc thảo luận với Ngoại trưởng Anthony Eden ngày 14.05.1954, Chu Ân Lai than phiền là Pháp đã không thèm trả lời đề nghị chính trị của Phạm Văn Đồng, vì Pháp chỉ coi QGVN là đại diện cho toàn thể Việt Nam. Theo lời Chu Ân Lai, người đòi hỏi quá nhiều không phải là Hồ Chí Minh mà là Bảo Đại, vì Bảo Đại không những coi mình là lãnh tụ duy nhất của Việt Nam mà còn đòi hỏi Liên Hiệp Quốc bảo đảm Bảo Đại là lãnh tụ duy nhất sau cuộc tổng tuyển cử – một đề nghị mà Moscow và Bắc Kinh đều không chấp nhận. Tất nhiên, Chu Ân Lai cũng không quên đòi hỏi cho chính mình là Trung Quốc xứng đáng được có qui chế của một đại cường [15]. Cũng theo Chu Ân Lai, Ngoại trưởng Georges Bidault chẳng những không công nhận Việt Minh mà còn coi họ là một ‘lực lượng phản loạn’ [16].

Thật vậy, nếu chúng ta có thể chia Hội Nghị Genève làm hai giai đoạn trước và sau ngày 17.06.1954, thì vị thế của phái đoàn QGVN trên chân hẳn phái đoàn VNDCCH trong giai đoạn đầu.

Mặc dầu có sự nghi kỵ và khác biệt quan điểm giữa Anh-Pháp-Mỹ, Mỹ và đặc biệt là Pháp ủng hộ QGVN mạnh mẽ. Lập trường sơ khởi của Thủ tướng Joseph Laniel và Ngoại trưởng Georges Bidault không khác gì lập trường của QGVN. Thủ tướng Laniel đã đặt 5 điều kiện ngưng bắn là quân cộng sản phải rút khỏi Miên và Lào, thiết lập một vùng phi quân sự tại Đồng bằng Sông Hồng, di chuyển quân cộng sản tại Việt Nam vào vùng chờ đợi định trước, quân Việt Minh phải rút khỏi Nam Việt và bảo đảm ngăn cấm mọi tăng viện từ bên ngoài [17].

Thế đứng của QGVN sụp đổ cùng với sự sụp đổ của chính phủ Laniel. Ngày 17.06.1954, tân Thủ tướng thiên tả Pierre Mendès-France tuyên bố trước Quốc Hội Pháp rằng điều đình ôn hòa có thể̉ thực hiện được và ngưng bắn có thể đạt được. Tân Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Pháp tự đặt cho mình một thời hạn phải đem lại kết quả là ngày 20.07.1954. Bảo Đại coi đây là lời tuyên bố “lạ lùng” [18], nhưng quan trọng hơn là phái đoàn QGVN tại Genève bị cô lập hoàn toàn kể từ thời điểm nầy.

Vài ngày sau, Chu Ân Lai và Mendès-France gặp nhau lần đầu tiên tại Đại Sứ quán Pháp ở Bern, Thụy Sĩ. Theo phúc trình của Chu Ân Lai ngày 23.06.1954, Mendès- France đã nói rằng nhìn chung, mục tiêu của Trung Quốc và Pháp không có nhiều dị biệt về nguyên tắc. Mendès-France đồng ý với Chu Ân Lai về giải pháp 2 bước: đình chiến về quân sự và tiếp theo sau là giải pháp chính trị. Mendès-France cũng đồng ý với Chu Ân Lai là Pháp sẽ không để Mỹ lập căn cứ quân sự trong vùng [19].

Sự rạn nứt giữa Pháp và Mỹ được xác nhận. Trung Quốc rất lo ngại trước nguồn tin Mỹ thảo luận thành lập tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO mà Chu Ân Lai coi như là một đe dọa cho chính Trung Quốc. Trong cuộc thảo luận nầy, Chu Ân Lai cũng cho biết là Trung Quốc thúc giục VNDCCH tiếp xúc với phái đoàn Pháp và phái đoàn QGVN và yêu cầu Pháp cũng có đề nghị ngược lại với Bảo Đại.
Chu Ân Lai tiếp tục lo ngại về khả năng Mỹ thiết lập căn cứ quân sự tại Đông Nam Á và nêu vấn đề nầy với Anthony Eden và Mendès-France. Eden giải thích rằng SEATO, nếu được thành lập, chỉ là một liên minh phòng thủ (defensive) trong khi đó Mendès-France nhắc lại quan điểm của Pháp là không có kế hoạch thiết lập căn cứ Mỹ trong vùng [20].

Thời hạn 20.07.1954 gần kề nên Mendès-France nỗ lực thu hẹp dị biệt lập trường giữa hai bên. Các đại cường đã đồng ý là thành viên Uỷ Hội Kiểm Soát Đình Chiến bao gồm các nước Ấn Độ, Canada và Ba Lan. Vấn đề còn lại là Việt Nam sẽ bị chia cắt tại đâu và tổng tuyển cử được ấn định lúc nào? Không khác chi các chuyến ‘đi đêm’ giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ trong thời gian Hòa Đàm Paris vào đầu thập niên 1970, Pháp, Anh, Liên Xô và Trung Quốc cùng đi đêm với nhau mà phái đoàn QGVN không biết và có lẽ phái đoàn VNDCCH cũng không biết rõ [21]. Phái đoàn QGVN chỉ nhận được tin tức đã chậm mà còn không đầy đủ, do phái đoàn Mỹ chuyển lại. Tuy vậy, Trưởng phái đoàn Trần Văn Đỗ cũng gặp được Chu Ân Lai, do sự giới thiệu của phái đoàn Pháp. Một ngày trước khi Hội Nghị kết thúc, Bác sĩ Trần Văn Đỗ lên tiếng cực lực bác bỏ phát biểu của Liên Xô và của Pháp khi cả hai cường quốc nầy đề cập đến sự chia đôi lãnh thổ Việt Nam [22].

Trong khi đó, trái với lập trường nguyên thủy, VNDCCH chấp nhận giải pháp chia đôi. Họ đã từng đề nghị một nơi nào đó giữa vĩ tuyến 13 và 14, nhưng trước sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ hi vọng đó là vĩ tuyến thứ 16, trong khi Pháp hãy còn đòi hỏi vĩ tuyến thứ 18. Mendès-France nói rằng Pháp không thể chấp nhận vĩ tuyến 16 vì Pháp không thể để cố đô Huế lọt vào tay cộng sản. Tài liệu Liên Xô cũng cho thấy Moscow chấp nhận vĩ tuyến16 rất sớm, từ đầu tháng 3 năm 1954. Thế nhưng Molotov vẫn bênh vực đề nghị vĩ tuyến 13/14 của VNDCCH như là một chiến thuật thương thuyết để sau nầy có cơ hội trao đổi “nhượng bộ”. Cũng theo chiến thuật thương thuyết nầy, Moscow đã ủng hộ thời hạn tổ chức tổng tuyển cử mà VNDCCH muốn đạt được là trong vòng 6 tháng sau khi ngưng chiến. Do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc – đặc biệt là Trung Quốc vì Bắc Kinh không muốn Hội Nghị thất bại và Bắc Kinh đang lo Mỹ can thiệp – VNDCCH phải từ bỏ vĩ tuyến 13/14 và phải chấp nhận tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956 [23].

Trong phiên họp ngày 20.07.1954 giữa Chu Ân Lai, Mendès-France và Eden, Mendès-France đề nghị giải pháp dung hòa là vĩ tuyến 17. Phạm Văn Đồng không trả lời [24].

Số phận Việt Nam đã an bài.
Tạm Kết

Chúng ta không thể thay đổi lịch sử, nhưng diễn tiến lịch sử tại Hội Nghị Genève 1954 có thể cho ta bài học gi?

Trái với luận điệu tuyên truyền “môi hở răng lạnh” mà cả Bắc Kinh và Hà Nội đều đã sử dụng, Trung Quốc giúp đỡ phe cộng sản tại Việt Nam trước và sau năm 1954 là vì quyền lợi của Trung Quốc. Trung Quốc coi Hội Nghị Genève là bàn đạp để Trung Quốc xác định vai trò đại cường trên diễn đàn quốc tế. Trung Quốc không muốn Hội Nghị thất bại, vì e ngại sự thất bại ấy có thể dẫn đến sự can thiệp quân sự của Mỹ mà Trung Quốc coi là mối đe dọa cho chính Trung Quốc. Đây là một tầm nhìn chiến lược mà Bắc Kinh không thay đổi trong 60 năm qua. Trong chiến lược nầy, quyền lợi của Việt Nam là thứ yếu. Nhân cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979, Hà Nội lần đầu tiên và chỉ một lần thôi, dám lên tiếng cáo buộc Trung Quốc đã phản bội VNDCCH tại Hội Nghị Genève [25].

Trên 60 năm qua, Việt Nam Thống Nhất hoặc Việt Nam chia đôi đều đã là nạn nhân của ván bài chính trị đại cường. Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ tiếp tục vướng mắc trong chính trị nước lớn, nếu Hà Nội tiếp tục gắn bó trong mối quan hệ đặc biệt và bất bình đẳng với Bắc Kinh như được diễn đạt dưới chiêu bài 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong thế giới đa cực ngày nay, quyền lợi lâu dài của tổ quốc Việt Nam là bang giao độc lập và bình đẳng với tất cả các cường quốc.

L.T.Q.
Tác giả gửi BVN

Tài liệu tham khảo:

[1960] Anthony Eden, The Memoirs of the Rt. Hon. Sir Anthony Eden, Cassell, London.
[1968] Dennis J. Duncanson, Government and Revolution in Vietnam, Oxford University Press, London.
[1977] Joseph Buttinger, Vietnam the Unforgettable Tragedy, Andre Deutsch, London.
[1990] Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam – Hồi Ký Chánh Trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, Xuân Thu Publishing phát hành, Los Alamitos, CA, USA.
Woodrow Wilson Center, Cold War International History Project No.16, The Geneva Conference of 1954 – New Evidence from the Archives of the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China [80 documents].
Bằng chứng mới nầy gồm 80 công điện mật hoặc tối mật mà phần lớn do Chu Ân Lai tường trình về Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản. Đây chỉ là một số tài liệu của Bộ Ngoại Giao tại Bắc Kinh và một số còn bị cắt xén. Toàn bộ tài liệu của Bộ Ngoại Giao chưa được công bố. Tài liệu của Bô Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tức là cơ quan đầu não quyết định chính sách, thì hoàn toàn chưa được công bố.
(Trong phần Ghi Chú sẽ là Tài liệu PRC [Doc no…] ngày…).
Woodrow Wilson Center, Cold War International History Project No.16, The Geneva Conference of 1954 – Russian Documents on the 1954 Geneva Conference [8 documents].
Từ phía Liên Xô, có 8 tài liệu mà phần lớn là Nhật Ký mật (secret Journal) của V. M. Molotov và do các phụ tá của Molotov ghi lại dưới hình thức tóm lược.
(Trong phần Ghi Chú sẽ là Tài liệu USSR [Doc no…] ngày…).
[1971] The Pentagon Papers, Gravel Edition
Volume 1, Chapter 3, “The Geneva Conference, May-July, 1954”
(Boston: Beacon Press, 1971) Section 1, pp 108-146.
[1971] The Pentagon Papers, Gravel Edition
Volume 1, Chapter 3, “The Geneva Conference, May-July, 1954”
(Boston: Beacon Press, 1971) Section 2, pp 146-178.
Ghi Chú:
[1] Tài liệu PRC [Doc 1] – Mật Điện do Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô gởi Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc qua Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh ngày 26.02.1954. (“Previously we already informed you that “other related countries” in Indochina, according to our understanding, should be the Democratic Republic of Vietnam and the…Chief (Quoc Truong)] Bao Dai’s [State of] Vietnam, Laos and Cambodia. We know that the Vietnamese friends are concerned about the convening of the Geneva Conference, and whether they will attend the conference. We believe that the CCP Central Committee will agree to our opinion.”).
[2] Bảo Đại, trang 499.
[3] Wikipedia Tiếng Việt: Trần Canh (Chen Geng; 1903 -1961), là một Đại tướng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc và là một trong những tướng lãnh được Mao Trạch Đông tin cậy nhất. Ông đã từng giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng. Ông là Trưởng Phái bộ Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc của Việt Minh từ ngày 07.07.1950.
[4] Bảo Đại, trang 510.
[5] Bảo Đại, trang 500, 518, 527, 538-539.
[6] Eden, trang 24.
[7] Buttinger, trang 53-69 (trao đổi thư riêng giữa tác giả và Tổng thống Ngô Đình Diệm).
[8] Duncanson, trang 223-224.
[9] Tài liệu PRC:
– [Doc 3] Mật điện của Đại sứ Trung Quốc tại Moscow phúc trình về Bộ Ngoại Giao tại Bắc Kinh, ngày 06.03.1954 (“Molotov emphasized that the United Nations should not be allowed to get involved”).
– [Doc 25] Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông ngày 04.06.1964 (“Bao Dai’s delegate said at yesterday’s eleventh restricted session on the Indochina issue that only the United Nations could take charge of the task of supervising. Bidault spoke to support Bao Dai’s delegate…I made statements not only resolutely opposing the United Nations supervision…”).
– [Doc 46] Biên bản thảo luận giữa Chu Ân Lai và Thủ tướng Pháp P. Mendès-France tại Đại Sứ quán Pháp ở Bern ngày 23.06.1054 (Chu Ân Lai nói với Mendès-France: “The Bao Dai government should approach the Democratic Republic of Vietnam through discussions and negotiations, instead of opposing it. Unfortunately, his [Bao Dai’s] political proposal aims exactly at opposition, hegemony, and at inviting the United Nations to intervene. This is unacceptable…”).
[10] Wikipedia Tiếng Việt: Quốc Gia Việt Nam / État du Vietnam &
Zhang Sulin (Ministry of Foreign Affairs Archives, Beijing) – The Declassification of Chinese Foreign Ministry Archival Documents – A Brief Introduction (page 11)
Tuy nhiên, bài nầy không thảo luận chi tiết về tư cách quốc gia của Bắc Việt và Nam Việt Nam theo Công Pháp Quốc Tế.
[11] Xem The Pentagon Papers có phần tóm lược đầy đủ về lập trường và mục tiêu của các nước tham dự Hội Nghị Genève 1954.
[12] Tài liệu PRC [Doc 2] Trích dẫn nhận định và chính sách do Chu Ân Lai soạn thảo và được Ban Bí Thư Ủy Ban Trung Ương chấp thuận ngày 02.03.1954.
[13] Tài liệu PRC [Doc 6] Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Ủy Ban Trung Ương, ngày 23.04.1954.
[14] Tài liệu PRC [Doc 64] – Mật điện Chu Ân Lai gởi Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Uỷ Ban Trung Ương tường trình phiên họp tại Liễu Châu / Liuzhou với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ngày 04.07.1954. Phiên họp nầy quan trọng vì bao gồm chính sách và thủ tục thương thuyết tại hội nghị cũng như chính sách và chiến thuật của Đảng Lao Động Việt Nam (“The question of negotiation—including policies, procedures,
timing and supervision; the policies and tactics of the Vietnamese Workers
Party in the future and the tendencies that are in need of attention”). Tuy nhiên, nội dung không được ghi trong mật điện.
Tài liệu USSR [Doc 2] Trong cuộc hội kiến với Xử Lý Thường Vụ Liên Xô tại Bắc Kinh ngày 05.07.1954, Mao Trạch Đông cũng nói về cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh tại Liễu Châu / Liuzhou nhưng báo cáo của Xử Lý Thường Vụ Liên Xô cũng không ghi nhận nội dung Liễu Châu.
[15] Tài liệu PRC [Doc 13] – Biên bản thảo luận Chu Ân Lai /Anthony Eden, ngày 14.05.1954 – Zhou Enlai:…“I meant that France had not answered Mr. Pham Van Dong’s political proposal, while only recognizing Bao Dai as representing all of Vietnam and unifying Vietnam under him. This is a completely unreasonable thought.”… Zhou Enlai: “China deserves the status of a great power. This is an existing fact. We are willing to work with others for world peace, particularly for peace in Asia….”… Zhou Enlai: “I think that the person who is asking too much is not Ho Chi Minh but Bao Dai. In their proposal, the delegates from the State of Vietnam not only asked that Bao Dai be recognized as the only leader of Vietnam, but also that the United Nations guarantee Bao Dai’s status as Vietnam’s only leader after the elections. Ho Chi Minh has made no such demands.”…
[16] Tài liệu PRC [Doc 9] ngày 09.05.1954.
[17] Tài liệu PRC [Doc 27] 05.06.1954 Biên bản (Tối Mật) thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và phái đoàn Pháp Wang/Chauvel [Editor’s Note: French Prime Minister Joseph Laniel had demanded five conditions for a ceasefire: withdrawal of all communists from Cambodia and Laos, creation of a demilitarized zone aroundthe Red River Delta, relocation of communists in Vietnam into predetermined standing zones, removal of all Viet Minh troops in south Vietnam, and guarantees against reinforcements from abroad].
[18] Bảo Đại, trang 516.
[19] Tài liệu PRC [Doc46] Thảo luận Chu Ân Lai / Mendès-France tại Đại Sứ quán Pháp, Bern, Thụy Sĩ ngày 23.06.1954 – Mendès-France: “…Generally speaking, [our] goals are not much different in principle….There is one more final point. I am glad the Premier made such a suggestion: it is the best to go through two steps. The first is a cease-fire, and the second is a political settlement…This is a practical solution, it should be reached quickly…There is another important point. The Premier raised a concern about establishing American military bases. I fully agree
on this point. I want to make it clear that we don’t intend to establish any American bases in that region. We don’t have such a plan…”.
Zhou Enlai: “…You had a very good answer to my last point. France has no intention to establish any American bases. This is very good not only for the three countries, but also good for China, France, and Southeast Asia. All of us hope for a peaceful co-existence and for building a common foundation for the future…”.
[20] Tài liệu PRC
– [Doc 68] Thảo luận Chu Ân Lai / Anthony Eden ngày 13.07.1954.
– [Doc 71] Thảo luận Chu Ân Lai / Mendès-France ngày 17.07.1954.
Và Tài liệu USSR [Doc 5] Thảo luận giữa Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng ngày 16.07.1954 – “Zhou Enlai says that according to information available to him Britain is taking vigorous action to create an alliance of countries in Southeast Asia which would be tied to one another by a system of treaties of the Locarno type. The US is trying to counter the British plan with their own plan. They are relying on the basis of an alliance of the five powers taking part in a meeting in Singapore and creating a military bloc under their aegis including Thailand, Pakistan, Bao Dai’s Vietnam, Laos, and Cambodia, in addition to these five countries. Zhou Enlai said that we ought to oppose the creation of military blocs in Asia, taking advantage the existing differences between the US and Britain in doing this.
Molotov and Pham Van Dong express their agreement with the opinion of Zhou Enlai.”
[21] Tài liệu PRC [Doc 44] ngày 22.06.1954 – Chauval nói với Chu Ân Lai rằng Pháp và Trung Quốc làm viêc chung với nhau và cả hai phái đoàn cần duy trì sự họp tác bí mật nầy (secret co-operation).
[22] Tài liệu PRC [Doc 73] ngày 19.07.1954.
[23] Tài liệu USSR
– [Doc 1] Journal of Molotov (secret) – Thảo luận với Đại Sứ Trung Quốc tại Moscow ngày 06.03.1954.
– [Doc 3] Journal of Molotov (secret) Thảo luận tay đôi với P. Mendès-France.
[24] Tài liệu PRC [Doc 78] Mật điện ngày 20.07.1954 tường trình phiên họp ngày 19.07.1954 giữa Chu Ân Lai, Mendès-France và Anthony Eden.
[25] Socialist Republic of Vietnam, The Truth about Vietnam-China Relations over the last 30 Years, Hanoi, Ministry of Foreign Affairs, 1979.
CHXHCN Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1979, trang 17-21: Phần Thứ Hai – Chương III- Hiệp Định Giơnevơ Năm 1954 Về Đông Dương Và Sự Phản Bội Của Những Người Lãnh Đạo Trung Quốc. -/-
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 03:11
Nhãn: Sử Liệu

*

IMG_5661

*

Phong Trào Đoàn Kêt Việt Nam Cọng Hòa Hội Luận Về Nhân Quyên

 

*

IMG_5889

(12/26/2013) Westminster (Bình Sa)- – Tại hội trường Thư Viện Việt Nam lúc 12 giờ trưa Thứ Bảy ngày 21 tháng 12 năm 2013, Phong Trào Đoàn Kêt Việt Nam Cộng Hòa tổ chưc hội luận vơi chủ đề: “Nhân Quuyền trong bôi cảnh nhà cầm quyên Cộng Sản Việt Nam vừa gia nhập vào Hội Đông Nhân Quyền Liên Hiệp Quôc, phương thưc đâu tranh mơi của quốc nội và hải ngoại.” Tham dự buổi hội luận có qúy vị nhân sĩ, qúy vị cựu viên chưc quân, cán chính quyên Việt Nam Cộng Hòa, một số đại diện các hội đoàn, đoàn thể, qúy cơ quan truyên thông và đông hương.

*

IMG_3649

Trong hình từ trái: Ông Bùi Văn Truyên, GS. Nguyễn Thanh Liêm, Giáo Sư Cao Văn Hở, ngươi đưng là TS. Phạm Kim Long.)

*

Phụ trách nghi thức khai mạc do Ông Vũ Long Sơn Hải và Biệt Đoàn Văn Nghệ. Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm, tiếp theo Ông Phạm Tú, thay mặt Ban tổ chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn sự hiện diện của quan khách cùng đồng hương tham dự và sau đó ông mời Đốc Sự Hoa Thế Nhân lên trình bày về chương trình và mục đích buổi hội luận, trong dịp nầy ông Hoa Thế Nhân cũng đã trình bày sơ lược về bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, sau đó ông mời qúy vị Chủ tọa đoàn cùng Thuyết trình đoàn lên bàn chủ tọa.

Trên bàn chủ tọa có Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, nguyên Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, Giáo Sư Tiến Sĩ Cao Văn Hở, nguyên Phụ Tá Tổng Trưởng Tài Chánh Việt Nam Cộng Hòa, Ông Bùi Văn Truyền, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Đoàn Kết Việt Nam Cộng Hòa, Thuyết trình đoàn có: Tiến Sĩ Phạm Kim Long và Luật Sư Đỗ Thái Nhiên. Trong phần thuyết trình Tiến Sĩ Phạm Kim Long đã trình bày về đề tài: “Sự khác biệt giữa bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Luật Nhân Quyền.” Tuy thời gian giới hạn nhưng tiến sĩ Phạm Kim Long cũng đã phân tách tường tận một số vấn đề có liên quan giữa bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Luật Nhân Quyền đây là một đề tài mà ít người để ý tới.

*

IMG_3647

Trong buổi hội luận.

Tiếp theo Luật Sư Đỗ Thái Nhiên lên thuyết trình về đề tài “Nhân Quyền, TPP và Tương Lai của Việt Nam.” Với đề tài nầy ông chỉ nhận định trận chiến kinh tế giữa Mỹ và Tàu thông qua hiệp ước thương mãi xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là TPP.

Trong phần thuyết trình thật chi tiết ông đã cho biết: “… âm mưu của cộng sản Việt Nam về công việc sản xuất quần áo có liên quan đến những ưu tiên mà cộng sản Việt Nam đã dành cho Tàu qua các công đoạn thực hiện… Ông cho biết về phản ứng của Mỹ, theo tin RFA: Nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngoại Trưởng Mỹ John Kery ngày 15 tháng 12 năm 2013 đã trao tặng cộng sản Việt Nam số tiền 15 triệu Mỹ kim để giúp Việt Nam có khả năng bảo vệ lãnh thổ trên biển Đông.

Kế đến là ngày 16 tháng 12 năm 2013 ông John Kery lại nhân danh chính phủ Mỹ tặng cho Hà Nội $ 4,200.000 gọi là để Việt Nam tăng cường năng lực trong đàm phán TPP. Hai tin tức vừa kể cho thấy Mỹ sẽ mở cửa cho cộng sản Việt Nam vào TPP là một sự việc phải xảy ra… Ông cho biết về phản ứng của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ và cuối cùng ông nhấn mạnh, quyền lợi hàng đầu của con người là quyền kinh doanh tự do và bình đẳng.

Làm gì có tự do và bình đẳng khi quốc doanh đè bẹp tư doanh: đè bẹp bằng tiền vốn, đè bẹp bằng quyền lực thống trị. Muốn tư doanh bình đẳng với quốc doanh, bình đẳng với những tư doanh khác tư doanh tức con người cần có các quyền tự do đi lại, lập hội, nghiệp đoàn, tư hữu, nhất là tư hữu đất đai, tự do tư tưởng, tự do chính trị, tự do tham chính để trực tiếp bảo vệ quyền tự do kinh doanh, con người cần có toàn bộ nhân quyền. Đó là lý do TPP đòi hỏi các quốc gia trong TPP phải triệt để tôn trọng luật quốc tế nhân quyền.”

Sau phần thuyết trình là phần thảo luận với những câu hỏi đã được đồng hương nêu lên, sau đó đã được các thuyết trình viên trả lời chi tiết. Xen lẫn chương trình có phần văn nghệ đấu tranh do Biệt Đoàn văn nghệ và các anh chị nghệ sĩ thân hữu trình diễn.

Mọi chi tiết liên lạc: (714) 660-8030,

Email: phongtraodoanketvnch@gmail.com

*

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

*

Garden Grove thông qua nghị quyết ngăn Cọng Sản Việt Nam

Tuesday, November 27, 2012 8:50:45 PM

Ðỗ Dzũng/Người Việt

GARDEN GROVE (NV) – Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove tối Thứ Ba đồng thuận bỏ phiếu 5-0 thông qua nghị quyết “yêu cầu các phái đoàn hoặc các nhóm có quan hệ với Cọng Sản Việt Nam đến thăm hoặc đi ngang qua thành phố phải thông báo trước 14 ngày.”

*

IMG_4773

*

Ðồng hương Việt Nam vui mừng sau khi nghị quyết được thông qua. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Nghị quyết này tương tự như nghị quyết thông qua hồi năm 2004, nhưng đã hết hạn năm 2009. Ðiểm khác biệt của nghị quyết lần này so với lần trước là “nghị quyết chỉ hết hạn khi nào Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chính thức công bố Việt Nam có tự do và dân chủ.”

Trước cuộc bỏ phiếu, Thị Trưởng Ðắc Cử Bruce Broadwater phát biểu: “Chúng ta không muốn họ đến đây.”

“Họ là một chính quyền cổ động việc bán trẻ em và phụ nữ, tịch thu tài sản của dân, làm cho dân thất học và nghèo đói. Chúng ta không muốn họ đến thành phố này,” Phó Thị Trưởng Dina Nguyễn nói. “Nghị quyết này rất quan trọng đối với chúng ta. Nó cho thấy chúng ta không dung thứ chủ nghĩa Cộng Sản. Và tôi ủng hộ nghị quyết này.”

Thị Trưởng Bill Dalton chia sẻ: “Trong cuộc bỏ phiếu lần trước năm 2004, tôi và Nghị Viên Bruce Broadwater đã bỏ phiếu thuận. Lần này tôi không đổi ý. Và tôi hy vọng một ngày nào đó Việt Nam sẽ có tự do.”

“Cuộc bỏ phiếu hôm nay không chỉ cho thấy chúng ta không chào đón họ ( Cọng Sản Việt Nam ), mà nghị quyết này là có liên quan đến những gì đang xảy ra tại Việt Nam,” Nghị Viên Steve Jones nói.

Nghị Viên Kris Beard tiếp thêm: “Tôi chỉ muốn nói là tôi rất tự hào được tham gia vào việc bỏ phiếu cho nghị quyết này.”

Sau cuộc bỏ phiếu, đồng hương Việt Nam, bao gồm Hội Ðồng Liên Tôn và nhiều cựu quân dân cán chính Việt Nam Cọng Hòa, ngồi kín phòng họp đứng dậy mừng rỡ, phất cờ Việt Nam Cọng Hòa và cờ Mỹ, trong đó có hai lá cờ lớn. Một số người la lớn: “VNCH muôn năm.”

Nhiều đồng hương vui mừng sau khi cuộc bỏ phiếu chấm dứt, một số người vây quanh các vị dân cử chụp hình kỷ niệm.

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, phó chủ tịch Cộng Ðồng Việt Nam Nam California, nói: “Rất vui mừng. Mấy năm về trước tôi cũng có mặt khi họ biểu quyết.

Nhưng ngày hôm nay nghị quyết được kéo dài hơn, mình cảm thấy yên tâm hơn.”
“Từ nay, cộng đồng không phải đi phát cờ, không phải biểu tình chống Cộng nữa,” bà Nguyệt nói thêm.

“Tôi rất vui, vì mình không cho họ tới đây nữa là được rồi,” Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Phó Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Toàn Thế Giới, đồng thời là viện chủ chùa Liên Hoa ở Garden Grove, vui mừng nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

*

IMG_4774

*

Năm thành viên Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove đều đeo khăn quàng màu cờ VNCH trong lúc bỏ phiếu cho nghị quyết ngăn CSVN. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Ông Hồ Nguyễn, cư dân Costa Mesa, chia sẻ thêm: “Tôi vui lắm, như vậy là mình chiến thắng Việt Cộng rồi, vì tất cả năm thành viên trong Hội Ðồng Thành Phố đều bỏ phiếu thuận.”

Trước đó, Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa (chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California), Mục Sư David Huỳnh, và Tiến Sĩ Phạm Kim Long đều lên phát biểu, yêu cầu Hội Ðồng Thành Phố ủng hộ nghị quyết.

Luật Sư Nghĩa cũng tặng Hội Ðồng Thành Phố một lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn và tặng năm vị dân cử mỗi người một khăn quàng màu vàng có ba sọc đỏ, tượng trưng cho lá cờ VNCH, trong tiếng vỗ tay hoan hô của mọi người.

Trước khi buổi họp bắt đầu, thành phố có tổ chức một buổi tiệc tiễn Thị Trưởng Bill Dalton về hưu, sau 14 năm phục trong Hội Ðồng Thành Phố và 26 năm làm cảnh sát thành phố.

Vì luật giới hạn nhiệm kỳ, ông Dalton không thể tái tranh cử lần này, và buổi họp tối Thứ Ba là buổi họp cuối cùng của ông tại Garden Grove.

“Nhờ giới hạn nhiệm kỳ mà tôi có dịp nghỉ hưu, sau 40 năm phục vụ thành phố,” ông thị trưởng nói vui trước hơn 200 người dự tiệc ở phòng kế bên.
Trở lại với nghị quyết vừa thông qua, hôm 19 Tháng Mười Một, Hội Ðồng Thành Phố Santa Ana bỏ phiếu 7-0, thông qua quyết định soạn dự thảo cho nghị quyết có nội dung tương tự như nghị quyết của Garden Grove, và còn đang chờ đưa ra biểu quyết chính thức trong tương lai.

*

IMG_4776

*

Thị Trưởng Bill Dalton giã từ cư dân thành phố Garden Grove sau 40 năm phục vụ. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Tuy nhiên, thời gian đòi hỏi “thông báo trước” của Santa Ana chỉ có 10 ngày.
Hồi năm 2004, ngoài Garden Grove, Hội Ðồng Thành Phố Westminster cũng thông qua nghị quyết tương tự, nhưng đã hết hạn hồi năm 2009.
––-
Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com

________________________________________

Nội dung nghị quyết

Nghị Quyết của Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove liên quan đến việc thăm viếng hoặc di chuyển của giới chức thuộc nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam qua thành phố Garden Grove.

XÉT RẰNG, thành phố Garden Grove là nơi cư ngụ của nhiều người gốc Việt nhất tại Orange County;

XÉT RẰNG, đại đa số công dân và cư dân Mỹ gốc Việt cư ngụ tại Hoa Kỳ, đặc biệt tại Garden Grove, phản đối chế độ độc tài hiện tại của đảng Cộng Sản Việt Nam;

XÉT RẰNG, hàng ngàn công dân và cư dân Mỹ gốc Việt cư ngụ tại Garden Grove, kể từ khi miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, đã liều mình trốn thoát Việt Nam để tìm tự do và dân dân chủ;

XÉT RẰNG, sự hiện diện của giới chức và đại diện Việt Cộng trong, hoặc gần, khu vực có đông đảo công dân và cư dân Mỹ gốc Việt, đặc biệt là vùng “Little Saigon,” khu vực nằm giữa hai thành phố Garden Grove và Westminster, sẽ bị biểu tình và chống đối một cách giận dữ;

XÉT RẰNG, Garden Grove đã phải hao tốn ngân sách bảo vệ an ninh công cộng lớn lao để hỗ trợ thành phố Westminster vào Tháng Giêng, 1999, nhằm bảo vệ an ninh, trật tự tại khu Little Saigon khi hàng ngàn cư dân biểu tình, trong 53 ngày liên tục, chống đối một người buôn bán trưng bầy cờ Việt Cộng và hình lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh;

XÉT RẰNG, cuộc biểu tình tại Little Saigon năm 1999, và các cuộc xuống đường sau đó chống đối chính quyền Việt Cộng, đòi hỏi có sự hiện diện của nhiều nhân viên công lực thuộc nhiều thành phố để duy trì trật tự làm tốn kém hàng trăm ngàn đô la vượt mức ngân sách;

XÉT RẰNG, tinh thần chống Cộng trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Orange County, và đặc biệt tại Garden Grove, rất mạnh mẽ, có thể là hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới;

XÉT RẰNG, rủi ro liên quan đến an toàn công cộng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và phái đoàn Việt Cộng, hoặc các tổ chức thương mại và mậu dịch có liên quan đến chế độ Hà Nội qua sự hiện diện vào phút chót, có giới chức cao cấp, có thông báo, đi ngang qua, hoặc thăm viếng trong hoặc gần Little Saigon, là rất cao;

XÉT RẰNG, các cuộc thăm viếng, hoặc đi ngang qua, Little Saigon thông báo vào phút chót của phái đoàn Việt Cộng, dù biết trước sẽ bị cộng đồng người Mỹ gốc Việt biểu tình phản đối, là một hành động khiêu khích, thách đố và có ý thăm dò phản ứng của cộng đồng;

XÉT RẰNG, yêu cầu thành phố bảo vệ an ninh vào phút chót của phái đoàn Việt Cộng khi dự tính đến hoặc đi qua thành phố sẽ gây ra nguy hiểm về an toàn không dự đoán được và trở thành gánh nặng tài chánh cho cộng đồng và thành phố;

XÉT RẰNG, sự thâm thủng ngân sách tại California hiện nay có ảnh hưởng bất lợi cho chính quyền quận hạt và thành phố trong tiểu bang, bao gồm Garden Grove, dẫn đến hậu quả là làm ngưng thuê mướn và cắt giảm nhân viên công lực và một số chương trình;

XÉT RẰNG, các phái đoàn cộng đồng và nhóm thương mại có liên quan chính thức với chế độ Hà Nội đến thăm Little Saigon không mang lại lợi ích kinh tế hoặc chính trị cho Garden Grove, mà ngược lại chỉ gây ra những phiền hà cho thành phố và cư dân;

VÌ THẾ, BÂY GIỜ, Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove ban hành Nghị Quyết với những điều lệ sau đây :

1- Hội Ðồng Thành Phố không hoan nghênh, không tiếp đón các cuộc thăm viếng công khai, đi ngang qua, hoặc tạm ngừng, trong thành phố, của giới chức hoặc đại diện của chính phủ Việt Cộng, hoặc các tổ chức có quan hệ với họ, trong phạm vi vùng đất của thành phố, bao gồm một phần khu vực Little Saigon;

2- Hội Ðồng Thành Phố phản đối việc sử dụng nhân viên và viên chức của thành phố trong công việc liên quan đến những cuộc thăm viếng của phái đoàn Việt Cộng khi đến Garden Grove trong giờ làm việc, hoặc trong khi đang thi hành phận sự với tư cách là nhân viên của thành phố;

3- Hội Ðồng Thành Phố nay chỉ thị cho cảnh sát trưởng phải soạn thảo chi tiết chính sách về việc “THÔNG BÁO TRƯỚC,” yêu cầu các cơ quan trong và ngoài khu vực thành phố khi yêu cầu Sở Cảnh Sát Garden Grove và các nhân viên đặc trách bảo vệ an toàn công cộng của thành phố giúp đỡ an toàn công cộng liên quan đến việc các phái đoàn chính phủ hoặc các nhóm có quan hệ với Việt Cộng, phải thông báo trước ít nhất là mười bốn ngày (14) trước khi sự việc xảy ra.

4- Hội Ðồng Thành Phố cũng chỉ thị cảnh sát trưởng phải báo cáo thị trưởng và tất cả nghị viên các cuộc viếng thăm, đi đến hoặc đi ngang qua thành phố trong thời gian sớm nhất, một khi nhận được sự yêu cầu này từ cơ quan trong và ngoài khu vực.

5- Hội Ðồng Thành Phố yêu cầu cảnh sát trưởng chuẩn bị một “Bản Chi Phí” hoàn tất để nộp cho Hội Ðồng Thành Phố, liên quan đến dịch vụ cảnh sát, và nộp cho các phòng ban hoặc cơ quan phụ trách, trong trường hợp các phái đoàn chính phủ hoặc các nhóm có quan hệ với Việt Cộng thăm viếng hoặc đi ngang thành phố thực hiện chính sách “thông báo trước” 14 ngày.

ÐỒNG THỜI QUYẾT ÐỊNH RẰNG, nghị quyết này sẽ hết hạn vào thời điểm mà Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chính thức tuyên bố Việt Nam là một quốc gia tự do và dân chủ.

*

IMG_9660

*

Milpitas: Thông Qua Nghị Quyết “Vùng Đất Cấm Cửa” Cọng Sản Việt Nam ; Thành phố San Jose Sẽ Cứu Xét Nghị Quyết Tương Tự Để Cấm Cửa Cọng Sản Việt Nam
*

(03/07/2013)
Tác giả : Lê Bình

Vào lúc 6:00pm ngày thứ Ba 5/3/2013 tại phòng họp của hội đồng thành phố Milpitas – Milpitas City Hall Council Chambers, 455 E. Calaveras Blvd. 2nd floor-đông đảo người Việt tay cầm cờ vàng 3 sọc đỏ đến tham dự. Một cuộc họp thường kỳ của HĐTP đem nay sẽ trở nên căng thẳng, gay cấn…và có chuyện gì sẽ xảy ra? Người Việt đến tham dự, nhìn tới, dòm lui như đang tìm kếm một sự gì lạ chăng? Có thể đang chờ đợi phía trước.

Trong phòng họp trên bàn có 5 nghị viên của HĐTP Milpitas, người luật sư của TP, thư ký…và 160 chiếc ghế trong phòng đã chật kín người, thêm vào đó khoảng 20 người phải đứng chung quanh, ngoài hành lang, trong phòng đợi để xem diễn tiến cuộc họp qua màn ảnh TV.

Trong nghị trình, ở đề mục số 3 có dự thảo một nghị quyết “No communist zone”, Proposed Resolution Regarding Visits from the Socialist Republic of Vietnam, sẽ đem ra thảo luận và biểu quyết. Ông Thị trưởng Jose Esteves đọc qua dự thảo đề nghị, bà phó TT Althea Polanski phát biểu. Hai vị TT và Phó TT tham khảo ý kiến. Bà NV Debbie Giordana, NV Carmen Montano… phát biểu. Một phút im lặng thoáng qua nhanh. Cuối cùng nghi quyết được thông qua với đa số tuyệt đối. Hội trường oà vỡ tiếng vỗ tay, hình ảnh cờ vàng bay phất phới. Trong nghị quyết có điều khoản “Phái đoàn, cá nhân các viên chức CSVN muốn đến thăm viếng thành phố Milpitas phải xin phép trước 14 ngày.”

Trong phần phát biểu, Ông TT Jose Esteves cho biết ông cảm ơn CDVN, những ngươi di dân đến từ VN đã mang đến thành phố những sự thay đổi. Họ là những nạn nhân của một đất nước thiếu tự do. Họ đến đây và có quyền đuợc sống an bình không bị khuấy động cuộc sống của họ… Bà Phó TT và 2 NV trong HĐTP cũng bày tỏ sự đồng tinh với các đồng viện. Bà Debbie nói rằng bà rất cảm thông những gì mà người di dân Việt phải chịu đựng. Bà bày tỏ mối quan tâm đến cuộc sống của những di dân Việt.

*

IMG_4770

*

Đồng bào tham dự.

Trong phần phát biểu của người tham dự, Ông Dave Cortese, GSV Quận Santa Clara cho biết “Nghị quyết nầy mang một ý nghĩa trọng đại. CĐVN đã có quá nhiều đau khổ. Họ đến đây và xây dựng thành phố nầy. Ý kiến của họ phải được tôn trọng.” và ông kết luận “Nghị quyết của TP Milpitas có ý nghĩa rất lớn đối với tôi”, cư dân thứ hai lên diễn đàn là ông Ro Khanna, ông đồng tình ủng hộ nghị quyết, và cho rằng HĐTP Milpitas rất sáng suốt khi thông qua nghị quyết nầy.

Sau đó có phần phát biểu của LS Nguyễn Tâm, Ông Nguyễn Ngọc Tiên, Chủ tịch CĐVN Bắc CA, các ông Phạm Hữu Sơn, Lý Tống, LS Jimmy Nguyễn, bà Vân Lê… và nhiều cưdân Việt. Đặc biệt có 2 người trẻ: Anh John Nguyễn và một nữ học sinh bậc trung học. Hai người bạn trẻ này cho biết họ rất đồng ý với việc làm của thành phố. Họ cho rằng nó sẽ mở ra những cánh cửa cho cộng đồng VN tham gia vào công việc chung. Đoàn kết được lòng dân.

Ông TT Jose Esteves nói rằng ông rất hãnh diện là thành phố Milpitas đã đi đầu tại Bắc CA trong việc ban hành nghị quyết nầy, cũng như Milpitas là thành phố đầu tiên của California công nhận lá cờ vàng là cờ của Tự Do của CĐVN.

Theo LS Tâm Nguyễn cho biết, trước đó lãnh sự quán CSVN có gọi đến thành phố để phản đối, nhưng ông Jose đã vận động được sự yểm trợ của các NV trong HĐTP. Tưởng cũng nên biết, trước đó mấy ngày có tin đồn sẽ có một số người Mỹ đến phản đối việc đem nghị quyết nầy ra HĐTP. Có đôi khi những tin đồn nầy đã có lúc làm lung lay ý chí của HĐTP. Tuy nhiên; với rừng cờ vàng và số người đến tham dự đã làm cho HĐTP càng thêm tin tưởng vào sự đoàn kết của CĐVN.

*

IMG_4771

*

Hội đồng thành phố Milpitas họp.

Nghị Quyết được Viên chức Quản Trị Viên cùng Luật Sư của Thành Phố và Thị Trưởng ký ngay sau khi kết thúc biểu quyết. Cuối cùng, Ông Thị Trưởng Milpitas trao bản nghị quyết cho Ông Nguyễn Ngọc Tiên Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Bắc California.

Tưởng cũng nên biết thêm. Sau thành phố Milpitas sẽ đến thành phố San Jose sẽ có biểu quyết vể vấn đề nầy. CĐVN đang vận động ráo riết. Nhiều người hy vọng TP San Jose sẽ thông qua một nghị quyết tương tự.

Trong số người tham dự, người ta ghi nhận có Ông Dave Cortese, Ông Đoàn Văn Khánh, Ông Nguyễn Ngọc Tiên, Ông Đỗ Hùng, Bà Vân Lê, LS Nguyễn Tâm, LS Jimmy Nguyễn, Ông Phạm Hữu Sơn, Ông Trần Văn Bảy, Ông Mạc Văn Thuận, Ông Bảo Nguyễn, Ông Chu Tấn, Ông Tony Định, Ông Phan Quang Nghiệp, Ông Nguyễn Thiếu Nhẫn, Ông Nguyễn Bửu, v.v…

*

IMG_9660

*

Di sản Việt Nam cộng hòa
*

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-01-28

*

IMG_4612

*

Báo Tuổi Trẻ, tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất nước đã tung ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa.
Source TuoiTre online

Nhà nước VNCH đã chấm dứt sự tồn tại hữu hình của nó gần 39 năm. Thể chế ấy sau nhiều năm bị phủ nhận hoàn toàn bởi những nhà cai trị Việt Nam hiện tại, lại đang được nhắc tới trong thời gian gần đây.

Thắm thoát đã 39 năm từ ngày nhà nước VNCH sụp đổ. Năm nay không phải là một năm chẳng cho biến cố tháng tư 1975, nhưng nhà nước ấy lại được nhớ đến bằng một sự kiện diễn ra hơn một năm trước đó, tháng giêng 1974, là lúc mà quần đảo Hoàng sa bị nước Trung quốc cộng sản đánh chiếm. 74 người lính hải quân của quân đội VNCH đã hy sinh trong trận chiến đó.

Việt Nam cộng hòa xuất hiện sau 40 năm

Bốn từ Việt Nam cộng hòa được nhắc lại khá nhiều trên cả phương tiện truyền thông của nhà nước Việt Nam hiện tại. Liên tục trong hơn nửa tháng đầu năm 2014, báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất nước đã tung ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa. Những hoạt động kỷ niệm và biểu tình nhân sự kiện này dù không thành, như ở Đà Nẵng, hay bị dẹp đi như ở Hà nội, nhắc nhở rằng một định chế nhà nước cùng với cấu trúc chính trị và xã hội của nó bao phủ trên một nửa đất nước không thể dễ dàng bị quên lãng.

Di sản VNCH không phải đã bị cuốn đi trên những chiến trực thăng của tháng tư năm 1975, nó cũng không phải được mang đi hết bởi những người vượt biển ra đi trong những năm 70, 80 đầy bi kịch …mà nó tiềm ẩn trong những giá trị tinh thần như âm nhạc, quan hệ xã hội…

Trận hải chiến thất bại ở Hoàng sa là một phần trong di sản của chính thể ấy.
Di sản VNCH không phải đã bị cuốn đi trên những chiến trực thăng của tháng tư năm 1975, nó cũng không phải được mang đi hết bởi những người vượt biển ra đi trong những năm 70, 80 đầy bi kịch của thế kỷ trước. Nó không phải chỉ mang hình hài vật chất như những tòa nhà được trưng dụng làm công sở hay “phân phối cho cán bộ,” mà nó tiềm ẩn trong những giá trị tinh thần như âm nhạc, quan hệ xã hội, …hay một tinh thần báo chí mà hai tờ báo lớn Tuổi Trẻ và Thanh niên đã tiếp nhận không ít thì nhiều. Di sản ấy đi ngược ra cả miền Bắc qua những dòng văn học của các nhà văn Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, nhà báo Huy Đức.

Báo Thanh Niên, tờ báo có uy tín trong nước cũng cho ra loạt bài kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng sa. Source ThanhNien online

Một di sản cần trân trọng

Dưới chính thể VNCH hai cây đại thụ của âm nhạc Việt nam hiện đại là Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đã đâm hoa kết trái, phần chắc là do tránh khỏi cái thời tiết khắc nghiệt của đấu tranh giai cấp trên miền Bắc, nơi mà người tiền bối của họ là Văn Cao đã im lặng trong hàng chục năm trời. Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đã không hề suy suyển sau những chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy,” mà âm thầm lặng lẽ cất lên trên vỉa hè Sài Gòn, và cả Hà nội, để rồi hôm nay đường đường ngự trị một không gian lớn của âm nhạc VN bằng những bài hát đầy tính nhân văn của họ.

Tính nhân văn ấy nằm trong triết lý của nền giáo dục của chính thể VNCH: Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hãy nghe Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang một trí thức bất đồng chính kiến tại Hà nội nói về nền giáo dục đó,

Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang

“Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn, chứ không phải như những con người giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo. Rồi còn có báo chí, nhân quyền được tôn trọng hơn, có tự do ngôn luận hơn chứ không như ở miền Bắc là bưng bít, phải nói theo đảng làm theo đảng, không được phê bình đảng, không nói được nguyện vọng của nhân dân, của quần chúng,”

Triết lý Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng được trang báo mạng Vietnamnet nhắc lại trong một bài báo vào cuối năm 2013. Phải chăng sự bế tắc của nền giáo dục Việt nam hiện tại đã đánh thức nhiều người Việt hiện nay rằng có một di sản giáo dục cần trân trọng?

Sáng ngày 19/1/2014, dân Hà Nội đã có mặt tại tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội để tham gia buổi Lễ tưởng niệm tri ân 74 quân nhân Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến năm 1974 ở Hoàng Sa

Trong xu hướng dân chủ hóa xã hội Việt Nam hậu cộng sản, nếu đồng ý rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung cùng với bức tường Berlin hồi năm 1989, ngôn ngữ chính trị chính thống của nhà nước Việt Nam cũng nhẹ nhàng hơn. Trong một lần trao đổi với chúng tôi, một bạn trẻ từ trong nước cho biết,

“Em có một thông tin là hồi em học lớp 12 thì cô giáo dạy sử của em có nhấn mạnh việc thay đổi cụm từ ngụy quyền bằng chính quyền Sài Gòn hay là Việt nam cộng hòa. Em nghĩ đó cũng là một hành động chứng tỏ trung lập hay hòa giải, ít nhất là như thế.”

Năm 2013 dường như đã chứng kiến nhiều cố gắng cho sự hòa giải ấy, như là việc ông Thứ trưởng bộ ngoại giao đến thắp hương ở nghĩa trang tử sĩ VNCH tại Biên hòa, và những ngày tháng đầu năm 2014 người đọc báo trên cả nước được nhìn thấy trong nhiều ngày bốn chữ VNCH.

Nhưng mọi thay đổi không phải là chuyện dễ dàng.

Lễ kỷ niệm được chuẩn bị một cách công phu tại Đà Nẵng đã bị hủy bỏ, và báo chí ngưng việc đưa tin về VNCH và Hoàng sa.
Bên cạnh đó cũng có những tiếng nói bực dọc trước bốn chữ VNCH. Một bài viết trên mạng mang tựa đề “Vài lời về hải chiến Hoàng sa 1974, những kẻ muốn vực dậy thây ma” công kích nhà báo Đỗ Hùng của báo Thanh Niên về những gì ông viết về 40 năm trận chiến Hoàng sa, với ngụ ý không công nhận bốn từ VNCH. Đây không phải là điều mới mẻ của “dòng lý luận chính thống,” vốn chỉ coi trọng những gì diễn ra dưới bóng che của đảng cộng sản mà thôi.

Theo tôi thì chúng ta cần kế thừa tất cả những tinh hoa của lịch sử để lại. Thực thể chính trị VNCH có những điều tốt, điều hay mà chúng ta cần phải chắt lọc, cần phải sử dụng…

Ông Lê Thăng Long

Song, hình ảnh của viên thiếu tá VNCH Ngụy Văn Thà, hy sinh trong trận hải chiến Hoàng sa, xuất hiện vừa qua tại Hà nội thủ đô một thời của cải cách ruộng đất và đấu tranh chống xét lại, một điều khó tưởng tượng ra chỉ cách đây vài năm, chứng tỏ rằng giới trẻ VN dường như đang bước ra khỏi cái dòng lý luận chính thống ấy.

Ông Lê Thăng Long một cựu tù nhân chính trị hãy còn trẻ, người mới đây tuyên bố xin gia nhập đảng cộng sản Việt Nam để giúp đảng này thoát qua cơn khủng hoảng hiện tại, nói với chúng tôi về di sản của VNCH,

“Theo tôi thì chúng ta cần kế thừa tất cả những tinh hoa của lịch sử để lại. Thực thể chính trị VNCH có những điều tốt, điều hay mà chúng ta cần phải chắt lọc, cần phải sử dụng. Và những cái gì trong quá khứ phía đảng cộng sản và chính quyền VN hiện nay có những sai lầm đối với chính thể VNCH thì cũng cần chính thức ngỏ lời xin lỗi, xét lại quá khứ và cùng nhau hướng tới một tương lai vì dân tộc VN hùng mạnh trong thời gian sắp tới.”

Năm 1975 đánh dấu sự thất bại của một thực nghiệm mô hình dân chủ đầu tiên trong lịch sử VN. Năm 1989 với sự sụp đổ của bức tường Berlin lại đánh dấu sự thất bại của thực nghiệm cộng sản trên toàn thế giới. Lịch sử là một dòng liên tục, không thể chỉ giới hạn trong một không gian chính thống muốn phủ nhận quá khứ. Quá khứ nối liền qua hiện tại để hướng đến tương lai. Có phải chăng đã đến lúc nhìn nhận một cách nhân bản di sản mà thực thể chính trị xã hội VHCH để lại trong lòng xã hội Việt nam, từ ý thức dân tộc cho đến những giá trị nhân văn của nó? Để tránh cái mà nhà văn xứ Dagestan bên Nga, Rasul Gamzatov, trích lời một hiền triết Arab viết rằng:
“Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn trả bạn bằng đại bác.”

*

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

IMG_5889

*

TRONG THỂ CHẾ DÂN CHỦ ÐA ÐẢNG SẮP TỚI SẼ CÓ ” ÐẢNG VIỆT NAM CỌNG HÒA ” VỚI BIỂU TRƯNG ” CỜ VÀNG BA SỌC ÐỎ ” XUẤT HIỆN BÊN CẠNH CÁC ÐẢNG CHÍNH TRỊ KHÁC TẠI VIỆT NAM TRONG LỊCH TRÌNH TRANH CỬ CÔNG BẰNG TỰ DO ÐA ÐẢNG

*

IMG_3854

IMG_3860

IMG_3858

IMG_3869

1218

Hình trên và dưi là S phu Vit Nam Chuyên gia Trn Cư

283

*

VIỆT NAM CỌNG HÒA LÀ MT ÐẢNG THÀ CHT CH KHÔNG CHỊU BÁN NƯỚC

*

IMG_5701

*

04/01/2014

Sắc lệnh năm 1961 của Việt Nam Cộng Hoà về quần đảo Hoàng Sa

Nguyễn Tuấn Cường

Hôm nay, trong khi tìm kiếm tài liệu thì thấy văn bản Sắc lệnh số 174-NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm, kí ngày 13/7/1961, về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.

Sắc lệnh này đã được nhiều tài liệu nhắc đến, như bài “Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông“, trong đó viết:

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.

Trong sắc lệnh trên, ghi rằng: “Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam” (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính (điều 2).

Ảnh đính kèm dưới đây được chụp từ văn bản in trong Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1, chụp từ microfilm kí hiệu “Film S 3419 1961: no.25-58 (June-Dec.) reel 13“, barcode: HX7G6V, lưu tại thư viện Lamont, Đại học Harvard, Mĩ.

Nhân sắp đến ngày kỉ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa (tháng 1/1974), xin cung cấp tư liệu này cho mọi người.

Harvard, 20/12/2013

N. T. C.

IMG_3821

Nguồn: Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1.

Nguồn: tuancuonghn.blogspot.kr

*

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

Bác sỉ Chỉnh Huỳnh MD trăn trở tình đồng đội chăm sóc dự án NGHĨA TRANG BIÊN HÒA HẢI NGOẠI cho toàn thể quân cán chính VIỆT NAM CỌNG HÒA

*

IMG_4108

*
SỐNG ” MÁI NHÀ ” THÁC ” NẤM MỒ ” NƠI NGHĨA TRANG
VỊ BÁC SỈ QUÂN Y THAO THỨC TÌNH ÐỒNG ÐỘI CỦ CHIẾN TRƯỜNG XƯA

*

THỦ ÐÔ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ CÓ KHUYNH HƯỚNG MỞ RỘNG VỚI KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VIETNAMESE CULTURAL CENTER NGHĨA TRANG BIÊN HÒA HẢI NGOẠI TẠI ADELANTO Ở SAN BERNARDINO COUNTY

MỘT KHU ÐẤT RỘNG 55 ACRES Ở SAN BERNARDINO CÁCH TRUNG TÂM THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON MỘT GIỜ RƯỞI LÁI XE SẼ LÀ MỘT NƠI VIẾNG THĂM TRONG TƯƠNG LAI CHO KHÁCH DU LỊCH KHẮP THẾ GIỚI KHI VỀ THĂM THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA

*

IMG_9184

*

BÁC SỈ KIÊM CA SỈ TRUNG CHỈNH MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG TỐT VÀ CÓ TẦM NHÌN XA CHO MỘT CỘNG ÐỒNG MỞ RỘNG CHO MỘT CÔNG TRÌNH MỞ RỘNG SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT HÃI NGOAI NHƯ MỘT VIỆT NAM BÊN NGOÀI VIỆT NAM

*

IMG_2358

*

THE REPUBLIC OF VIETNAM VETERAN CEMETERY OVERSEAS SẼ ÐƯỢC XÂY DỤNG CÙNG VỚI CÁC CẤU TRÚC XÂY DỰNG KHÁC TRONG SINH HOẠT THƯỞNG NGOẠN TRI ÂN CÔNG LAO GIAN KHỔ CỦA QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỌNG HÒA MỘT ÐỜI HY SINH CHO ÐẠI NGHĨA VÀ CŨNG ÐỂ TRỞ THÀNH MỘT VÙNG DU LỊCH NƠI DU KHÁCH TÌM ÐẾN

*

IMG_5701

*

765IMG_4475765

*

MỘT BÀI HỌC CHO ÐỜI SAU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ ÐỊNH CƯ TRÊN VÙNG ÐẤT MỚI MÀ NHIỀU THẾ HỆ TIẾP NỐI VIỆT NAM MUỐN BIẾT HỌ TỪ ÐÂU ÐẾN VÀ SỰ HY SINH CỦA CÁC BẬC CHA ÔNG HỌ NHƯ THẾ NÀO

*

KẾ HOẠCH ÐƯỜNG DÀI VÀ HY VỌNG MỖI NGƯỜI CÙNG CHUNG SỨC NHƯ MỘT NGHĨA CỬ TỐT ÐỂ LẠI CHO ÐỜI VỚI BÀN TAY VÀ KHỐI ÓC VÀ ÐI TỚI ÐÂU NHỮNG NGƯỜI VIỆT CŨNG MIỆT MÀI XÂY DỰNG

*

*

IMG_9660IMG_9660IMG_9660

*

Gíao sư Nguyễn Ngọc Bích nguyên Giám đốc Ðài Á châu tự do, đang lảnh đạo VIỆT NAM CỌNG HÒA FOUNDATION vẫn trăn trở tìm đường cứu nước

*

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích bị chặn không được vào Malaysia
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-01-21

*

IMG_4354

*

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tại phi trường Kuala Lumpur hôm 21 tháng 1 năm 2014.
RFA

Sáng hôm nay 21 tháng Giêng năm 2014 Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích bị chặn lại tại phi trường Kuala Lumpur không cho nhập cảnh vào Malaysia khi ông đáp chuyến bay từ Bangkok sang Kuala Lumpur để làm việc. Hải quan Malaysia không giải thích lý do thỏa đáng nào khi bị yêu cầu cho biết lý do.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho chúng tôi biết diễn tiến sự việc như sau:
“Khi vào phi trường Kuala Lumpur mấy người khác không bị gì cả nhưng tới phiên tôi thì tự nhiên nó chặn và nói rằng chúng tôi có lệnh không cho ông vào Mã Lai. Tôi hỏi lại sao lại có chuyện như vậy thì họ bảo tôi cũng không có câu trả lời cho ông chỉ vì trên headquarter nói với chúng tôi là không cho ông vào thế thôi, mặc dù ông có giấy tờ đàng hoàng.

Tôi bảo ông có thể giải thích vì sao hay không thì họ nói tôi chỉ có thể nói với ông như thế này: có phải lần trước ông vào Mã Lai vào năm 2009 phải không? Tôi nói là đúng như vậy. Họ lại nói sau khi ông vào Mã Lai lần đó thì giữa năm 2010 chúng tôi có lệnh không cho ông vào.”

Khi chúng tôi hỏi liệu có sự liên hệ nào giữa việc Malaysia đã từng cản trở ông Trần Ngọc Thành không cho nhập cảnh giống như trường hợp của giáo sư hôm nay hay không, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trả lời:
“Rõ ràng nó có sự liên hệ với kỳ họp vào tháng 12 tại Kuala Lumpur của Ủy ban bảo vệ người lao động. Sau đó anh Trần Ngọc Thành cũng bị Malaysia không cho vô. Về sau anh Thành than phiền với sứ quán của Ba Lan vì anh ấy là công dân Ba Lan nên sứ quán này phản đối Malaysia về chuyện đó. Tôi nghĩ rằng chuyện của tôi hôm nay và anh Trần Ngọc Thành đều có liên hệ tới vụ đó chứ còn Hà Nội nó viện cớ cho rằng mình khủng bố nó chặn mình thì đây là lần thứ hai nó làm việc này.”

Được biết Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích vừa tham dự đại hội thành lập Liên đoàn Lao động Việt Tự Do tại Bangkok và chuyến đi này của ông cũng nằm trong công tác vận động lao động người Việt tại Malaysia tham gia vào liên đoàn này.

*

IMG_4633

*

IMG_4475

*

Bức tượng ” TIẾC THƯƠNG ” nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam. Được biết bức tượng này phỏng theo một câu chuyện có thật là người lính Việt Nam Cọng Hòa ngồi an nghỉ nhớ lại đồng đội là bạn mình đã vừa hy sinh trong trận đánh vừa qua. Nhiều người dân Việt vùng Biên Hòa Saigon trước 1975 thường bàn bạc là bức tượng ” TIẾC THƯƠNG ” rất linh hiển.

THỦ ÐÔ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA HOA KỲ CÓ KHUYNH HƯỚNG MỞ RỘNG VỚI KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VIETNAMESE CULTURAL CENTER NGHĨA TRANG BIÊN HÒA HẢI NGOẠI TẠI ADELANTO Ở SAN BERNARDINO COUNTY.

IMG_4987

IMG_5246

MỘT KHU ÐẤT RỘNG 55 ACRES Ở SAN BERNARDINO CÁCH TRUNG TÂM THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON MỘT GIỜ RƯỞI LÁI XE SẼ LÀ MỘT NƠI VIẾNG THĂM TRONG TƯƠNG LAI CHO KHÁCH DU LỊCH KHẮP THẾ GIỚI KHI VỀ THĂM THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA

*

IMG_9184

*

BÁC SỈ KIÊM CA SỈ TRUNG CHỈNH MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG TỐT VÀ CÓ TẦM NHÌN XA CHO MỘT CỘNG ÐỒNG MỞ RỘNG CHO MỘT CÔNG TRÌNH MỞ RỘNG SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT HÃI NGOAI NHƯ MỘT VIỆT NAM BÊN NGOÀI VIỆT NAM

*

IMG_9553

*

Hình trên là qúy Ông trong Ban Xây dung Nghĩa Trang Quốc gia Biên Hòa hải ngoại. Tính từ trái sang phải là Cựu dân biểu Việt nam Cọng hòa Bùi Văn Nhâm tức nhà báo Vi Anh, Doanh gia Phát Bùi, Bác sỉ Chỉnh Huỳnh MD tức Ca sỉ Trung Chỉnh, Doanh gia và kỹ nghệ gia Nguyễn Ngọc Chiểu, Cựu quân nhân Phạm văn Hiền, Cựu Thiếu Tá Quân Cảnh Phan Kỳ Nhơn ( có tin cho hay ông cũng là Cháu của Cựu Quốc Trưởng Việt Nam Cọng Hòa Phan Khắc Sửu ) và Ông Ðào Hoa

*

IMG_2358

*
THE REPUBLIC OF VIETNAM VETERAN CEMETERY OVERSEAS SẼ ÐƯỢC XÂY DỤNG CÙNG VỚI CÁC CẤU TRÚC XÂY DỰNG KHÁC TRONG SINH HOẠT THƯỞNG NGOẠN TRI ÂN CÔNG LAO GIAN KHỔ CỦA QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỌNG HÒA MỘT ÐỜI HY SINH CHO ÐẠI NGHĨA VÀ CŨNG ÐỂ TRỞ THÀNH MỘT VÙNG DU LỊCH NƠI DU KHÁCH TÌM ÐẾN

*

765IMG_4475765

*

MỘT BÀI HỌC CHO ÐỜI SAU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ ÐỊNH CƯ TRÊN VÙNG ÐẤT MỚI MÀ NHIỀU THẾ HỆ TIẾP NỐI VIỆT NAM MUỐN BIẾT HỌ TỪ ÐÂU ÐẾN VÀ SỰ HY SINH CỦA CÁC BẬC CHA ÔNG HỌ NHƯ THẾ NÀO

*

KẾ HOẠCH ÐƯỜNG DÀI VÀ HY VỌNG MỖI NGƯỜI CÙNG CHUNG SỨC NHƯ MỘT NGHĨA CỬ TỐT ÐỂ LẠI CHO ÐỜI VỚI BÀN TAY VÀ KHỐI ÓC VÀ ÐI TỚI ÐÂU NHỮNG NGƯỜI VIỆT CŨNG MIỆT MÀI XÂY DỰNG

*

Camera moi 47 009Hydrangeas

*

ĐAI NHẠC HỘI XÂY DỰNG NGHĨA TRANG VNCH

*

Ủy Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại tổ chức Đại Nhạc Hội gây quỹ xây dựng nghĩa trang và được đài

VHN-TV truyền hình trực tiếp khắp 50 bang Mỹ và Úc Châu ngày 21-7-2013.

Mọi ủng hộ có thể gởi qua thư tín: Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại, 9882 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683.
Tel.: (714) 418-9790

*

IMG_4633

*

Dân Biểu Alan Lowenthal của Liên Bang: Ủng Hộ Nghĩa Trang Biên Hoà Hải Ngoại
(01/11/2014)
*

WESTMINSTER — Ngày 4 tháng 11 năm 2013, một phái đoàn nhân sĩ và hội đoàn tha thiết đến vấn đề Việt Nam ở Little Saigon, trong đó có Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giáo sư Lê Tinh Thông, Luật sư Võ Mike, Cô Kathy Bunn, Bác sĩ Huỳnh văn Chỉnh và Phu nhân… đến gặp Dân Biểu Alan Lowenthal tại văn phòng của Ông ở Long Beach. Về phía DB Lowenthal còn có Ông Lý Phong là Đại diện Vùng (Field Representative) của Dân biểu.

TS Thắng mở đầu phần trình bày của Ông về vấn đề nhân quyền và tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Dân biểu Lowenthal rất chú trọng. TS Thắng mời Dân biểu Lowenthal đồng chủ tịch (co-chair) một đạo luật về nhân quyền cho VN, DB Lowenthal nhận lời ngay.

Tiếp đến, Giáo sư Lê Tinh Thông cũng nhắc đến tình hình nhân quyền bi đát tai VN, và đề nghị thiết lập một Quỷ Yễm Trợ Nhân Quyền VN để giúp cho những nhà đấu tranh.

Kế đến, Luật sư Võ Mike trình bày về sinh hoạt cộng đồng, đặt biệt về ngành làm móng (nail & hair).

Sau cùng Bác sĩ Hùynh văn Chỉnh, tức Ca sĩ Trung Chĩnh, Chủ Tịch Uỷ Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Biên Hoà Hải ngoại trình bày công trình xây dựng một nghĩa trang quân, cán, chính VNCH gọi là Nghĩa Trang Biên Hoà Hải ngoại tại Nam Cali. BS Chỉnh nói nghĩa trang quân đội của Cộng Hòa Việt Nam đã và đang bị chính quyền CS tàn phá, bỏ phế, và mới đây, CS đã đóng cọc để chuẩn bị phóng xa lộ xuyên qua nghĩa trang nầy. Tại quận Cam, các anh cựu tù nhân chính trị, quân cán chính VNCH đã ngồi lại với nhau thành lập một Uỷ Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Biên Hoà Hải ngoại toạ lạc ở Nam California. Văn phòng đặt tại 9882 BOLSA AVE, WESTMINSTER, CA 92683, ĐT: (714) 418 9790; (714) 553 2472; (714) 839 2896.

*

IMG_3962

*

Chụp hình lưu niệm sau buổi họp

*

Theo dự trù, đây sẽ là một địa điểm thiêng liêng tôn vinh tử sĩ bỏ mình vì nước trong phong cảnh một danh lam thắng cảnh, hấp dẫn du lịch (tourist attraction) như Nghĩa Trang Arlington của Hoa kỳ vì nhièu bức tường đá đen ghi danh tử sĩ, có bảo tàng viện quân sư, lich sử, nơi cấm trại cho lớp trẻ tìm hiểu về VN, v.v…

Nhờ sự đóng góp của đồng bào đã mua được miếng đất 55 mẩu, toạ lạc trong vùng thành phố Adelanto, cách Little Saigon gần 90 miles, đi qua các xa lộ CS 22 E, CA5 N, CA 91E, I 5 N và US 395. Kế khu đất này, cách khoảng 18 miles có Thiền Viện Chơn Nguyên đang xây cất rất rộng và đẹp. thiên nam tín nữa dến rất đông.

Giá miếng đất này là 250 000 Đô la. Ủy Ban đã trả tiền cọc 79. 5599 Đô, và hai kỳ trả góp rồi. Đã địa trắc, cấm cọc. Đang làm thủ tục xin xây dựng. Đã thượng cờ Việt, Mỹ phất phới tung bay, với bảng hiệu Nghĩa Trang Biên Hoà Hải ngoại, di ngoài xa lộ từ xa đã thấy.

DB Lowenthal lắng nghe một cách thich thú. Ông hỏi sau nầy có cho cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại VN vào an nghĩ hay không, TS Thắng và Bs Chĩnh đều nói có, vì nghĩ rằng, nếu có sự góp phần của người Mỹ, dự án nâỳ sẽ được yểm trợ tài chánh dễ dàng hơn. DB Lowenthal hứa ủng hộ dự án nầy.

Sau cuộc họp, đến phần chụp hình lưu niệm Phái đoàn tạm biệt DB Lowenthal và Ban Tham Mưu của Ông.

Được biết, giới chức dân cử liên bang, đơn vi bầu cử trong tiểu bang và trong vùng địa phương Nam Cali bắt đầu quan tâm đến công trình Nghĩa Trang Biên Hoà Hải Ngoại của người Mỹ gốc Việt. Văn phòng Dân biểu Liên Bang Ed Royce và văn phòng Thương Nghị sĩ Liên bang Barbara Boxer đã dành cuộc gặp gỡ làm việc với phái đoàn nhân sĩ và Uỷ Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Biên Hoà hải ngoại.

*

IMG_4633

*

Văn Phòng TNS B. Boxer Hứa Giúp Tìm Tài Trợ

*


01/03/201408:00:00

Văn phòng của Boat People SOS đã sắp xếp cuộc gặp gỡ nầy. Theo thủ tục, Văn phòng Bà TNS Boxer chỉ dành tối đa 5 (năm) người đại diện, và phải đưa danh sách trước.

Giống như phần lớn những đô thị của nuớc Mỹ, đường sá trong thủ đô đa số là một chiều, do đó việc tìm kiếm building của Bà Boxer rất khó khăn. Phải mất khoảng một tiếng đồng hồ, phái đoàn mới đến được địa chỉ muốn tìm. Tất cả mọi người phải trình ID (giấy căn cước), vì như đã nói ở trên, khách phải đưa danh sách trước, nhân viên an ninh kiểm soát thấy đúng tên mới cho vào.

Đây là federal building, cho nên việc kiểm soát an ninh rất chặt chẽ, tương tự như lúc đi qua phi trường: cũng phải lấy hết đồ kim khí ra, lột giầy, lột áo jacket, đồng hồ, bóp ví, giây nịt… Cuối cùng là phải đi qua cửa dò kim khí (metal detector). Giáo sư Lê tinh Thông để quên căn cước trong xe của Ông đậu tại trụ sở BPSOS, nên Ông không được vào. Cho đến khi chúng tôi đến văn phòng Bà Boxer, TS Thắng trình bày với người đại diện, Ông nầy điện thoại xuống cổng an ninh, người ta mới cho Ông Thông vào.

Ngày 16 tháng 11 năm 2013, Uỷ Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH Hải Ngoại có hẹn gặp gỡ với văn phòng TNS Barbara Boxer lúc 11 giờ sáng. Văn phòng của Bà tọa lạc tại số 312 N. Spring St., Suite 1748, Los Angeles, CA 90012.

Lần nầy chúng tôi không gặp được TNS Boxer mà chỉ gặp người đại diện (field administrative) là Ông Maurice Lyles. Phía phái đòan, chúng tôi lần lượt trình bày phần của mỗi người. Tiến sĩ Thắng nói về tình trạng tệ hại của nhân quyền tại Việt Nam và những tù nhân lương tâm. Ông cũng nhắc đến những người Việt xuất cảng lao động nước ngòai bị bóc lột và tệ nạn buôn người. GS Thông cũng nhắc lại những tù nhân lương tâm, đặt biệt, blogger Phạm chí Hùng bị truy nã, đã trốn sang Thái Lan, bị chánh quyền Thái Lan bắt giam. Nhà cầm quyền CSVN làm áp lực buột nhà cầm quyền Thái Lan giải giao anh Hùng về lại Viêt Nam. Phái đoàn yêu cầu TNS Boxer can thiệp để anh Hùng được hưởng qui chế tị nạn chính trị. Ông Maurice Lyles hứa sẽ trình Bà Boxer việc nầy.

Kế đến, như đã sắp xếp trước, LS Mike trình bày về người Việt hành nghề nail, những thủ tục, qui chế cho ngành nail, những nguy hiểm khi phải tiếp xúc với các hóa chất có hại cho sức khỏe về lâu dài.

IMG_4995

Sau cùng, phần khởi sắc nhất vẫn là đồ án xây dựng Nghìa Trang Quân Cán Chính VNCH. BS Chỉnh đưa ra sơ đồ của nghĩa trang và bức vẽ Nghĩa Dũng Đài hay Đền Tưởng Niệm có hình của năm vị Tướng của Quân Lực VNCH tuẩn tiết và các bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ đã đền nợ nước. Ông Maurice Lyles rất thích thú. Ông cho biết thỉnh thỏang có những grants mà Ông nghĩ có thể xin được để xây dựng công trình nầy. Cũng cần nói thêm rằng: tất cả những gì phái đoàn trình bày, Ông Lyles đều ghi chép cẩn thận để trình lại cho TNS Boxer. Sau cùng, phái đoàn kiếu từ Ông Lyles và ra về.

*

IMG_4633

*

DB Ed Royce Rất Thích Công Trình Xây Nghĩa Trang

*


08/03/201405:55:59

Chiều ngày 16 tháng 11 năm 2013 vừa qua, lúc 3:30 Uỷ Ban Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH hải ngoại và một số mạnh thường quân ủng hộ có hẹn với dân biểu Ed Royce tại văn phòng của Ông tọa lạc tại 1380 S. Fullerton Road # 205, Rowland Heights, CA 91748. Đây là một khu thương mại của người Hoa, tìm được văn phòng của Ông cũng thật nhiêu khê. Chúng tôi đi lạc nhiều lần và cũng phải mất khoảng một tiếng đồng hồ mới đến được địa chỉ muốn tìm.

Trái với các văn phòng của Dân biểu Lowenthal và Nghị sĩ Boxer, Dân biểu Ed Royce có vẻ rất thân thiện với Tiến sĩ Thắng. Hai người ngồi gần nhau, thỉnh thoảng vổ vai và bắt tay nhau hoài. Dân Biểu Royce có vẻ thích thú khi gặp chúng tôi.

Cũng giống như nhũng lần gặp gỡ Quí Vị dân cử trước đây, chúng tôi cũng theo chương trình đã vạch trước lần lượt trình bày phần của mình.

Mở đầu, TS Thắng nói đến vấn đề tù nhân lương tâm và tình trạng nhân quyền tại Việt nam. Giáo sư Thông đề cập đến tình trạng cùa anh Phạm chí Hùng, một blogger đang bị cầm tù tại Thái Lan. Nhà cầm quyền VNCS đang làm áp lực để chánh quyền Thái Lan giải giao anh Hùng về lại Việt nam. DB Royce hứa sẽ điện thoại cho Đại sứ Mỹ tại Thái Lan can thiệp chuyện nầy để cho anh Hùng được huởng qui chế tị nạn chính trị, tứ đó, anh Hùng sẽ có thể được định cư ở Mỹ.

IMG_5015

Gặp Dân biểu Ed Royce (thứ 3 từ trái).

Kế đến, Luật sư Mike Võ trình bày tình trạng nghề Nails của người Việt nam. Ông cũng nhắc đến tình hình sức khỏe của những người hành nghề Nails. DB Royce đề nghị LS Mike để ý thêm vấn đề nầy, lưu ý bà con về vấn đề sức khỏe, giúp đỡ họ thêm về các qui chế, luật lệ của ngành nails.

Cuối cùng, đến phiên BS Chỉnh trình bày dự án Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH. BS Chỉnh trải sơ đồ dự án và bức vẽ sơ khởi về Đền Tưởng Niệm (Memorial Monument) lên trên bàn. Ông giải thích tiến trình của dự án, những bộ phận trong dự án như: Bảo Tàng Viện Quân Đội, Đền Hùng Vương, nơi cắm trại (Camping site), guest houses…Phu nhân của BS Chỉnh nhấn mạnh thêm: nơi đây sẽ là một điểm thắng cảnh ( Point of interest ) có thể hấp dẫn dân du lịch… DB Ed Royce rất thích công trình nầy. Ông nhắc lại rằng chính Ông đã đề nghị thành lập một Hội Đồng Y Khoa Lưu Vong (Medical Committee in Exile) với Bác sĩ Ira Singer để chứng nhận các Bác sĩ Việt nam, định cư ở nước Mỹ, ra trường trước năm 1975. DB Royce sẽ đề nghị thành lập một Hội Đồng Quân Đội Việt Nam Lưu Vong (Vietnamese Military Committêe in Exile) để chứng nhận các cựu quân nhân thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau đó. mọi người chụp hình lưu niệm với DB Royce, cám ơn Ông và xin kiếu từ.

*

IMG_1249

*

VĂN PHÒNG Uy Ban Van Đong Xay Dung Nghia Trang Quan Can Chinh /Viet Nam Cong Hoa

*

Ủy Ban Vận Động Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH trân trọng thông báo: Địa chỉ Văn Phòng mới: 9882 Bolsa Ave Westminster, CA 92683 (trong khu Cơm Tấm Thành, góc Bolsa/Brookhurst). Điện thoại (714) 418-9790 hay (714) 553-2472. Web Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại- http://www.nghiatrangbienhoa.org

*

IMG_1249

*

VỪA THẤT VỌNG VỪA KHINH THƯỜNG ÐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY ÐANG THAM Ô TRẦM TRỌNG Ở QUÊ NHÀ LÀM CHO XÃ HỘI VIỆT NAM RỐI LOẠN

NAY ÐỒNG BÀO VIỆT NAM TẠI HÃI NGOẠI THỦ ÐÔ LITTLE SAIGON NAM CALIFORNIA VỪA XÂY DỰNG VỪA VUN ÐẮP VỪA THỤ HƯỞNG NHỮNG GÌ HẢI NGOẠI CÓ

NHƯ MỘT MẪU MỰC CỦA MỘT XÃ HỘI HÀI HÒA QUY CỦ CỦA MỘT VIỆT NAM CỌNG HÒA DÙ XA XƯA NHƯNG LUÔN NGỜI SÁNG TÌNH NGƯỜI XỨNG ÐÁNG LÀM GƯƠNG CHO TOÀN NƯỚC VIỆT NAM

*

Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali Họp Mặt Mừng Xuân Giáp Ngọ
(02/28/2014) (Xem: 293)

*

Garden Grove (Bình Sa)- – trưa Thứ Bảy ngày 22 tháng 2 năm 2014 tại nhà hàng Seafood Place Hội cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh Nam California tổ chức họp mặt tân niên mừng Xuân Giáp Ngọ 2014, tham dự buổi họp mặt ngoài các cựu sinh viên QGHC và gia đình còn nhận thấy có một số thân hữu, một số qúy vị đại diện các hội đoàn bạn.

IMG_4931

Trong buổi họp mặt mừng xuân.

Điều hợp chương trình Ngô Ngọc Vĩnh và Nguyyễn Phú Hùng.

Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt – Mỹ và phút mặc niệm, tiếp theo Ông Trần Ngọc Thiệu, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn qúy vị quan khách cùng quy đồng môn và thân hữu tham dự. trong dịp nầy ông cũng đã cho biết Hội đã chính thức hoạt động được Liên Bang cấp giấy phép công nhận là một tổ chức bất vụ lợi (Non Profif Organization) vì vậy kể từ nay những đóng góp của qúy vị cho hội sẽ được khấu trừ thuế đó là một tin vui đầu Xuân hội gởi cho qúy đồng môn.

IMG_4933

Trong buổi họp mặt mừng xuân.

Tiếp theo Ông Trần Công Hàm, Thành viên Hội Đồng Quản Trị lên trình bày dự án biên khảo và phát hành sách “Kỷ Yếu Quốc Gia Hành Chánh.”

Trong phần trình bày Ông cho biết khái quát về qúa trình hình thành và phát triển Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sài Gòn từ năm 1952 đến năm 1975 và trình bày dự thảo của đề cương về “kế hoạch biên khảo và xuất bản.”

IMG_4929

Trong buổi họp mặt mừng xuân.

Buổi tiệc bắt đầu, mọi người cùng ăn cùng thưởng thức chương trình văn nghệ do các nghệ sĩ thân hữu và các anh chị trong gia điình Quốc Gia Hành Chánh đặc biệt có sự góp mặt của nhóm văn nghệ Phố Núi Pleiku.

Xen lẫn chương trình văn nghệ có phần xổ số lấy hên đầu Xuân.

IMG_4932

Trong buổi họp mặt mừng xuân.

Tiếp xúc với Ông Hội Trưởng Trần Ngọc Thiệu được ông cho biết: Hội được thành lập tính đến nay đã được 30 năm, ông đã làm Hội Trưởng liên tục là 6 năm. Hiện tại hội cũng đã qui tụ được khoảng 300 hội viên. Mục đích là tương trợ các đồng môn gặp khó khăn, qui tụ và khuyến khích lớp hậu duệ tham gia vào các sinh hoạt chung của cộng đồng, nuôi dưỡng tinh thần quốc gia yêu nước, phát huy và bảo tồn văn hóa dân tộc tại quê người, tham gia vào các phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ tại quê nhà…

Trong thời gian qua Hội cũng đã thực hiện: -Bản Tin Hành Chánh – Hoài Bảo Quê Hương và nhiều tài liệu tham luận chính trị. Hiện nay Hội đang dồn nổ lực vào việc thực hiện “Kỷ Yếu Quốc Gia Hành Chánh.”

Mọi chi tiết liên lạc: (714) 813-9727.

*

IMG_4633

*

IMG_5701

IMG_5591

IMG_5882

*

Thương phế binh Viet Nam Cong Hoa  được mời họp mặt ở Sài Gòn để tri ân

*


Wednesday, July 31, 2013 3:54:26 PM

SÀI GÒN (NV) .- Lần đầu tiên thương phế binh VNCH đang sống tại Việt Nam được mời họp mặt để nhận sự tri ân từ công chúng được tổ chức tại tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn hôm Thứ Hai vừa qua.

IMG_5018

Một trong những “thương phế binh VNCH” đến tham dự buổi tri ân tổ chức ở tu viện Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn, ngày Thứ Hai 29/7/2013. (Hình: website chuacuuthe.com)
Ngày 27 tháng 7 hàng năm, là ngày mà chế độ Hà Nội tổ chức các hoạt động “nhớ ơn” những thương binh, liệt sĩ đã hy sinh tính mạng, xương máu của họ cho việc áp đặt chính thể cộng sản trên tòan Việt Nam.
Năm nay, đúng vào dịp này, một buổi tưởng nhớ, tri ân những thương phế binh, tử sĩ VNCH đã được tổ chức công khai tại Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cũng là tu viện dòng Chúa Cứu Thế tại quận 3, Sài Gòn.
Theo tường thuật của website chuacuuthe.com, việc tổ chức tri ân thương phế binh, tử sĩ VNCH là sáng kiến của Thượng tọa Thích Không Tánh (Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất), với sự hỗ trợ vật chất của ân nhân sống tại Vancouver, Canada.
Thượng tọa Thích Không Tánh đã từng tổ chức tặng quà cho thương phế binh VNCH nơi ngài trụ trì nhưng những buổi phát quà này thường xuyên bị an ninh Việt Nam ngăn chặn và các linh mục, tu sĩ của tu viện Dòng Chúa Cứu thế ở đường Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn đã nhận lời đứng ra tổ chức buổi tri ân vừa kể.
Ban Tổ chức cho biết, lúc đầu, họ phát ra 149 thư mời nhưng giờ chót, có đến 220 thương phế binh VNCH tìm đến tham dự. Thể theo lời yêu cầu hỗ trợ của Ban tổ chức, khoảng 20 thanh niên là giáo dân thuộc nhiều giáo xứ ở Sài Gòn đã tình nguyện đến phục vụ “qúy ông thương phế binh VNCH” (cách gọi khách mời của Ban Tổ chức).

Các thiện nguyện viên đã đón, bế những “qúy ông thương phế binh VNCH” bị thương nặng vào phòng hội. Một thiện nguyên viên cho biết, chị nghe lời kêu gọi hỗ trợ khi đi lễ, chị đến để tiếp sức như một cách để tưởng nhớ anh trai, một quân nhân Quân lực VNCH đã mất tích cách nay 40 năm.

IMG_5019

Chức sắc các tôn giáo bày tỏ sự tri ân “quý ông thương phế binh VNCH” đã đến tham dự buổi họp mặt tại Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn. (Hình: website chuacuuthe.com)

Lần đầu tiên sau 38 năm từ “ngày giải phóng miền Nam”, “quý ông thương phế binh VNCH” – những người đã hy sinh một phần thân thể cho việc bảo vệ tự do của quê hương nhưng lại là một trong những đối tượng bị ngược đãi, bỏ rơi được nghe đại diện nhiều tôn giáo (Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo thuần túy, Cao Đài chân truyền) bày tỏ sự tri ân về những hy sinh của họ.

Cụ Lê Quang Liêm, 93 tuổi, đại diện Phật giáo Hòa Hảo thuần túy, tâm tình rằng, “qúy ông thương phế binh VNCH” là ân nhân của đất nước và ông đến dự buổi họp mặt để bày tỏ lòng tri ân đến họ.

Ông Hứa Phi, một Hiền huynh Chánh trị sự của Cao Đài chân truyền bày tỏ sự mong mỏi những người đã hiến một phần thân thể bảo vệ tự do của quê hương “hướng dẫn thế hệ trẻ trong khả năng hiện có”. Ông Phi nhận định, thương binh và gia đình liệt sĩ của chính quyền CSVN cũng đang trở thành dân oan, để đề nghị “cùng cầu nguyện quyền năng thiêng liêng của Đấng Tối cao giúp Việt Nam sớm thoát khỏi khổ nạn của chế độ cộng sản vô thần”.

Mục sư Nguyễn Hồng Hoa, đại diện Tin Lành, cho rằng, đạo đức đang suy đồi, đặc biệt là trong giới trẻ, vì vậy, ông hy vọng “quý ông thương phế binh VNCH” quan tâm đến lớp trẻ, đặc biệt là con cháu của “quý ông thương phế binh VNCH”, để hướng dẫn con cháu.

Một thương phế binh VNCH tâm sự với cử tọa, đây là lần đầu tiên sau 38 năm, ông được nghe người khác cám ơn sự hy sinh của ông và cũng là lần đầu tiên sau 38 năm, ông được ăn một bữa ăn ngon miệng.

Theo tường thuật của website chuacuuthe.com, Thượng tọa Thích Không Tánh cũng như một số đại diện khác của Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo thuần túy, Cao Đài chân truyền đã không thể đến dự buổi họp mặt, tri ân “quý ông thương phế binh VNCH” vì bị an ninh Việt Nam ngăn chặn.
Giống như nhiều lần trước, một số sĩ quan an ninh của Công an Việt Nam đã xâm nhập khuôn viên Giáo xứ Đức mẹ hằng cứu giúp và Tu viện Dòng Chúa Cứu thế để theo dõi, quay phim, chụp ảnh nhưng họ đã bị các tu sĩ, linh mục, giáo dân mời ra ngoài bởi họ không phải là đối tượng được mời. (G.Đ)

*

IMG_4633

*

Thị Trưởng Thành Phố Santa Ana Miguel Pulido Công Bố Pháp Lệnh: Ngăn Cản Cán Bộ CSVN Đến Thành Phố Santa Ana

 *

(11/02/2012)

 

SANTA ANA (VB) – Lúc 12 trưa Thứ Năm, ngày 1 tháng 11 năm 2012 trước tiền đình toà thị chánh Santa Ana, Thị Trưởng Miguel Pulido mở cuộc họp báo công bố Pháp Lệnh nhằm ngăn cản cán bộ CSVN đến thành phố Santa Ana với sự tham dự của đông đảo dân cử và các cơ quan truyền thông Việt Mỹ. Ông Kenneth Khanh Nguyễn, Đại Sứ Thành Phố Santa Ana trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Santa Ana, giới thiệu thành phần tham dự gồm: Dân Biểu Tiểu Bang California Jose Solorio; Thị Trưởng Santa Ana Miguel Pulido; Phó Thị Trưởng Santa Ana Claudia Alvarez; Phó Thị Trưởng Westminster Tyler Diệp Miên Trường; Hòa Thượng Thích Minh Nguyện trong Hội Đồng Liên Tôn; Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California; Joe Đỗ Vinh, Ủy viên Kế Hoạch Thành Phố Garden Grove.

Phát biểu trong cuộc họp báo, Thị Trưởng Miguel Pulido, đang tái tranh cử chức vụ Thị Trưởng với nhiệm kỳ thứ 9, kể rằng vài ngày trước đây khi tham dự lễ cầu nguyện và đấu tranh chống án cho hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, ông thấy một phụ nữ khóc vì bức xúc trước tình hình đàn áp tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam của CSVN, mà lòng cảm động và tự hỏi mình có thể làm gì được cho công cuộc đấu tranh của người Việt là cư dân trong thành phố Santa Ana. Chính đó là động lực để ngày hôm sau ông đệ trình Pháp Lệnh ngăn cản cán bộ CSVN đến Santa Ana.

Thị Trưởng Pulido nói rằng các thành phố lân cận như Westminster và Garden Grove đều có pháp lệnh như vậy để ngăn cản cán bộ CSVN đến các thành phố đó, nhưng Santa Ana là thành phố đầu tiên đón người Việt tị nạn cộng sản đến định cư tại Hoa Kỳ thì chưa có pháp lệnh như vậy.

Thị Trưởng Pulido với nét mặt hân hoan nói rằng hôm nay chúng ta đã có Pháp Lệnh này, đây là điều rất quan trọng. Ông hy vọng rằng các nghị viên khác trong hội đồng thành phố Santa Ana sẽ đồng thuận Pháp Lệnh này.

Thị Trưởng Pulido cho biết ông không thể để cho các cán bộ CSVN tự do đến đây để làm tổn thương đến cộng đồng người Việt tị nạn. Cho nên, theo ông, “Chúng ta phải đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam vì Hoa Kỳ là đất nước có truyền thống bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền.”

Thị Trưởng Santa Ana Miguel Pulido (giữa) đang cầm micro phát biểu trong cuộc họp báo trước tiền đình tòa thị chánh Santa Ana. (Photo VB)

Phó Thị Trưởng Santa Ana Claudia Alvarez nói rằng thành phố Santa Ana đã có nghị quyết chấp thuận cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng tự do, dân chủ và nhân quyền của cộng đồng Việt Nam, nhưng Santa Ana chưa có pháp lệnh ngăn cản cán bộ CSVN đến thành phố này.

Dân Biểu Tiểu Bang California Jose Solorio nói rằng chúng ta đã có nghị quyết công nhận cờ vàng của người Việt tị nạn thì nay chúng ta có thêm pháp lệnh ngân cản cán bộ CSVN đến thành phố này. Phó Thị Trưởng Westminster Tyler Diệp phát biểu nói rằng pháp lệnh rất quan trọng vì Santa Ana là thành phố lớn nhất của Quận Cam cũng là nơi có người Việt tị nạn sinh sống đông đảo.

Phó Thị Trưởng Tyler Diệp nhấn mạnh rằng Santa Ana có quá trình cùng với cộng đồng Việt Nam tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam thì việc có pháp lệnh này là điều quan trọng. Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California Nguyễn Xuân Nghĩa nói rằng ông rất vinh dự được hiện diện tại cuộc họp báo công bố pháp lệnh ngăn cản cán bộ CSVN đến thành phố này, nơi mà có khoảng 40,000 người Việt tị nạn đang sinh sống.

Luật Sư Nghiã nhấn mạnh rằng qua hành động này cho thấy “Chúng ta cùng nhau đẩy mạnh việc ngăn cấm CSVN đến đây.” Ông kêu gọi cử tri người Mỹ gốc Việt đi bầu đông đủ vào ngày 6 tháng 11 tới đây để thể hiện quyền công dân, và đến đây vào ngày 19 tháng 11 tới đây để ủng hộ Pháp Lệnh được hội đồng thành phố thông qua.

Hòa Thượng Thích Minh Nguyện, thành viên Hội Đồng Liên Tôn tại Hoa Kỳ, phát biểu rằng, “Tất cả chúng ta có mặt là để ủng hộ pháp lệnh của ông Thị Trưởng Pulido không hoan nghênh cán bộ CSVN đến đây.” Hòa Thượng cũng kêu gọi đồng hương Việt đến ủng hộ pháp lệnh vào lúc 5 giờ rưỡi chiều ngày 19 tháng 11 tại cuộc họp của hội đồng thành phố Santa Ana “để nói rằng chúng ta không chấp nhận CSVN đến đây.”

Theo ông Khanh Nguyễn, pháp lệnh khác với nghị quyết, vì một khi được hội đồng thành phố thông qua thì pháp lệnh có hiệu lực như một đạo luật có tính chế tài về pháp lý, chứ không phải chỉ có tính cảnh báo như nghị quyết. Ông Khanh Nguyễn cũng cho biết thì hiện nay trong số 5 nghị viên đã có 2 nghị viên chấp thuận pháp lệnh là Thị Trưởng Pulido và phó thị trưởng Claudia, còn lại 3 nghị viên khác có thể cũng sẽ OK. Theo ông Khanh Nguyễn thì xác suất thông qua của pháp lệnh là tới 70%.

*

IMG_4633

*

IMG_5701

*

Biệt Động Quân Nam Cali Hội Ngộ Mừng Xuân Giáp Ngọ 2014

*

(01/30/2014)

Garden Grove (Bình sa)-

– Tối Chủ Nhật 26 tháng 01 năm 2014 tại Nhà Hàng Paracel Seafood Restaurant, Hội Biệt Động Quân Nam California tổ chức Hội Ngộ Mừng Xuân Qúy Tỵ 2014, khoảng 400 quan khách, qúy Niên trưởng, qúy vị đại diện các hội đoàn quân binh chủng bạn, các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và đại gia đình Biệt Động Quân Nam California tham dự. Điều hợp chương trình BĐQ. Đỗ Mạnh Trường. Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt – Mỹ, phút mặc niệm, sau đó qúy Niên trưởng, huynh trưởng lên niệm hương trước bàn thờ tổ quốc.

Tiếp theo BĐQ Nguyễn Thế Đỉnh lên giới thiệu thành phần tham dự. Sau đó ông Phan Thái Bình, Hội Trưởng BĐQ Nam Cali lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn tất cả mọi người tham dự, nhân dịp đầu xuân ông gởi lời chúc đến qúy vị quan khách, qúy Niên trưởng, qúy hội đoàn, đoàn thể các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và đại gia đình Biệt Động Quân một năm mới An Vui Hạnh Phúc, trong dịp nầy ông cũng xác định lập trường của hội trong mọi sinh hoạt chung của cộng đồng trong công cuộc đấu tranh chung hiện nay.

Tiếp theo BĐQ Nguyễn Minh Chánh Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Biệt Động Quân lên cảm ơn sự hiện diện của qúy Niên trưởng, huynh trưởng cùng toàn thể tham dự, nhân dịp đầu Xuân Giáp Ngọ xin gởi đến qúy vị lời chúc An Khang Thịnh Vượng, dồi dào sức khỏe. Ông tiếp: “sự hiện diện của tất cả qúy vị là niềm khích lệ để chúng tôi tiếp tục cùng với các tổ chức bạn đấu tranh cho quê hương Việt Nam có tự do, dân chủ, hy vọng Xuân Giáp Ngọ sẽ thành công, xin qúy vị tiếp tục yểm trợ chúng tôi “Biệt Động Quân Vì Dân Quyết Chiến.”để tiếp tục lý tưởng phục vụ quốc gia dân tộc.” Buổi tiệc bắt đầu, mọi người cùng ăn, cùng thưởng thức chương trình văn nghệ do anh chị em trong binh chủng và thân hữu trình diễn.

Mọi chi tiết liên lạc hoặc muốn có đặc San Biệt Động Quân xin gọi về: Phan Thái Bình (714) 422-8868, Trần Tiễn San (714) 839-9601 hoặc vào Website: bietdongquan.com

Viết về đêm họp mặt BĐQ, Nhà văn Võ Ý cựu Trung Tá Không Quân có đoạn đã viết: “Sau 40 năm dâu biển, tôi vui mừng gặp lại các vị Niên trưởng của Binh chủng Con Cọp Cười tại Pleiku xưa, cũng như trong các tại tù cộng sản từ Bắc vô Nam, như Đại tá Đương, Đại tá Đại, Trung tá Tất…

Theo năm tháng, các vị có già đi, nhưng tấm lòng Biệt Động của các vị vẫn tươi rói màu nâu chàm, màu của đại đa số người nông dân lam lũ, màu của lý tưởng vì dân chiến đấu… Phần Văn nghệ dù là cây nhà lá vườn, cũng nói lên một công trình suy nghĩ, soạn thảo và kết hợp công phu, khả dĩ phản ánh nhiều ý nghĩa nhân Hội Ngộ Tất Niên như, ngợi ca tình quê hương, ngợi ca tình đồng đội, tình nghĩa vợ chồng, chúc an vui hạnh phúc cho từng gia đình cũng như cho cả cộng đồng.

Và trên hết, vẫn là tìm mọi cách kết hợp mọi thành phần, mọi hội đoàn trong cộng đồng để nung nấu một Mục Tiêu Chung của người Việt tị nạn cộng sản là: tiếp tay hổ trợ quốc nội giải thể chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một Việt Nam thật sự Tự Do, Độc Lập và Nhân Quyền.

Chương trình phụ diễn văn nghệ thật đặc sắc, nói lên được nhiều điều thú vị, giúp mọi người tham dự cùng suy ngẫm, cùng cười vui, để chuẩn bị đón một mùa Xuân Mới trong Hy vọng và Hạnh phúc.

IMG_4700

Biệt Động Quân hội ngộ.

Anh chị thường xuyên góp mặt trong các sinh hoạt của các Hội Quảng Đà, Hội cựu HS Phan Châu Trinh Đà Nẵng, Hội Võ Bị Quốc Gia và Hội Biệt Động Quân. Qua liên khúc nầy, anh mặc quân phục tác chiến rất oai phong, chị mặc áo bà ba rất duyên dáng. Anh chị Thuận đúng là một đôi uyên ương lý tưởng trong cuộc sống lưu lạc xứ người!

– Tiết mục “Các sơn nữ ca múa và… tắm suối” gây bất ngờ cho người xem! Các cô mặc áo người thiểu số, vai mang gùi và múa hát theo điệu nhạc. Các sơn nữ hát múa thỏa thích cho đến khi thấy nóng trong người thì các nàng vứt cả… áo và dùng gáo múc nước suối để…tắm! Màn nầy nghe nói do đạo diễn BDQ Nguyễn Ngọc Chấn (CNN) dàn dựng. Anh xử dụng bài hát nền nổi tiếng dân tộc Jamaica do của ca sĩ nổi tiếng Harry Belafonte trình diễn, có âm hưởng của núi rừng Tây nguyên, đó là bài “Day-O (The Banana Boat Song)”.

Nhìn mấy cô gái Thượng ca múa nhịp nhàng với một chàng trai Thượng (BDQ Hồ công Binh), lòng tôi bỗng nhớ về Pleiku quay quắt! Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm, Dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên. Tôi không hiểu dụng ý của đạo diễn khi dùng bài dân ca ngoại quốc làm nền cho nhạc cảnh nầy. Phải chi, BTC dùng một bài ca Việt thì dễ…hiểu hơn!

IMG_4699

Biệt Động Quân hội ngộ.

Những chiến sĩ một thời Tây nguyên Biên trấn còn đang mơ màng về chiến trường xưa, chưa nguôi, thì lại xuất hiện ban Tứ Ca Phố Núi do các M-Pleiku-má-đỏ-môi-hồng Ngọc Liên, Thu Đào, Giang Thanh và Minh Hương (trong BCH Hội AH Phố Núi Pleiku) lên trình diễn bài ca Thị Trấn Sương Mù của nhạc sĩ Thanh Sơn.

Các cựu nữ sinh của Liên trường Pleiku mặc áo dài, mà mỗi chiếc áo mang hình bóng của Phố Núi ngày xưa, trong đó có Biển Hồ, hoa dã quỳ, núi Hàm rồng và mưa sình nắng bụi nữa. Khi bài ca cất lên, mang âm hưởng núi rừng, với tiếng cồng tiếng chiêng, đã lôi cuốn sự lắng nghe của khán thính giả và các chiến sĩ của Quân Đoàn II ngày nào. Em sinh ra trên vùng đỏ sương mù, tên gọi là PLEIKU. Em không quên kỷ niệm nhớ mãi trong lòng, đêm hội làng CHƯPRÔNG Dù xa quê nhưng em vẫn tìm về.

Chiêng, trống, cồng vang dội vui đêm nay. Trời sương lạnh, se lòng cô quạnh những người tha hương. Nhớ núi rừng, nhớ PLEIKU nghe lòng rưng rưng. Bài hát nung nấu một Ước Vọng Tim Về, dù xa quê nhưng em vẫn tìm về.

Qua đó, dù xa quê, nhưng mỗi một con cọp BDQ, đều ước mong tim về Rừng Núi củ. Hội Phố Núi mới thành lập (2010), nhưng sớm có mối quan hệ gắn bó với Hội Biệt Động Quân, cũng vì tình người Phố Núi với nhau.

Hội Phố Núi góp vui với Hội Biệt Động Quân nhân dịp Tất Niên, đã nói lên tính hợp tác giữa hai Hội. Xin chúc mừng tính hợp tác gắn bó nầy! Tiết mục Ban Hợp Ca AVT của Hội Biệt Động Quân thời lưu lạc là một sự truyền thừa nụ cười Xuân của người dân Miền Nam được sống trong cảnh an bình hạnh phúc trước 1975.

Ban hợp ca mang nụ cười hóm hỉnh để điểm tô ba ngay Tết, gồm các cụ bà Nguyễn Thanh Minh thủ vai BĐQ Trần Tiễn San, cụ bà Phạm Như Mai thủ vai BDQ Phạm Quốc Trung và cụ bà Lê Duyên thủ vai BDQ Nguyễn Ngọc Chấn (CNN). Mỗi cụ bà phát âm giọng quê của mình, các giọng Bắc Trung và Nam. Riêng giọng Trung gồm hai giọng tiêu biểu là Huế và Quảng Nam…”

*

IMG_4633

IMG_5701

*

 

Hội Cảnh Sát Quốc Gia Nam Cali Tiệc Tất Niên, Đón Xuân Giáp Ngọ

(01/30/2014)

*

Westminster (Bình Sa)- – Tại nhà hàng Paracel Seafood Restaurant trưa Chủ Nhật ngày 26 tháng 1 năm 2014, Hội Cảnh Sát Quốc Gia Nam California đã tổ chức cuộc họp mặt tất niên đón mừng Xuân Giáp Ngọ 2014.

Hơn 400 quan khách, đại diện các hội đoàn, đoàn thể các Quân Binh Chủng thuộc Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Tây Nam Hoa Kỳ, một số các cơ quan truyền thông tryền hình, báo chí và đại gia đình Cảnh Sát Quốc Gia tham dự. Trong số các niên trưởng nhận thấy có NT. Trần Minh Công, Võ Văn Xét, Trần Quan An, Trần Quang Nam, Lê Thanh Đàm, Đạng Thanh Phong, Hồ Văn Sơn, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Hoàng Nam…

IMG_4698

Tất niên cảnh sát.

Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, phút mặc niệm do ban hợp ca Cảnh sát Quốc Gia phụ trách tiếp theo Ông Phan Tấn Ngưu, Tổng Hội Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia cũng là Hội Trưởng Hội Cảnh Sát Quốc Gia Nam California lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn sự tham dự của qúy quan khách, qúy niên trưởng, thân hữu cùng toàn thể chiến hữu Cảnh Sát Quốc Gia.

Nhân dịp đầu Xuân thay mặt Ban Điều Hành Hội xin chúc tất cả một năm mới an khang và thịnh vượng. Sau đó Niên trưởng Trần Quan An lên phát biểu ông nòi: “ông rất hãnh diện mặc bộ cảnh phục để phản bát luận điệu của Việt cộng cho rằng Việt Nam Cộng Hòa không còn thì mặc bộ quân phục, cảnh phục là tiếm đoạt.

Ông xác quyết dù không còn nhưng QLVNCH và Cảnh Sát Quốc Gia VNCH vẫn còn trong lòng mọi người dân Miền Nam Việt Nam. Tiếp theo lời phát biểu của Niên Trưởng Võ Văn Xèt. Sau đó Ông Phan tấn Ngưu lên giới thiệu Trung Sĩ Cảnh sát Đặc Biệt Phan Văn Bằng sau 27 năm bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cầm tù, khi ra tù bị chính phủ Hoa Kỳ từ chối quyền tỵ nạn, nhưng cuối cùng nhờ vào sự can thiệp của Luật Sư Nguyễn Quốc Lân, Đại Tá Trần Minh Công, Thiếu Tá Phan tấn Ngưu và Thiếu Tá Nguyễn Văn Cờ nên cuối cùng Ông Phan Văn Bàn đã được công nhận quyền tỵ nạn.

Tất niên cảnh sát.

Tiếp theo Ban Hợp Ca Cảnh sát lên trình bày bản “Cảnh sát Quốc Gia Hành Khúc và bản Ly Rượu Mừng.” Trong dịp nầy Ban tổ chức cũng đã cho phát hành Đặc San Phượng Hoàng Xuân Giáp Ngọ 2014 với nhiều tài liệu và bài vở giá trị, trong đó có những hình ảnh sinh hoạt của Hội.

Mọi chi tiết liên lạc:

Phan Tấn Ngưu (714) 230-9602

Sơn Rotha (714) 618-1830

Võ Thiệu (714) 775-5230

Vào trang web: canhsatquocgia.org hoặc

Email: anquantran@socal.rr.comnguuphan7592@yahoo.com

*

IMG_4633

*

Ðảng Tân Ðại Việt tưởng niệm Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

Friday, September 20, 2013 6:04:22

Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Vào chiều ngày Chủ Nhật, 29 Tháng Chín, Ðảng Tân Ðại Việt sẽ làm lễ Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy tại Westminster Community Civic Center, 8200 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683. Trong dịp này, Ðảng sẽ ra mắt tân Ban Lãnh Ðạo và phối hợp cùng hai đảng bạn là Ðại Việt Cách Mạng Ðảng và Ðại Việt Quốc Dân Ðảng trong một buổi hội thảo về “Hiện Tình Ðất Nước.”

IMG_5334

Ðảng kỳ của đảng Tân Ðại Việt. (Hình: wikipedia.org)

Theo nội dung thư mời, cuộc hội thảo sẽ có ba đề tài liên quan đến hiện tình VN. Ðó là “Những nguy cơ và tình trạng khẩn cấp của đất nước.” Thuyết trình viên là ông Trần Trọng Ðạt, chủ tịch Ðại Việt Quốc Dân Ðảng.

Ðề tài thứ hai là “Sự Vượt Sợ Hãi Và Các Hình Thức Tranh Ðấu Ða Dạng Ở Trong Nước” do ông Ðinh Quang Tiến, phó chủ tịch Ðại Việt Cách Mạng Ðảng, thuyết trình.

Ðề tài thú ba là “Chiến lược nào để thực hiện Ða Ðảng và Dân Chủ Pháp Trị ở Việt Nam” do ông Lê Minh Nguyên, phó chủ tịch đảng Tân Ðại Việt, thuyết trình.

Mục đích của buổi hội thảo này, theo ban tổ chức cho biết, là “để củng cố tinh thần, tạo sự phấn khởi cho những nhà dân chủ đang tranh đấu ở trong và ngoài nước, góp phần đưa đất nước đi nhanh vào con đường dân chủ tự do.”

Về buổi lễ Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, theo thư mời cho biết, sẽ có phần niệm hương của các đảng viên Tân Ðại Việt và đại diện của các chính đảng bạn và một số quan khách đại diện các tổ chức tranh đấu trong cộng đồng có mặt. Một bài phát biểu của chủ tịch Tân Ðại Việt là cựu Dân Biểu VNCH Bác Sĩ Mã Xái sẽ gửi đến đồng hương.

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là một cựu chính khách của Việt Nam Cộng Hòa. Ông là một trong những người sáng lập đảng Tân Ðại Việt và là tổng thư ký đầu tiên của đảng này. Trước đó ông cũng là tổng thư ký của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến cùng Giáo Sư Nguyễn Văn Bông. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cũng là một thành viên trong phái đoàn VNCH tham dự Hòa đàm Paris.

Theo tiểu sử của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy được phổ biến trên mạng, chánh quán của ông là Biên Hòa, gia nhập Ðại Việt Quốc Dân Ðảng năm 1945. Khi Pháp tái chiếm Ðông Dương 1946, ông tham gia kháng chiến một thời gian ngắn.

Sau đó ông về làm việc trong một thư viện và viết trong các báo của Ðảng Ðại Việt. Trong đời hoạt động chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, ông từng phải ba lần lưu vong ra ngoài nước.

Lần đầu là sau năm 1954, đảng Ðại Việt bị chính quyền Ðệ I Cộng Hòa tiêu diệt, các lãnh đạo buộc phải lưu vong ra nước ngoài.

Lần thứ hai là sau là sau vụ Hiến Chương Vũng Tầu khi ông là thành viên của chính phủ do lãnh tụ Nguyễn Tôn Hoàn làm phó thủ tướng đã phản đối Hiến Chương Vũng Tầu của Tướng Nguyễn Khánh.

Lần thứ ba là sau năm 1975 khi cộng sản cưỡng chiếm được miền Nam. Sau năm 1975, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy lưu vong sang Hoa Kỳ, làm chuyên gia khảo cứu cho Ðại Học Harvard.

Năm 1981, ông tập hợp các thành viên trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến và một số nhân sĩ độc lập ở hải ngoại thành lập Liên Minh Dân Chủ VN. Năm 1986, giáo sư sáng lập Ủy Ban Quốc tế Yểm Trợ VN Tự Do.

Tháng Năm, năm 1988, giáo sư cùng cựu Ðại Sứ Bùi Diễm tổ chức cuộc họp với các lãnh đạo của ba hệ phái Ðại Việt tại San Jose đề nghị thống nhất Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, nhưng không thành. Ngày 28 Tháng Bảy năm 1990, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời tại Paris.

Trong một Bản Tuyên Ngôn của đảng Tân Ðại Việt được soạn ngày 14 Tháng Mười Một năm 1964, ngày thành lập đảng Tân Ðại Việt do 14 đảng viên của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng soạn thảo và công bố thì, “Hiện nay Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã phân ra làm nhiều hệ phái khác nhau. Sự thống nhất mà các anh chị em đảng viên mong muốn không thể thực hiện được, mặc dầu mọi người đều hết sức cố gắng tìm cách thỏa hiệp nhau.

Như thế là vì sau khi Ðảng Trưởng Trương Tử Anh mất đi, không một lãnh tụ nào được toàn thể đảng viên tuyệt đối phục tùng. Bởi đó một số đảng viên tuy vẫn trung thành với với lý tưởng đảng nêu ra và không ngừng tranh đấu cho lý tưởng đó, nhưng không chịu khép mình trong hàng ngũ nào.

Những anh chị em nhận thấy sự kết hợp nhau là cần lại không đồng ý kiến với nhau về những nguyên tắc căn bản làm phương châm cho sự tổ chức và hành động của Ðảng…” “…Những phần tử có tinh thần dân chủ và chấp nhận một kỷ luật tự giác chung, đã tập hợp nhau lại thành một tổ chức mới mệnh danh là Tân Ðại Việt.”

Bản Tuyên Ngôn này được 14 đảng viên ký tên thay mặt Ðại Hội Ðồng Trung Ương Ðảng Bộ Tân Ðại Việt là Phan Thông Thảo, Lê Văn Hiệp, Nguyễn Tôn Hoàn, Trần Minh Dũng, Nguyễn Ngọc Huy (Hùng Nguyên), Hoàng Xuân Nam, Nguyễn Văn Kiểu, Ung Ngọc Nghĩa (Hoài Sơn), Dương Văn Liên, Trương Dụng Khả (Minh Nhựt), Nguyễn Văn Tại, Nguyễn Ðình Huy (Việt Huy), Nguyễn Ngọc Tân (Phạm Thái) và Ðồng Tuy.

Cũng theo một tài liệu về đảng Tân Ðại Việt được phổ biến trên mạng Google thì Tân Ðại Việt phát xuất từ Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, một chánh đảng cách mạng thành lập cuối năm 1938 để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Pháp.

Người sáng lập là Trương Kháng, bí danh là Phương, thường được gọi là anh Cả hay anh Cả Phương, nhưng được biết nhiều nhất dưới tên là Trương Tử Anh. Chủ nghĩa của Ðại việt Quốc Dân Ðảng là Chủ Nghĩa Dân tộc Sinh Tồn.

Khi Tân Ðại việt được thành lập, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy điều chỉnh và bổ túc và hướng đến một chế độ dân chủ tôn trọng sự tự do của con người, trái với chế độ quyền uy đề cao trong chủ nghĩa Dân tộc Sinh Tồn nguyên thủy.

Hiện nay, theo Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên, “Anh em trong Tân Ðại Việt đã phát triển đảng đến các giới trẻ và tất cả rất tích cực hoạt động trong nhiều lãnh vực để góp phần trong cuộc tranh đấu chung của toàn dân trong và ngoài nước.”

––- Liên lạc tác giả: NguyenHuy@nguoi-viet.com

*

IMG_4633

*

IMG_5701

Xác định vai trò của Quan Luc Viet Nam Cong Hoa

*

Tuesday, October 29, 2013 3:00:34 PM

(Bài của Tiến Sĩ Lewis Sorley đọc tại Ðại Học Kỹ Thuật Texas TTU trong cuộc hội thảo về đề tài Reassessing ARVN) Trần Ðỗ Cung phiên dịch

Nói về tác giả:

Ông Lewis Sorley đã phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một tiểu đoàn Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong gia đình tốt nghiệp đại học quân sự Hoa Kỳ. Ông cũng đậu bằng tiến sĩ của Ðại Học John Hopkins. Trong hai thập niên binh nghiệp ông chỉ huy Thiết Giáp và nhiều đơn vị Thiết Kỵ tại Mỹ, Ðức cũng như Việt Nam.

Ông cũng đã phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn phòng Tham Mưu Trưởng Bộ Binh và là giảng viên tại West Point và Ðại Học Chiến Tranh Bộ Binh. Ông là tác giả của hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of His Times và General Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông đã viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined Victory and Final Tragedy of America’s Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép và nhuận chính Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes 1968-1972.

Trong một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nhìn rõ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hôm nay tôi trình bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai phụ khoản.

Chính phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ. Ðặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc “1960. Người ta đã không ghi niên điểm cuối cùng bởi lý do dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm vì đó là mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực điểm. Trong giai đoạn này chúng ta có một cái nhìn tổng thể về thành tích của quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975.

Vài năm trước đây tôi đã viết một bài nhan đề “Dũng cảm và xương máu” để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công Tháng Tư 1972. Bài đã được đăng trong báo Parameters của trường đại học quân sự. Hồi còn sinh thời ông Douglas Pike đã bình luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau: “Ðã có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu vãn danh dự của người quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền hình thương mại ngu dốt và cánh trí thức thiên tả.

Bài của ông Sorley đã xét lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lãnh vực này.” Tôi vẫn tri ân lời khuyến khích ấy và ước gì Giáo Sư Pike còn hiện diện để thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng cảm đưa đến trưởng thành và thành tựu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ vì nước chúng ta không thực thi cam kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn tiếp tục và đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng minh bất hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận. Cho đến nay chưa bao giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến triển và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành trướng.

Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều chỉnh phần nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH tuy đó là một thái độ khôn ngoan cho đến nay. Chúng ta rất thiếu hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đã kết thúc ba mươi năm qua. Là vì những người phản chiến hoặc ít nhất chống sự tham dự của chính mình đã mô tả mọi khía cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều khi đã nói sai sự thật.

Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức và Hollywood là những nhóm đã “có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem là không cần thiết hay không thắng được.” Và vì họ điều khiển dư luận nên họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay cả khi chiến tranh kết thúc đã ba mươi năm. Những lập luận thật sai lạc, đi từ thóa mạ người lính Việt trong một quá trình chiến đấu cam khổ cho đến Jane Fonda hạ nhục những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả khi nói rằng họ đã bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị giam cầm. Ðã đến lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm khi mạt sát và cố tình dùng chính trị để đổ lỗi cho quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.

Phần 1: Quân đội Việt Nam lúc đầu:

Ðây là giai đoạn mà chúng ta chủ động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề với nhiệm vụ bình định (mà đây chính cũng là một khía cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đã quên lãng). Bởi vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng như được trợ chiến cần thiết. Phần đông chúng ta và ngay cả một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ trích quân đội Việt Nam trong thời kỳ ấy. Họ đã không lưu ý đến một số yếu tố ảnh hưởng nặng nề lên tình trạng đó.

Quân cụ Mỹ cung cấp đều là những thứ lỗi thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường M-1 vừa nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt. Trong khi đó thì kẻ thù đã được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng AK-47. Thiếu Tướng James L. Collins đã trình bày về tình hình quân đội Việt Nam như sau, “Năm 1964 địch quân đã bắt đầu sử dụng AK-47, một loại súng tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại lực lượng bạn vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế Chiến II.”

Rồi từ năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng nhập cuộc thì nhu cầu chiến tranh về phía bạn lại càng bị đẩy lui vào hậu trường.” Do đó các đơn vị Việt luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không cân xứng. Ðại Tướng Fred Weyand khi thuyết trình mãn nhiệm chỉ huy Ðệ Nhị Lộ Quân đã nói rõ, “Sự chậm trễ cung cấp khí giới và quân cụ mới cho Việt Nam, ít nhất ngang với sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch làm cho quân bạn yếu kém.”

Chỉ từ khi Ðại Tướng Creighton Abrams nhận chức tư lệnh phó Quân Lực Mỹ vào hồi Tháng Năm 1967 người ta mới bắt đầu chú ý đến quân Nam Việt. Tướng Abrams điện ngay cho Ðại Tướng Tham Mưu Trưởng Harold K. Johnson như sau, “Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ tại đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành quân Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ. Do đó chương trình cung cấp chiến cụ cho Việt Nam đã ít ỏi mà lại còn không được thi hành một cách tích cực và cấp tốc như đối với quân Mỹ. Rõ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với quân bạn. Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ vào việc”! Ngay khi nhậm chức, Tướng Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất là cung cấp các súng M-16.

Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đã đưa được M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến khác. Tuy nhiên phần đông vẫn bị lép vế đối với công sản. Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Ðồng Văn Khuyên nhắc lại rằng, “Trong vụ Tết Mậu Thân người ta nghe rõ tiếng sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài Gòn cũng như các thị trấn khác, như là một diễu cợt khôi hài cho các phát súng lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của quân ta”! Tuy vậy quân Việt vẫn đẩy lui địch quân một cách bất ngờ và dũng cảm. Báo Time đã viết: “Nhiều người Mỹ đã ngạc nhiên và công sản đã đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đã tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác hẳn dự đoán.”

Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh lệch khí giới của đôi bên. Tháng Hai 1968, tướng hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt Nam và viết một tờ nhận định được Ðại Tướng Early Wheeler chuyển đến tay Tổng Thống Johnson. Tướng Clarke nói, “Các đơn vị Việt còn bị chi phối bởi một chương trình quân viện nghèo nàn, kể cả khí giới cá nhân. Ðiều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thành quả của binh sĩ. Quân sĩ cảm nhận rõ khi họ không được trang bị đầy đủ”!

Tổng Thống Johnson liền mời Tướng Clarke đến văn phòng đàm luận thêm. Và sau đó ít ngày “viên phụ tá tổng thống điện thoại báo cho tôi là Tổng Thống Johnson đã ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16 cho quân VNCH.” Tổng thống đã nhấn mạnh trong bài diễn văn lịch sử ngày 31 Tháng Ba 1968: “Chúng ta sẽ nhanh chóng tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự gia tăng hỏa lực của địch quân.” Thật là kịp thời. Tướng Clarke trở lại Việt Nam vào Tháng Tám 1969 để thấy “lực lượng VNCH đã có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đã tiến bộ nhiều kể từ Tết Mậu Thân.”

Hiện nay họ và các lực lượng diện địa đều đã có súng cá nhân tối tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến AN/PRC-25 như quân đội Hoa Kỳ. Các sư đoàn Mỹ được trang bị tối tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng tác chiến cũng gấp bội. Tùy viên của Tướng Abrams đã nhấn mạnh là đại tướng đã nghiên cứu so sánh khả năng tác chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy chênh lệch hỏa lực 16 lần. Tướng Abrams dùng dữ kiện này để tìm cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH.

Phía VN còn bị kém hơn nữa vì lúc đầu các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên cho quân Mỹ, như oanh tạc B-52, sử dụng trực thăng, chiến đấu cơ cận chiến và chuyển quân giữa chiến địa. Tướng Abrams nói thêm là trong lần tấn công thứ ba vào Tháng Tám và Chín 1968 quân VN đã hạ được nhiều địch quân hơn cả tổng số của Ðồng Minh. Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng hơn theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số ta và địch tử vong.

Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó là vì thật sự quân đội VN không được yểm trợ như quân đội Mỹ cả về phẩm lẫn lượng (trọng pháo, không tập chiến thuật, không pháo và trực thăng vận). Bởi vậy việc chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu khách quan. Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu hơn lại còn bị đẩy xuống vai trò thứ yếu trong nhiều năm đã không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến đấu.

Về sau ông Robert McNamara từng là bộ trưởng Quốc Phòng và chủ động chiến tranh đã viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đã bị William Colby sửa lưng như sau: “Ông không có quyền nói xấu những người Việt đã đem xương máu chống cộng sản trong khi đại cường Mỹ đã phủi tay chỉ vì lỗi lầm của McNamara. Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ đã thua với McNamara và phần lớn là vì hắn”!

Phần 2: Tết Mậu Thân 1968

Chiến trận xảy ra khắp nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn cho quân đội VNCH. Nhiều người đã sửng sốt chứng kiến một thành tích vượt bực. Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint, Ðại Sứ Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy: “Mặc dầu quân đội VN ít hơn nhưng họ đã chiến đấu vượt bực. Ðại Tướng Abrams đã nói họ chiến đấu ngoài sức tưởng tượng của họ. Ðã không có nổi dậy, không có đào ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn. Trái lại họ phản ứng cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu với tối đa sức mạnh.”

Thành tích vượt bực của quân đội VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần thiết cho tương lai Việt Nam. Ðại Sứ Bunker nói tiếp: “Kết quả là cả một chuỗi diễn tiến làm cho chính phủ Việt Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng đương đầu với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai trò chiến đấu hơn.” Ông John Paul Vann cũng đồng ý nói trong năm 1972 rằng: “Tết Mậu Thân đã làm cho chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lãnh thổ, tổng động viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ rút lui và gia tăng lực lượng địa phương bảo đảm sự hiện diện chính quyền trung ương tại các vùng thôn quê.”

Lúc Ðại Tướng Abrams nhận chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam thì xẩy ra vụ tấn công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968. Ông điện cho Ðại Tướng Earle Wheeler và Ðô Ðốc John McCain, “Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt Nam đã giết nhiều địch trong vòng sáu tuần lễ hơn cả quân Ðồng Minh chứng tỏ tiến bộ lãnh đạo và tinh thần xung kích của họ. Họ phải trả một giá rất cao về tử vong vá tôi cho phần lớn là vì không được yểm trợ đúng mức. Do đó cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho họ.” Trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway vào Tháng Sáu 1969 chương trình nghị sự chú tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt Nam. Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu người đã được ký kết. Ngoài ra, theo ghi nhận của Thiếu Tướng Trần Ðình Thọ, còn thỏa thuận trang bị thêm M-16, đại liên M-60 và hỏa tiễn LAW. Vậy thấy rằng ngay lúc ấy mà còn bàn đến M-16 thì quân Việt đã phải chiến đấu từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.

Phụ đính:

Vài so sánh

* Ðã có 50 người đào ngũ mỗi ngày dưới sự chỉ huy trực tiếp của tổng tư lệnh. Ðó là trường hợp Ðại Tướng George Washington ở Valley Forge trong mùa Ðông 1777-1778.

*Ðã phải đưa đại pháo ra đường dẹp phiến loạn chống động viên. Ðó là lúc Tổng Thống Abraham Lincoln đã phải quyết định ở Nữu Ước hòi tháng Tư năm 1865 trong cuôc nội chiến Nam Bắc.

* Trong trận chiến cuối cùng đã chỉ có nửa quân số tham dự vì tệ nạn đào ngũ. Ðó là trường hợp Ðại Quân Potomac của Tướng George Meade ở Gettysburg. “Ông ta hy vọng có 160,000 binh sĩ nhưng chỉ vỏn vẹn được 85,000 vì 75,000 lính đã đào ngũ. Trong cuộc Nội Chiến Mỹ, tỷ lệ đào binh của Liên Quân là 33% trong khi bên kia còn hơn nữa ở mức 40 phần trăm.”

* Trong cuộc tổng xung kích một nửa số binh sĩ trong các sư đoàn đã kháng lệnh. Ðó là trường hợp quân đội Pháp năm 1917 làm cho tòa án binh đã phải kết tử hình 554 quân nhân trong số ấy 49 người đã bị hành quyết.

* Ðặc biệt có trường hợp một số đơn vị đã tháo chạy; đó là trong Thế Chiến II khi Ðại Ðội K thuộc Sư Ðoàn 25 Mỹ đã bỏ chạy toán loạn. Sử gia Geoffrey Perret ghi, “Hiếm thấy một sư đoàn Mỹ nào không có tình trạng đại đội bỏ ngũ như vậy.”

*Nói đến một đơn vị mà tư lệnh sư đoàn bị cách chức, bốn phụ tá chính bị loại, hai tiểu đoàn trưởng bị bắt sống và chín tiểu đoàn trưởng khác bị thay thế. Ðó là Sư Ðoàn Mỹ 36 tại Salermo trong Thế Chiến II. * Luôn luôn pháo kích, ám sát, bắt cóc và áp đảo thường dân vô tội là việc làm của cộng sản trong suốt cuộc chiến.

* Giết hại thường dân vô tội như trong trường hợp Thủy Bồ và Mỹ Lai là thành tích xấu xa của quân Mỹ trong những năm 1967-1968. Ta có thể kể ra nhiều trường hợp tương tự. Ðiểm nên nhớ là nếu đem so sánh với các lực lượng đương thời hoặc theo lịch sử ghi nhận thì QLVNCH đã chiến đấu ngang tàng và xứng đáng trong suốt cuộc chiến.

Ðó là một điểm son không bao giờ được nhắc tới. Có rất nhiều tài liệu ghi sự dũng cảm và thiện chiến của QLVNCH, tuy nhiên các nhà viết sử không chú ý đến và các phóng viên báo chí thì lờ đi. Trong Văn Khố Quốc Gia có hàng ngàn huy chương Hoa Kỳ cấp cho quân sĩ Việt Nam vì thành tích phục vụ quả cảm. Quá trình đẹp đẽ ấy lại càng đáng nể hơn nếu ta nghĩ rằng người lính Việt đã tham chiến từng nhiều thập niên và phần đông đã hy sinh cả quãng đời thanh niên của họ. Một người Mỹ đã nói rất chí tình, “Quân nhân Việt không có DEROS (ngày được trở về) như lính Mỹ chỉ phục vụ một năm ở Việt Nam. Họ chiến đấu không ngừng nghỉ năm này qua năm khác với một sức chịu đựng và lòng nhiệt thành không tưởng tượng được. Ngay sau khi cộng sản thắng trận phần đông lại còn chịu giam cầm hàng chục năm trong các trại lao cải nghiệt ngã.”

Phần 3: Ðịa Phương Quân

Sau vụ Tết Mậu Thân 1968, Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Ðại Tướng Creighton Abrams lên thay Ðại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc chiến và phương pháp hành sử. Tướng Abrams nhấn mạnh “chiến tranh toàn diện” gồm cả hành quân, bình định và gia tăng khả năng QLVNCH theo một quy trình cấp bách ngang với chiến trận.

Chiến thuật cũng thay đổi từ quan niệm “truy và diệt” qua “bình định và giữ đất.” Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân thì quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho địch trở lại. Do đó Ðịa Phương Quân được phát triển tối đa để phụ trách an ninh và bình định lãnh thổ. Trung Tướng Nguyễn Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ. Ðại Tướng Ngô Quang Trưởng nhận định rằng kết quả bình định xã ấp, gia tăng số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao thông là công của lực lượng địa phương quân và nghĩa quân. Tháng Năm 1967 khi Ðại Tướng Abrams đến Việt Nam thì quân lực VN gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn có những lực lượng diện địa bao gồm Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lãnh thổ.

Tỉnh Trưởng chỉ huy Ðịa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phương của họ và thực hiện mục tiêu “càn quét và giữ đất.” Vào năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH. Một trùng hợp, đêm hôm trước Bing West và một nhân vật nữa đã lên kênh PBS “Giờ tin tức với Jim Lehrer” để thảo luận về tình hình Iraq. Một người đã nói đến quan niệm “càn quét và giữ vững” của Condoleza Rice.

Nếu ta tìm nguồn gốc quan niệm này thì hẳn phải kể Lực Lượng Diện Ðịa Nam Việt, Ðại Tướng Abrams, Ðại Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu PROVN (chương trình bình định và phát triển Nam Việt) của Ðại Tá Jasper Wilson. Ngay từ Tháng Mười 1968, ông William Colby làm phụ tá Bình Ðịnh cho Tướng Abrams đã giải thích tầm quan trọng của các lực lượng ấy, “Ðể bảo vệ an ninh lãnh thổ chúng ta chú trọng đến tăng tiến Ðịa Phương và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể quân số.

Chúng ta đã bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa qua. Trong một buổi thuyết trình Ðại Tướng Abrams đã nhấn mạnh ba mươi điều phải làm trong đó có việc cử các toán nhỏ cố vấn quân sự đến các Ðại Ðội Ðịa Phương Quân và các Trung Ðội Nghĩa Quân. Ta đã có 250 toán năm người rải rác khắp mọi nơi.” Ba tháng sau, ông Colby đã thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí cho các đơn vị ÐPQ cũng như NQ. “Ðã có 91,000 binh sĩ nhiều hơn năm ngoái. Khoảng 100,000 người đã được trang bị súng M-16 và 350 toán cố vấn đã sống và làm việc với các đơn vị ÐPQ và NQ.” Ngay khi lãnh chức tư lệnh, Ðại Tướng Abrams đã thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ. Ông nói trong bài thuyết trình Tháng Tám 1968, “Trong một năm ÐPQ và NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận súng M-16 trước cả Lục Quân.

Cũng như mọi việc, tôi đã bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính với lãi suất 10 phân. Trời Ðất ơi, chúng ta đã đầu tư vào đây và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất cả mọi thứ”! ÐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, “Ðiều tôi quan tâm nhất là vai trò của ÐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay ÐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân địch nhiều đòn chí tử. Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn”! Cùng một lúc, ông nói rõ ràng về thành tích của các đơn vị này. “Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không.

Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa này có lợi hơn.” Cuối năm 1969, khi nhìn biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, vv, thì QÐVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Ðồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đã xẩy ra từ tháng Tám vừa qua.” Một người trong cử tọa nói lớn, “Ðó là tính chất của cuộc chiến”! Tướng Abrams trả lời ngay: “Ðúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã bắt đầu thấy kết quả”!

Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình trạng năm năm trước đây. Tướng Abrams nói thêm: “Các lực lượng địa phương, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay là ÐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh.” Các sĩ quan cao cấp Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “Các ÐPQ và NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sĩ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”! ÐPQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng đã được các nhân vật bình luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng, “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”! Prunedale, tháng 10, 2006

*

IMG_4633

*

Hôm nay, 11/21/2012 05:08 AM

Santa Ana Bỏ Phiếu: Đồng Ý Cấm Cửa Viet Cong , Tỷ Lệ 7/7 Phiếu: Cấm Các Quan Chức Cong San Viet Nam Vào

(11/20/2012)

*

SANTA ANA, Calif. (VB) — Hội đồng thị xã Santa Ana đã biểu quyết chấp thuận lệnh cấm cửa các phái đoàn nhà nước CS Việt Nam với tỷ lệ phiếu 7/7 phiếu. Phiên họp Hội đồng thị xã thực hiện vào đêm Thứ Hai 19-11-2012 tại phòng họp HĐ Thành Phố Santa Ana.

Phiên họp mục đích là thảo luận và biểu quyết về đề nghị của Thị Trưởng Miguel Pulido là thành phố Santa Ana đưa ra một quyết nghị để ngăn cản các phái đoàn của chính quyền cộng sản Việt Nam đến Santa Ana, tương tự như là hai nghị quyết đã được thông qua bởi thành phố Garden Grove và Westminster trước đây.

Quyết định này đưa ra bất kể một kháng thư của Đại sứ Lê Bá Hùng gửi tới Thị trưởng và Hội đồng thành phố Santa Ana để xin bác bỏ  lệnh cấm cửa quan chức CSVN, lấy lý do là hai nước đã bình thường bang giao với nhau và đã hợp tác trên nhiều phương diện.

Quyết định của Hội đồng thành phố nhằm ngăn cản các thành phần trong chính quyền Cộng sản Việt Nam du hành trong phạm vi của thành phố Santa Ana hoặc đi ngang qua thành phố Santa Ana, cũng như thị xã không chấp nhận các viên chức chính quyền cộng sản được tiếp đón trong phạm vi thành phố và buộc các phái đoàn này phải thông báo trước với thành phố Santa Ana trước khi họ được vào khu vực thành phố, để thành phố Santa Ana có thể thông báo với cộng đồng người Việt Nam và để bảo vệ an ninh cho mọi người.

Nếu thành phố Santa Ana có bất cứ phí tổn nào trong việc phái đoàn chính quyền Cộng sản Việt Nam đến, thì cá nhân hay cơ quan tổ chức tiếp đón phải chịu trách nhiệm của mọi chi phí.

IMG_5350

Hình ảnh sau khi bỏ phiếu thuận 7/7, Thị trưởng và các nghị viên cùng khoác cờ vàng.

Lý do chính yếu của thành phố Santa Ana, nơi có 40,000 cư dân gốc Việt, cấm cửa các quan chức CSVN vì những vi phạm nhân quyền quá tệ hại đối với những quyền căn bản của người dân VN: thành phố Santa Ana không muốn mở cửa đón những kẻ gây tội ác về nhân quyền.

Cũng nên nhắc rằng, Thị Trưởng Miguel Pulido, mấy tháng trước đã kể rằng, khi tham dự lễ cầu nguyện và đấu tranh chống án cho hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình tại Tượng Đài Chiến  Sĩ Việt Mỹ, ông thấy một phụ nữ khóc vì bất mãn trước tình hình đàn áp tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam của CSVN, mà lòng cảm động và tự hỏi mình có thể làm gì được cho công cuộc đấu tranh của người Việt là cư dân trong thành phố Santa Ana.

Chính đó là động lực để ngay ngày hôm sau ông đệ trình Pháp Lệnh ngăn cản cán bộ CSVN đến Santa Ana. Thị Trưởng Pulido nói rằng các thành phố lân cận như Westminster và Garden Grove đều có pháp lệnh như vậy để ngăn cản cán bộ CSVN đến các thành phố đó, nhưng Santa Ana là thành phố đầu tiên đón người  Việt tị nạn cộng sản đến định cư tại Hoa Kỳ thì chưa có pháp lệnh như vậy.

Thị Trưởng Pulido cho biết ông không thể để cho các cán bộ CSVN tự do đến đây để làm tổn thương đến cộng đồng người Việt tị nạn. Cho nên, theo ông, “Chúng ta phải đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam vì Hoa Kỳ là đất nước có truyền thống bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền.”

Tham dự buổi họp còn có Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, HT Thích Như Nguyện, HT Thích Minh Mẫn, TT Thích Viên Huy, LS Nguyễn Xuân Nghĩa, LS Nguyễn Quốc Lân, ông Phan Kỳ Nhơn, Phan Tấn Ngưu, Mục Sư David Huỳnh, BS Trần Văn Cảo, nhiều đại diện hôi đoàn, và khoảng 200 đồng hương.

 *

IMG_4633

*

Ái hữu Không Quân Viet Nam Cong Hoa miền Trung tu chính nội quy

*

Wednesday, April 02, 2014 6:41:26 PM

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) Vào Chủ Nhật tuần qua, Hội Ái Hữu Không Quân VNCH Miền Trung California tổ chức buổi hội thảo Thư Viện Việt Nam, Garden Grove, để tu chính lại nội quy.

Ông Nguyễn Văn Chuyên, thành viên trong hội từ năm 1982, cho biết: “Theo tôi được biết, hôm nay là ngày anh em Hội Ái Hữu Không Quân VNCH Miền Trung California có dịp họp mặt để bàn về vấn đề tu chính nội quy. Bởi vì sau hơn 20 năm hoạt động, nội quy cũ đã thành lập từ năm 1982, so với ngày nay, có vẻ đơn sơ quá nên càng ngày vấn đề sinh hoạt càng có nhiều rắc rối mà trong nội quy cũ không có quy định. Ðó là lý do tại sao hôm nay có buổi họp để cần nhiều ý kiến đóng góp cho vấn đề tu chính nội quy.”

IMG_5424Các thành viên Ủy Ban Tu Chính Nội Quy chào các chiến hữu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Những điều khoản nào cần tu chính thì Ủy Ban Tu Chính Nội Quy đã gởi ra bản dự thảo của họ, và hôm nay, anh em trong hội sẽ đi qua từng mục một cần tu chính và có ý kiến đóng góp, để xem những cái nào chấp nhận được cũng như những cái nào không chấp nhận được,” ông Chuyên cho biết thêm.

Ðược biết, cũng như các hội đoàn cựu quân nhân VNCH khác tại California thường có rất nhiều hội trong một binh chủng hay các quân trường, thì đây là hội chính của Không Quân VNCH Miền Trung California. Bởi vì hội này bao gồm nhiều hội của các khóa đã đào tạo những quân nhân trong binh chủng Không Quân gồm những phi đoàn và các ngành nghề có liên quan đến binh chủng này.

“Ban điều hành của hội đương thời, trên nguyên tắc, có ông Lê Văn Chóc là hội trưởng, và những anh em trong ban chấp hành của ông có một số anh em đòi hỏi những tu chính nội quy, để cho những sinh hoạt sau này của hội được suôn sẻ hơn, nghĩa là không còn những ‘lợn cợn’ mà nhiều anh em còn có những lối suy nghĩ hoặc có những câu hỏi khó để thực hiện. Tuy nhiên, nội quy cũ không đề ra những thắc mắc của anh em, nên hội không thể giải quyết được. Sau buổi họp này, hội có thể giải đáp được những vấn đề hoặc những câu hỏi đó,” ông Chuyên nói thêm.

Ông Phạm Ðình Khuông, đại diện ban soạn thảo dự thảo tu chính nội quy, chào mừng và cám ơn tinh thần hăng hái của các cựu quân nhân Không Quân VNCH đến tham dự. Sau đó, ông nói cho người biết về chương trình của buổi hội thảo.

Sau nghi thức khai mạc, mọi người đồng ca bài “Không Quân Hành Khúc.”

Cựu Ðại Tá Nguyễn Xuân Vinh, từng một thời là tư lệnh Không Quân VNCH, phát biểu: “Hôm nay, tôi nhìn trong hội trường có thể nói là đông đảo. Như thế, tôi tin tưởng rằng chúng ta đến đây cùng với tâm ý là làm thế nào để xây dựng hội của chúng ta từ nay trở đi càng ngày càng vững mạnh.”

IMG_5425Ðông đảo thành viên Hội Ái Hữu Không Quân VNCH Miền Trung California tham dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông cho biết là cách đây nhiều năm, ông đã từng đến thăm viếng và sinh hoạt với hội vài lần. Trong những ngày qua, trong hội có nhiều anh em cùng góp ý. Căn bản là tất cả mọi người đều muốn có được một hội Không Quân VNCH được lớn mạnh tại hải ngoại.

“Nhưng chỉ vì chúng ta không căn cứ trên một tổ chức chặt chẽ có nội quy vững vàng, và có sự bầu cử chính danh được đông đủ mọi người tham gia,” ông Vinh chia sẻ.

Ông nói tiếp: “Tuy chỉ sang đây có thể nói là khoảng 40 năm, chúng ta thấy có nhiều hội đoàn mọc ra rồi biến đi. Cách đây không lâu, có người tự xưng là tổng thống, thủ tướng mọi thứ, nhưng một ít lâu rồi cũng phải tan biến, vì rằng không dựa trên một tổ chức chặt chẽ, không được quần chúng tín nhiệm. Và nhất là không có một cuộc họp bàn thảo về nội quy vững chắc để chúng ta có thể bầu người đại diện cho hội của chúng ta. Ðó là mục đích để tu chính lại nội quy của ngày hôm nay.”

“Hôm nay, xin quý chiến hữu hết lòng tham gia nêu ra những ý kiến, để chúng ta có một nội quy thật hoàn hảo, để từ đó, chúng ta có thể bầu một vị hội trưởng thật chân thành để cho hội của chúng ta được vững tiến trong nhiều năm tới, đồng thời có thể làm một căn bản gương mẫu cho những hội Không Quân của VNCH trên thế giới,” ông Vinh nói thêm.

Tiếp theo, ban tổ chức mời quý vị trong Ủy Ban Tu Chính Nội Quy lên ngồi bàn chủ tọa đoàn. Ðó là các ông Nguyễn Văn Ức, Nguyễn Văn Phúc, Vĩnh Anh, Nguyễn Phúc Tiến, Huỳnh Văn Giàu, Dương Viết Ðang, và Phạm Ðình Khuông.

Ông Nguyễn Văn Ức, đại diện ủy ban, chào mừng và cám ơn các thành viên trong hội đến tham dự.

Sau đó, ông Khuông nói về điều lệ sinh hoạt trong khi thảo luận.

Trong bản soạn thảo dự thảo tu chính nội quy gồm có những đề mục như sau:

(1) Danh xưng, (2) Mục đích, (3) Tôn chỉ, (4) Phương châm hoạt động, (5) Biểu hiệu tượng trương, (6) Ðiều lệ của hội, (8) Trách nhiệm của ban chấp hành.

Ðược biết, đến ngày 3 Tháng Năm, hội sẽ tổ chức bầu cử chức vụ hội trưởng Hội Ái Hữu Không Quân VNCH Miền Trung California.

 

 *

IMG_4633

*

 

Hằng Trần, nghị viên gốc Việt đầu tiên của thành phố Morrow

*

Friday, November 08, 2013 6:24:28 PM

“Vì cộng đồng chúng ta cần có tiếng nói đại diện.”

Thiên An/Người Việt

MORROW, Georgia (NV)- Hằng Trần, 27 tuổi, vừa chính thức trở thành nghị viên gốc Việt đầu tiên tại thành phố Morrow sau chiến thắng trong cuộc bầu cử hôm thứ Ba, 5 tháng Mười Một.

 IMG_5423Hằng Trần, 27 tuổi, là nghị viên gốc Việt đầu tiên của thành phố Morrow. (Hình: Hằng Trần)

Morrow là một thành phố nhỏ của Clayton County, thuộc tiểu bang Georgia với khoảng 7,000 cư dân. Tại đây, cứ năm người thì có một người Việt Nam, nếu căn cứ theo số liệu của U.S. Cencus. Tuy vậy, trong lịch sử Morrow, trước cô Hằng Trần, chưa một người Việt nào vào được hội đồng thành phố.

“Mới đầu thấy tên ghi danh tranh cử, họ cứ tưởng mình là đàn ông. Khi người dân mới thấy hình mình trên các biển hiệu vận động dọc đường thì họ ngạc nhiên lắm.” Cô Hằng cười, kể. “Tuy có định kiến và đánh giá nhưng sau đó họ thấy mình có khả năng và tâm huyết nên họ chuyển sang ủng hộ.”

Cô Hằng Trần có gương mặt sáng, mái tóc dài để buông tự nhiên, và nụ cười thân thiện thường thấy trên môi. Cô đến Mỹ theo diện H.O vào năm 1992 khi được sáu tuổi, theo học tại trường tiểu học và trung học của Morrow trước khi gia đình chuyển đến Jonesboro. Cô theo học ngành hoá học tại Đại học Georgia State University, tốt nghiệp bằng cử nhân và thạc sĩ.

Cô chuyển về sống tại Morrow với chồng là ông Toàn Phạm. Hai người cưới nhau hồi Tháng Bảy, 2010 và nay có một bé trai nhỏ 16 tháng tuổi. Về công việc, cô hiện là nhân viên phân tích hoá chất của  Trung Tâm Kiểm Dịch Hoa Kỳ.

Tuy bận rộn, cô Hằng quyết định ra tranh cử chức nghị viên thành phố vì “Từ lúc  mình còn nhỏ sống tại Morrow cho đến nay, mình thấy nơi đây có nhiều thay đổi. Nhớ khi đi học trong lớp chỉ có mình là Việt Nam, nay thì cộng đồng mình đã chiếm đến 20% số cư dân. Vì thế, Chúng ta cần có một tiếng nói đại diện trong thành phố.”

“Và, tôi tin rằng đây là một cơ hội lớn cho những ý tưởng mới, cách nhìn mới, và một sự thay đổi thực sự cho thành phố Morrow. Là một người vợ và một người mẹ, tôi khao khát thấy được Morrow trở thành một thành phố tốt hơn nữa cho con mình.” Cô nói thêm.

Trong cuộc vận động bắt đầu từ Tháng Tám, cô cùng chồng, có khi đẩy xe đẩy chở theo con trai đến từng bà Hằng và các thịnh nguyện viên đã đến gõ cửa hầu như từng nhà trong số hơn 2,000 hộ của thành phố để giới thiệu về bản thân và kêu gọi họ đi bỏ phiếu. Tình nguyện viên ủng hộ cô là đông đảo các sinh viên và các nhân vật lớn trong cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng Việt Nam.

Kỳ bầu cử hôm Thứ Ba nhằm thay thế hai ghế nghị viên theo thể thức hai nhóm và chọn người cao phiếu nhất mỗi nhóm. Hằng Trần và ông Jeff Detar thuộc nhóm Một, ông Chris Mill và ông Randy Anderson thuộc nhóm Hai.

Kết quả, cô Hằng Trần thắng với tỉ lệ áp đảo, 352: 180, và ông Chris Mill thắng với tỉ lệ thấp hơn, 302: 205 .

“Chiến thắng này không chỉ của riêng tôi. Nó có ý nghĩa chung cho cả cộng đồng. Từ nay chúng ta bắt đầu có tiếng nói trong thành phố.” Cô Hằng chia sẻ.

Cô cho biết cô hy vọng thực hiện được ba thay đổi trong Morrow: tăng cường an ninh để người dân có thể yên tâm sinh hoạt; đảm bảo bình đẳng cho tất cả mọi người, từ sinh viên tại trường học đến các tiểu thương làm buôn bán nhỏ; phát triển kinh tế thành phố bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho giới thương mại hoạt động và cho giới trẻ tìm kiếm công ăn việc làm.

Ngoài ra, cô thổ lộ một mong ước cô dành riêng cho cộng đồng người Việt Nam tại đây: xây dựng một tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ ngay tại Morrow.

“Cũng như nhiều gia đình khác tị nạn tại Hoa Kỳ, gia đình Hằng có bố từng phải đi tù Cộng Sản. Nhờ có họ hy sinh mà lớp trẻ như Hằng được đến sống và học hành, thành đạt tại Mỹ. Mình hy vọng vận động xin phép được xây dựng một tượng đài để tưởng niệm, cám ơn họ.”

Cô nhắn gửi thêm với lớp trẻ: “Gia đình các bạn, có lẽ cũng như bố và các chị của Hằng, đã hy sinh rất nhiều cho chúng ta có cơ hội được thành đạt tại Mỹ. Khi đã thành đạt rồi, chúng ta có trách nhiệm phải giúp lại cộng đồng, tạo ra cơ hội tốt hơn cho các thế hệ sau này.” Cô cũng hy vọng chiến thắng của cô trong đợt bầu cử này có thể khuyến khích giới trẻ gốc Việt tại Mỹ tham gia tích cực hơn vào chính trị và xã hội.

Kết thúc buổi trò chuyện với phóng viên, cô Hằng Trần xin nhắn gửi lời cám ơn đến tất cả những người đã ủng hộ cô, đặc biệt là cộng đồng Việt Nam tại địa phương. “Tôi chắc chắn đã không thành công nếu không có sự ủng hộ của đồng bào.” Cô khẳng định.

Liên lạc tác giả: vu.an@nguoi-viet.com

*

IMG_4633

*

CONG DONG VIETNAM  TAI  SAN JOSE MIEN BAC CALIFORNIA

Đo Hùng, Người Của Năm 2012: Exit Little Saigon, Con Đường Gai Góc

 

*

(01/05/2013)

Tác giả : Giao Chỉ

 

*

005

Do Hung ( right side )

*

Trong khi khắp bốn phương việc đặt tên hay tuyên dương Little Saigon thực hiện nhẹ nhàng thì Little Saigon của San Jose đã đi trên một con đường gai góc. Cao điểm là buổi tranh luận vào một đêm dài đầu tháng 3-2008 tại San Jose City Hall.

Hàng ngàn người tham dự, hàng trăm người kêu nài, dọa dẫm, nỉ non, lớn tiếng và nhỏ nhẻ. Tiếng Anh, tiếng Việt. Nam phụ lão ấu. Tất cả đều vô vọng. Hội đồng thành phố không đồng ý “Saigon Nhỏ”.

Theo đề nghị của cô nghị viên Madison quản nhiệm khu số 7, thành phố dự trù sẽ có một “Saigon To”. Cô đề nghị đã Saigon là phải “Saigon Business District”. Nhưng phía cộng đồng tham dự họp bàn dứt khoát chỉ muốn có tên Little Saigon cho các khu thương mại Việt trên đường Story từ Mc Laughlin đến Senter.

Little Saigon của San Jose sẽ xếp hàng với Saigon Nhỏ Orange county và nhiều nơi khác. Câu chuyện nhỏ ở địa phương mà tờ The New York Times phải đăng tin ngày 6 tháng 3-2008 với kết quả 7/4 nghị viên không chấp thuận vì còn chờ ý kiến của các thương gia trong khu vực.

Lập luận theo sách vở của thành phố nói rằng hỏi ý kiến khác với bầu cử. Nếu là bầu cử thì đa số sẽ thắng. Còn hỏi ý kiến là một chuyện, có làm theo hay không là chuyện khác. Không thể bị áp lực. Vì không được chấp thuận nên dân chúng biểu tình, tuyệt thực và cuộc đấu tranh khởi sự lâu dài, quyết liệt với hàng ngàn người tham dự.

Từ đòi hỏi một tên gọi danh dự, cuộc đấu tranh hướng mục tiêu tranh đấu vào cô nghị viên trẻ tuổi của Việt Nam. Phong trào đòi truất phế nổi lên đã trở thành một biến chuyển chính trị quan trọng. Tuy nhiên cô Madison Nguyễn đã vượt qua kỳ truất phế.

Tiếp theo cô đủ phiếu tái cử cho nhiệm kỳ 2 và hiện nay là phó thị trưởng của San Jose. Cuối năm qua nhân dịp ra mắt sách của một tác giả phụ nữ tại hội trường VIVO, cô được giới thiệu với lời lẽ nồng nhiệt và nhận tràng pháo tay của cử tọa tham dự.

 IMG_5427

Bảng Little Saigon Exit ở San Jose.

Chẳng bù với những năm trước khi đến dự các buổi sinh hoạt cộng đồng, việc hiện diện của cô đã từng bị đả đảo và gây nhiều tranh cãi. Quả thực thời gian là viên thuốc nhiệm mầu đã làm cho hận thù dần dần lắng xuống.

Từ năm 2005 đến nay cuộc đời chính khách của Madison đã trải qua rất nhiều khó khăn và cay đắng. Cô là nghị viên có nhiều tham vọng, nhiều nỗ lực, nhiệt thành và chăm chỉ hơn tất cả các bạn đồng viện. Tuy nhiên chính những ưu điểm đôi khi lại trở thành khuyết điểm, làm cho nhiệm vụ thêm vất vả.

Tinh thần quyết thắng, cứng rằn, thiếu thông cảm và không thỏa hiệp đã đem đến cho Madison nhiều khó khăn mà các nghị viên khác không gặp phải. Vì vậy cũng như cái tên Little Saigon tại San Jose gặp nhiều trở ngại, khi phải đối đầu với dân ý qua một danh xưng đơn giản chính Madison cũng đã vô tình tìm đường gai góc mà đi.

Madison là ai.

Gia đình ông Nguyễn với vợ và 9 con vượt biển từ Nha Trang rồi đến Phi luật Tân năm 1980. Trong 9 đứa con của một gia đình chài lưới miền duyên hải Nam phần thì cô Phương Tửu sinh năm 1975 mới có 4 tuổi. Không ai có thể biết rằng đứa bé gái 4 tuổi nhỏ bé đó sẽ có ngày làm phó thị trưởng một đô thị trên triệu dân tại Hoa Kỳ.

Cả gia đình định cư tại Arizona. Sau đó dọn về tiểu bang vàng California, nhưng cũng chỉ tiếp tục làm nông trại và lao động tại Modesto. Cô bé Phương Nguyễn trải qua thời kỳ niên thiếu tại quê nghèo miền Bắc California. Ngoài giờ đi học Phương đi hái trái cây với số tiền lao động đầu tiên là 1 US một giờ.

Sự quyết tâm đã bắt đầu từ đó. Năm 18 tuổi khi vào quốc tịch Phương biến thành Madison và nỗ lực ôm hoài bão lớn trong một thân hình bé nhỏ. Sau cùng với bao nhiêu gian truân vất vả cô bé thuyền nhân 4 tuổi họ Nguyễn tên Phương đã trở thành phó thị trưởng San Jose Madison Nguyễn.

Sau 2 nhiệm kỳ hội đồng thành phố gần 10 năm, rồi có thể sẽ ra tranh cử thị trưởng vào năm 2014. Cuộc đời chính trị của cô đã được thuật lại trong cuốn tự truyện song ngữ mới phát hành.

Trong đó Little Saigon dù không giãi bày đầy đủ nhưng chắc chắn vẫn là vấn nạn đau thương nhất. Để giải quyết cho xong một lần, ngày 27 tháng 9-2012 ông thị trưởng Chuck Reed và cô phó Madison Nguyễn đã công bố một bản văn ngỏ ý sẽ thông qua việc đồng thuận cho thực hiện tấm bảng trên xa lộ chỉ lối vào và đồng thời chính thức hoá tên Little Saigon.

Như vậy cả một cuộc chiến 5 năm lúc ồn ào bùng nổ lúc âm ỷ soi mòn hai phía đã đến lúc có lối thoát. Đó là Exit Little Saigon. Phía đấu tranh đã hết sức bền bỉ và nhẫn nại suốt 5 năm, bây giờ đến lượt phe thành phố cũng học được chữ nhẫn của Á Châu. Có khi nhẫn để bình an, có khi nhẫn để thênh thang cõi lòng.

Exit Little Saigon. Khởi đi từ một chuyện rất nhỏ bàn về một danh xưng tiêu biểu cho khu thương mại Việt Nam, cuộc đấu tranh trở thành vấn đề quốc cộng, vấn đề tự ái dân tộc, vấn đề âm mưu chính trị và rất nhiều giả thuyết khác.

Phía Saigon Business District, dù có cả hội đồng thành phố đồng thuận lúc khởi đầu. Hoặc có các thân hữu yểm trợ về sau, nhưng trước sau cũng chỉ có một mình cô nghị viên Madison là nhân vật chính.

Phía đấu tranh cho Little Saigon đã có hầu hết các đoàn thể đồng lòng yểm trợ, cho dù sau này có chia rẽ vì ý kiến khác biệt, hoặc là có cả hội đồng của Little Saigon San Jose Foundation, nhưng nếu phải chọn một người duy nhất để nói đến. Người đó chính là Đỗ Hùng.

Trong buổi họp mặt gây quỹ cho các bảng Exit, trưởng ban tổ chức Đỗ Hùng đã lên tiếng chính thức cảm ơn các nhà yểm trợ, các chính khách Hoa Kỳ gần như đủ mặt. 5 tấm bảng sẽ đặt trên 2 phía xa lộ 101. Hai tấm sẽ đặt trên xa lộ 280. Tổng số ngân khoản tốn kém chừng 30 ngàn mỹ kim nhưng ảnh hưởng hết sức lớn lao.

Ngoài ý nghĩa tình tự quê hương, ngoài giá trị thương mại và kinh tế, Exit Little Saigon còn ghi dấu một cuộc đấu tranh bền bỉ, mãnh liệt và nhất là khôn ngoan trong giai đoạn thương thuyết sau cùng. Để tiếp tục áp lực với thành phố, phe bồ câu vào thương thuyết trực tiếp, nhưng phe diều hâu vẫn tiếp tục hầm hè quyết chiến.

Nếu chỉ thấy 2 phe chia rẽ là không nhìn thấy thế hỗ trợ chiến lược đã vô tình thể hiện. Sau cùng chuyện phải đến đã đến. Năm 2013 San Jose sẽ chào mừng Exit Little Saigon.

Đỗ Hùng là ai?

Năm 1954 chàng thanh niên Đỗ Hải di cư vào Nam. Quê Quảng Bình nên anh chỉ cần vượt cầu Bến Hải, qua Quảng Trị là vào đến Thừa Thiên. Cùng lúc đó có cô thiếu nữ họ Phạm đi từ Hà Nội vào Saigon. Ông Đỗ Hải nhập ngũ khóa 4 Thủ Đức, cùng khóa với ông Hùng Xùi, ông Ngô Quang Trưởng và ông Ngọc Toét. Sau khi ra trường sĩ quan Đỗ Hải lập gia đình với cô bé di cư họ Phạm. Đỗ Hùng chính là con của hai ông bà.

Hùng sinh trưởng Saigon nhưng gốc Quảng Bình pha Hà Nội. Ông Hải, ông Trưởng, ông Ngọc không còn nữa. Bây giờ chỉ còn bác Hùng Xùi luôn luôn đứng bên cạnh cháu.

Khác với các cậu bé Saigon, Hùng thường theo bố đến các đơn vị QLVNCH đặc biệt là những năm sau này tại căn cứ Sư đoàn 5 bộ binh khi thân phụ là trung tá phục vụ Lai Khê. Khi gia đình di chuyễn qua Mỹ 1975 và cư ngụ tại Nam Cali, Đỗ Hùng vẫn đem theo hình ảnh của quân lực VNCH và hoài bão một ngày trở về.

Thời kỳ 78-79 báo Trắng Đen của các ông Việt Đình Phương và Tô Văn thường đăng bài của nhà cách mạng trẻ với bút hiệu Đỗ Phục Quốc. Một lần các đàn anh cùng với bác Lục Phương Ninh, Đinh Thạch Bích v.v..mời bạn Phục Quốc đến thăm tòa soạn bàn chuyện giải phóng quê hương. Té ra là cậu Đỗ Hùng còn chưa tốt nghiệp trung học trường Vista ở Oceanside. Mọi người hết sức ngạc nhiên và kết nạp ngay thế hệ tương lai vào hàng ngũ của đoàn thể.

Tiếp theo gia đình ông Đỗ Hải dọn về San Jose và Đỗ Hùng tiếp tục sinh hoạt đảng phái, cộng đồng và hoạt động với phong trào sinh viên Việt Nam. Trong khi đa số sinh viên Việt tại SJSU học kỹ thuật, điện toán hay giáo dục thì sinh viên Đỗ Hùng đi ngược chiều để tốt nghiệp khoa chính trị. Anh dự trù tiếp tục lấy bằng tiến sĩ với đề tài liên quan đến chiến tranh Việt Nam.

Trong hoạt động đảng phái Đỗ Hùng luôn luôn nhiệt thành yểm trợ các phong trào phục quốc từ người đấu tranh quyết liệt như Võ đại Tôn cho đến các nhà đấu tranh chính trị như Nguyễn Ngọc Huy. Không lần nào các sinh hoạt của các vị đàn anh đến San Jose mà Đỗ Hùng vắng mặt.

Trong công việc đấu tranh trực diện, biểu tình, chống cộng, tranh đấu cho thuyền nhân, Hùng luôn luôn là thanh niên lãnh đạo có khả năng hướng dẫn, điều khiển và xách động hết sức hữu hiệu.Với công tác sinh hoạt trẻ anh đã cùng Vũ Anh Thư tổ chức vào dịp 30 tháng 4 kết hợp thanh niên sinh viên toàn miền Bắc ngay từ 1980.

Trong công tác cộng đồng Đỗ Hùng đã từng làm chủ tịch cộng đồng VN Bắc Cali trong các giai đoạn cần đối thoại trực diện và quyết liệt với phe cộng sản hay thân cộng. Đặc biệt hữu hiệu và bền bỉ nhất là việc đấu tranh cho Little Saigon suốt 5 năm qua. Anh là người vừa là phát ngôn viên, vừa là người thương thuyết, vừa là người hô hào xách động trong tất cả các buổi xuống đường. Sau cùng anh cũng là người thảo kế hoạch để đạt được thành quả sau cùng cho Little Saigon có được một Exit kể cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Thế hệ tương lai Nếu con đường và mục tiêu của Madison rời khỏi miền quê hương cát trắng năm 4 tuổi là con đường USA thì con đường của Đỗ Hùng rời Sài Gòn năm 15 tuổi là con đường Việt Nam. Giấc mơ của Madison là American Dream thì giấc mơ của Đỗ Hùng là giấc mơ Việt Nam.

Giấc mơ của 2 người trẻ Việt Nam có trái chiều, thì dù sao Exit Little Saigon cũng chỉ là lối ra tạm trong cuộc đời của từng con người. Nhưng mai đây Exit Little Saigon sẽ mãi mãi là con đường trở về với văn hóa, lịch sử và cội nguồn của nhiều thế hệ Việt Nam.

Sau này mỗi khi đi trên xa lộ 101 hay 280 nhìn thấy Exit Little Saigon,Đỗ Hùng sẽ nghĩ gì, Madison sẽ nghĩ gì. Các anh các chị sẽ có bao giờ tìm thấy đâu là Exit USA và đâu là Exit Việt Nam.

Các bạn già của tôi mai này rong ruổi đường xa lạc loài đến vùng San Jose chợt thấy Exit Little Saigon là biết sẽ có tô phở nóng. Nếu đi thẳng đến Senter Rd quẹo trái, qua khỏi vườn Nhật thấy ngọn cờ vàng thường trực, sẽ gặp Việt Museum.

Là ta sẽ gặp nhau. giaochi12@gmail.com

*

IMG_4633

*

IMG_5889

*

 

Chuyện Về Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh  Kỳ 8

21/09/2014

  • Tác giả :
  • Philato
  • Sau đây là một số ghi nhận sau 8 kỳ đại hội, trải dài trong 9 năm. *Tổng số thu: Hơn 6 triệu đô Tin mới nhất, những lá thư tình… thương từ khắp bốn phương trời của các khán thính giả xem Đại Nhạc Hội qua TV đang dồn dập về tới Hội H.O, ngày 21/8 con số trên 7 trăm ngàn đang đứng chờ để được ghi vào sổ. Sau đây là bảng tổng kết tạm cho 8 lần tổ chức đại nhạc hội:
  • – Kỳ 1, 25/6/2006 thu $426,777, chi $47,391, còn giúp được 3,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 2, 3/8/2008, thu $ 1,013,000, chi $55,534, còn giúp được 7,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 3*, 15/7/2009, thu $688,619, giúp được 4,000 hồ sơ. (*tại Bắc CA)
  • – Kỳ 4, ngày 1/8/2010, thu $828,040, giúp được 6,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 5, ngày 7/8/2011, thu $893,947, giúp được 7,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 6, ngày 12/8/2012, thu $807,800, giúp đươc 6,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 7* tại Bắc CA, ngày 28/7/2013, thu $735,900, giúp được 5,000 hồ sơ.
  • – Kỳ 8, ngày 3/8/2014 tại Nam CA, số thu ước tính 700,000.
  • Bấm máy làm tính cộng, thấy tổng số thu 8 kỳ nhạc hội, là 6,094,083. Con số thực, chắc đã là trên 6,1 triệu (sáu triệu mốt). Những số thu kể trên chưa trừ đi số chi, mà trung bình mỗi kỳ chi từ 5-6 chục ngàn. Số hồ sơ được giúp đỡ mỗi kỳ là nằm trong số gần 20 ngàn hồ sơ TPB&QP mà hiện nay (8/2014) Hội H.O đang “take care”. Tưởng cũng nên nhắc lại là mỗi một hồ sơ QP (quả phụ) được giúp $50/1 năm (nói rõ là 50 đô la trong 1 năm)! Còn mỗi hồ sơ TB với cấp độ tàn phế nhẹ thì $100/1 năm (!), nặng như cụt chân tay, mù mắt thì $200/1 năm (!). Tất cả hồ sơ, biên lai nhận và gửi tiền đều có tại văn phòng Hội H.O, chịu sự kiểm soát của sở thuế HK và hội sẵn sàng đón nhận mọi sự kiểm soát của đồng bào, báo giới. Với số tiền giúp mỗi hồ sơ như kể trên, chúng ta hãy làm bài tính. Giả dụ trợ giúp đồng đều, mỗi hồ sơ được $100/1 năm, thì: $100 x 20,000 = 2 triệu đô la cho một năm.
  • Tổng số thu 8 năm chỉ có 6 triệu mốt như kể ở trên thì không thấm vào đâu. Để có số tiền “không thấm vào đâu” ấy thì Hội H.O đã phải đứng đầu sóng ngọn gió cùng với sự trợ giúp của đồng hương, đặc biệt là Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam CA, cùng với số thiện nguyện viên (TNV) hơn 250 người.
  • Dĩ nhiên không có các anh chị em ca nhạc sĩ và đài SBTN thì không thành đại nhạc hội được. Trong số các anh chị em nghệ sĩ ấy, những người không hát nhưng “nói” nhiều và đã làm sôi động ĐNH, dĩ nhiên khán thính giả từ gần tới xa ủng hộ nhiều hơn là nhờ các anh chị “nói nhiều” này. Đó là những MC Minh Phượng, Nguyệt Ánh, Thùy Dương, Diệu Quyên. Nam Lộc, Việt Dũng, Tân Khoa v.v…
  • Kỳ 8 này vắng Ánh&Dương thì có Thúy Anh và Ngọc Đan Thanh thay thế. Cả hai Anh-Thanh đều duyên dáng linh hoạt, nhưng vắng Việt Dũng thì không ai thay thế anh được. Việt Dũng có đến nhưng anh ngồi máy bay kéo Quốc Kỳ VNCH trên bầu trời ĐNH. MC Nam Lộc nói thế và tất cả khán thính giả đã ngước lên trời cao như cùng gửi lời chào.
  • IMG_6692
  • Cụ bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội H.O ngồi giữa những thiện nguyện viên.
  •   * Gợi ý và ví dụ Một nét đẹp trong ĐNH kỳ 8 cần phải nhắc đến, đó là sự xuất hiện lần đầu tiên của một hội đoàn học đường, hội cựu học sinh Bưởi-Chu Văn An. Ngày Thứ Bẩy 2/8, trong đồng phục với huy hiệu, các anh đã đến tiếp tay với LHCCS để xếp ghế, ngày 3/8 các anh vẫn đến và hăng hái hỗ trợ. Hằng năm Hội Liên Trường thường tổ chức họp mặt cuối năm và trong ngày họp mặt ấy, các anh chị đã cổ động và quyên góp được số tiền khá lớn để làm quà Tết tặng các anh TPB, nhưng tham dự vào ĐNH dưới danh xưng một hội học đường thì đây là lần đầu tiên.
  • Đa số các cựu học sinh Bưởi-Chu Văn An, Petrus Ký, Trần Lục, Nguyễn Trãi, Trần Quốc Toản, Taberd, v.v… là những người trực tiếp cầm súng, là TPB, là tử sĩ, là anh hùng vô danh thì việc tham gia ĐNH/TPB cũng là lẽ tự nhiên. Sẽ còn đẹp hơn, ý nghĩa hơn nếu như các chị Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Bá Tòng v.v… cũng tham gia, vì “một nửa” của các chị cũng là lính, là TPB, là anh hùng tử sĩ.
  • Đại nhạc hội được đài SBTN trực tiếp truyền hình đi khắp nước Mỹ, khán thính giả khắp nơi có thể tham dự và gọi điện thoại về ban tồ chức để ủng hộ, mọi đóng góp của khán thính giả đều được cập nhật, quý danh người ủng hộ được các MC thay nhau xướng danh. Đây là nguồn tài chánh ủng hộ quan trọng cho ĐNH. Nhưng một sức mạnh truyền thông khác cũng rất quan trọng mà mỗi người trong chúng ta chưa tận dụng, đó là internet. Mỗi hội đoàn, quân trường, học đường ngoài website chung đề thông tin, thì còn có website riêng của các khóa, các lớp, nếu chỉ gửi lời kêu gọi chung chung thì sẽ không hiệu quả mà phải thông tin, kêu gọi từng đồng môn, đồng khóa thì kết quả sẽ rất khả quan.Gian hàng Thương Binh VNCH.
  • *Điều vui hơn nữa là… Sau đây, tôi xin trích nguyên văn email của Lão Bà Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Cựu Trung Tá Không Quân, Hội Trưởng Hội H.O. “Hôm Đại Nhạc Hội kỳ 8, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh thân hành đem đê´n giao cho tôi 2 bức tranh phong cảnh để tặng cho ĐNH 8 bán đấu giá. Ngày ĐNH đem bức tranh vá cờ của anh Hạnh cho kỳ Đại Nhạc Hội 6 (mà bị một kẻ giả dố´i mua 175,000USD rồi trốn luôn), để bán đấu giá lại. Nhờ những anh chiị MC như Nam Lộc, Đỗ Tân Khoa, Minh Phượng, Thúy Anh khéo nói và tấm lòng nhiệt tình của đồng hương nên có nhiều người tham dự đấ´u giá.
  • Cuối cùng anh chị Lê Ngọc Cường ở Canada qua tham dự đã thắng bức tranh “Vá Cơ`” với giá 10,500 USD. Bức tranh kế tiếp anh Kỳ Phạm thuộc cồng đồng người Việt Buffalo, New York trả 4,500 USD. Bức thứ ba anh Dũng Cao ở New Jersey trả 4,000 USD. Anh Timothy Nguyễn ở Sacramento trả giá bức tranh “Vá Cơ`” 10,000 nên không được (tranh về tay anh chị Cường). Cảm động trước tấm lòng của đồng hương, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh có hứa sẽ tặng thêm cho ĐNH bức tranh “Vá Cờ” khác (tranh thật có chữ ký của tác giả chứ không phải tranh copie) để gửi cho anh Timothy Nguyễn với giá 5,000 USD. Như vậy, với những tác phẩm mà nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đóng góp, ĐNH 8 đã thu được 24,000 USD. Điều đáng quý là khi bán tranh cho anh Timothy Nguyễn thì tranh còn để San Jose nên vài ngày sau anh Hạnh đã đi xe đò từ SJ xuống Little Saigon mang theo bức tranh đến Hội H.O để hội gửi cho anh Timothy Điều vui hơn nữa là những ân nhân đấu giá đều là giới trẻ, rất nhiều chi phiếu ủng hộ ĐNH từ các nơi gửi về kèm theo thơ là thế hệ con em chúng ta. Thật là vui. (Ngưng trích)
  • Philato
  • Mọi hồ sơ hay ủng hộ Thương Phế Binh  xin gửi về:
  • Hội H.O Cứu Trợ Thương Phế Binh /Việt Nam Cọng a. PO BOX 25554, Santa Ana, CA 92799 Tele: 714-590-8534. 714-539-3545 or 714-371-7967*
  •  
  •  IMG_6691
  • Nhiếp ảnh gia quân đội Nguyễn Ngọc Hạnh.
  • Chúng tôi xin đưa ra vài gợi ý và thí dụ cụ thể: – Trường Bưởi-CVA, Trưng Vương, L.P.Ký, Gia Long, Bá Tòng, Lê Văn Duyệt v.v… có website của hội, vị hội trưởng gửi lời kêu gọi ủng hộ TPB chung chung lên web thì không hiệu quả bằng các bạn đồng niên khóa gửi emails cho nhau kêu gọi cùng đóng góp. – Các chị Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt… kêu gọi đồng môn ủng hộ TPB thì quá đẹp, vì các chị không là lính, nhưng nếu các chị kêu gọi các bạn đồng niên khóa, rồi tất cả gom về dưới danh xưng TV, GL, LVD ủng hộ ĐNH/TPB thì thật là tuyệt vời. – Quân Trường Thủ Đức, Võ Bị, Đồng Đế, Hải Quân, Không Quân v.v… có website chung, nhưng trong mỗi quân trường này còn có các khóa khác nhau, nếu vị Tổng Hội Trưởng chỉ gửi lời kêu gọi chung chung lên web quân trường thì không hiệu quả bằng các đồng khóa kêu gọi củng nhau đóng góp. – Tổng Hội Võ Bị kêu gọi chung yêu cầu các cựu SVSQ yểm trợ ĐNH, nhưng đại diện các khóa lại kêu gào, thúc dục các bạn đồng khóa của mình đóng góp nữa giúp hiệu quả tăng cao thêm nên tồng số thu tăng gấp đôi. Kêu gọi chung chung thì thu được 2 chục ngàn, có đại diện các khóa kêu gọi tiếp thì tổng số thu tăng lên được 4 chục ngàn (ghi chẵn).
  •  IMG_6693
  • Lều cấp cứu: BS Phạm Vũ Bằng và chị y tá Định Nguyên đang săn sóc tận tình cho một chị bị bịnh.
  • * Chuyện về những mái lều Hằng ngàn tấm hình đẹp đã được các nhiếp ảnh gia phổ biến rộng rãi trên internet. Tuy nhiên, còn một số sinh hoạt không thể thiếu trong Đại Nhạc Hội thì lại thiếu tin tức, may mà có chàng giả dạng thường dân, đi xem cho biết sự tình mới chụp được. 4/ Khu vực sau sân khấu là nơi dành riêng cho các ca nhạc sĩ, cho những ai có nhiệm vụ đặc biệt nên việc ra vào khu vực này bị hạn chế và an ninh được giao cho hội TQLC Nam CA chịu trách nhiệm.
  • Trong khu vực này có lều Y Tế để cấp cứu cấp thời cho đồng hương đến tham dự ĐNH. Túc trực trong lều, lúc nào cũng có chị y tá Định Nguyên và 4 bác sĩ gồm co QY Bùi Thế Chung, QY/TQLC Bằng Phong, bác sĩ trẻ thuộc thế hệ 2, cháu TQLC Trần Xuân Bàng là Trần Quốc Dũng Thái, và một BS nữa lo về phụ khoa (?). Hình kèm theo đây không phải là trình diễn mà BS Phạm Vũ Bằng và chị y tá Định Nguyên đang săn sóc tận tình cho một chị bị bịnh. Tuy nhiên vị bác sĩ lo về “phụ khoa” thì không có bệnh nhân.
  • Trước khi bước vào lều Y Tế, các Quân Y này đã ghé qua lều ủng hộ để ký tên, tôi thấy có chi phiếu ghi 4 con số của QY Bằng Phong. Ước mong tất cả các “thầy” vẫn cứ thương TPB như ngày xưa trên chiến trường, các thầy đã dùng dao kéo đấu với lữơi hái của tử thần để giữ mạng sống cho TPB. Nhân tiện nói về lều Y Tế, tôi xin đề nghị các bác sĩ và ban tổ chức, kỳ tới nên dựng lều Y Tế ở nơi dễ thấy nhất để ai cần thì dễ dàng ra vào “khám bác sĩ”.
  • Còn vấn đề ăn uống cho khán giả và các TNV thì sao? Sau sân khấu, gần lều Y Tế, có một gian hàng cung cấp thực phẩm free cho các anh chị em nghệ sĩ do Thiên Nga Trần Thanh Thủy và các chị thuộc hội TQLC phụ trách. Ngay cổng ra vào có 2 gian hàng do HQ Đặng Thanh Long phụ trách tổng quát với số “nhân viên” khoảng 50 người. Hội H.O ứng trước 2 ngàn và các mạnh thường quân ủng hộ để các anh chị đi mua thực phẩm về chế biến thành các món ăn để chiêu đãi free cho các TNV và bán cho khách. Chị Vương Thục, chị TTSS Minh cùng nhiều chị phụ trách gian hàng “Thương Binh VNCH” để bán cho khán giả, sau khi trừ đi $2 ngàn do hội H.O ứng trước, gian hàng đã kiếm được $3,500 tiền lời giao cho Hội H.0, chưa kể số tiền túi các chị ủng hộ cho ĐNH Lều Thực Phẩm do hai chị Lệ-Chiêu làm đầu bếp chính với hơn 10 bếp phụ để lo vấn đề ăn uống cho các TNV. Long-Lệ nói: – Chúng tôi cung cấp free 3 bữa ăn sáng, trưa, chiều cho 250 TNV gồm trái cây, nước ngọt cafe “ta-bấc” đen, sữa, ph?n ăn gồm cari bnh mì, soup noodle, g?i g v.v… Không cần nói thêm bất cứ chi tiết nào nữa về công sức của các anh chị trong các gian hàng này, các anh chị đã vắt mồ hôi để âm thầm chuẩn bị cả tháng trước, không cần ai biết đến. Kẻ góp công người góp của, nhưng các chị phụ trách các gian hàng đã góp tất cả: “công & của”.
  • Một người ít ai biết tên nhưng lại phụ trách phần quan trọng nhất là dựng 5 dẫy lều lớn cho ngàn ngàn khán giả ngồi, dựng sân khấu, thuê ghế ngồi và các toilet v.v… đây là công việc khó, cần thuê “chuyên viên” hơn là thợ vịn, nhưng anh đã vận động chuyên viên “ngoại quốc” giúp free, tôi chỉ biết người ta gọi anh là Cang, tôi không quen biết anh, tôi không tìm ra tấm hình nào có anh. Công việc của các gian hàng, của Liên Hội CCS, của anh Cang là góp phần làm giảm chi tối đa cho ĐNH. Một dãy lều trắng cuối bãi cỏ, ngay lối vào, làm nơi trú nắng, nghỉ ngơi, có tấm bảng ghi: “dành riêng cho phụ nữ, trẻ em và người già”, dãy lều này do anh Hoàng Sinh thực hiện một mình.
  • Hoàng Sinh là ai? Trong những lần tổ chức ĐNH/TPB, nếu ai đi ngang khu chợ ABC trên đường Bolsa, sẽ thấy 2 lá cờ Việt-Mỹ tung bay, kế đó là bàn bán vé ĐNH của Hoàng Sinh. Anh trụ tại đây gần 2 tháng trời trước đại hội, từ 6 giờ sáng (treo cờ và chào cờ) rồi bán vé cho tới 8 giờ tối. Số vé anh bán được từ 3 tời 4 ngàn vé (10$/1 vé). Cung cách mời khách và bán vé của anh hết sức lịch sự, quân phục chỉnh tề, chào mời bất cứ ai đi ngang. Anh còn in các CD nhạc đấu tranh của Việt Khang để tặng người mua vé. Trên bàn bán vé luôn có nhang đốt để nhớ đến anh linh các chiến sĩ, cầu xin hồn thiêng sông núi giúp anh bán được nhiều vé cho ĐNH/TPB. Ngoài sự thờ ơ không màng gì đến lời chào của một số “tim sắt”, anh còn bị thách thức bởi sự khiêu khích, phá thối của một số tay sai VC. Tôi đứng bên anh mà còn nóng mặt, nhưng anh bình tĩnh, vô cùng bình tĩnh đối đáp, anh như “cây tùng trước bão”, anh như người lữ hành cô độc mặc cho đàn cẩu trệ quấy rầy. Chúng tôi bái phục anh, anh Nhẩy Dù Hoàng Sinh.
  •  IMG_6690
  • Thiếu Sinh Quân Phan Ngọc Lượng, chủ tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ cùng các thành viên trong Liên Hội trình diện trên khán đài.

IMG_5591

IMG_5753

IMG_5852

Hội H.O. Cứu Trợ Thuong Phe Binh & Qua Phu / Viet Nam Cong Hoa

*

Monday, March 31, 2014 2:49:03 PM

IMG_4127

IMG_5684

*

Hội H.O. Cứu Trợ Thuong Phe Binh & Qua Phu/Viet Nam Cong Hoa

(Disabled Veterans and Widows Relief Association)

A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492

P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799

Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967

Email:

thuongphebinh_vnch@yahoo.com; hanhnhonnguyen@yahoo.com

Website:

http://www.camonanhtb.com

Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

*

IMG_5889

068

IMG_5882

IMG_5873

IMG_5591

*

Hải ngoại không quên tình chiến sĩ Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh

Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội: (Tính đến ngày 23 tháng 3, 2014)

BS Bùi Trịnh, Yorba Linda, CA $2,000

Khâu Muội, San Diego, CA $20

Gia Ðình ÔB. Bích Dung và các con cháu, Stanton, CA $150

Bà Vũ Văn Hồng c/o Kim Oanh Vũ, Tulsa, OK $612 (để giúp 6 TPB theo danh sách của Bà)

Tony Nguyễn, Westminster, CA $50

Sương Võ, Dallas, TX $50

Ðinh Thị Tuyết, San Jose, CA $40

An D. Hoàng, Midlothian, VA $40

Cô Liên Lê, La Puente, CA $30

Wessel Day Spa, Paso Robles, CA $25

Thuận Dương, Houston, TX $6

Danh sách Thương Phế Binh/Viet Nam Cong Hoa đã được giúp đỡ:

Nguyễn Văn Phương, Ðồng Nai, HS CLQ Sq:102.322. Bị thương ở đầu, mặt.

Nguyễn Hữu Tăng, Ðồng Nai, NQ Sq:108.950. Cụt chân trái. Gãy chân phải.

Ðinh Bá Khách, Ðồng Nai, NQ Sq:238.504. Bị thương ở chân phải.

Trần Văn Tâm, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:309.274. Cụt chân phải.

Nguyễn Ðức Chúc, Ðồng Nai, Nhảy Dù Sq:190.581. Liệt chân phải. Cụt bàn chân phải.

Hồ Sâm, Ðồng Nai, TS CLQ Sq:215.187. Gãy chân trái.

Nguyễn Văn Triệu, Ðồng Nai, Nhảy Dù Sq:127.057. MDVV 45%.

Nguyễn Trực, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:117.039. Nội Thương. Cả nhà bị Việt Cộng giết.

Ðỗ Sửu, Ðồng Nai, HS ÐPQ Sq:025.748. Liệt tay phải. Hoàng Mua, Ðồng Nai, NQ Sq:145.296. Mù mắt trái.

Nguyễn Trí Tuệ, Ðồng Nai, CLQ Sq:808.142. Bị thương ở vai trái.

Trần Văn Dậm, Ðồng Nai, ÐPQ Sq:542.887. Cụt chân phải.

Phan Phú Ðịnh, Ðồng Nai, CLQ Sq:132.958. Cụt chân trái.

Nguyễn Văn Ký, Ðồng Nai, CLQ Sq:104.688. Gãy tay trái.

Lê Giai, Ðồng Nai, HS1 CLQ Sq:200.730. Cụt chân phải.

Nguyễn Khương, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:200.325. Cụt chân trái.

Quách Văn Tấn, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:111.887. Liệt tay trái. Bị thương ở bụng.

Phạm Văn Phước, Ðồng Nai, ÐPQ Sq:771.392. Cụt chân phải.

Hoàng Văn Quang, Ðồng Nai, TQLC Sq:105.151. MDVV 50%.

Lê Văn Sạn, Ðồng Nai, CLQ Sq:210.290. Cụt bàn chân trái.

Hồ Văn Quang, Ðồng Nai, NQ Sq:406.396. Cụt chân phải.

Võ Bảo, Ðồng Nai, TS CLQ Sq:201.236. Cụt chân trái.

Nguyễn Văn Lý, Ðồng Nai, CLQ Sq:206.871. Cụt chân phải.

Lê Tuy, Ðồng Nai, TS1 CLQ Sq:201.102. Cụt chân phải.

Nguyễn Hữu Vinh, Ðồng Nai, TS1 CLQ Sq:201.634. Liệt tay trái. Bị thương ở mặt.

Trần Hồng Sang, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:100.649. Gãy tay phải. Bị thương ở bụng.

Lê Văn Thảo, Ðồng Nai, B2 CLQ Sq:201.816. Cụt chân phải.

Nguyễn Ðình Cách, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:120.727. Cụt chân phải.

Ðỗ Văn Gạo, Ðồng Nai, Biệt Kích. Gãy tay phải. Gãy chân phải.

Hồ Hiền, Ðồng Nai, B2 CLQ Sq:205.147. Cụt tay phải.

Võ Văn Viên, Ðồng Nai, TrU CLQ Sq:140.378. Bị thương ở chân trái.

Hoàng Ðức Long, Ðồng Nai, TU CLQ Sq:413.500. Cụt chân trái.

Trần Văn Ðiệu, Ðồng Nai, HS BÐQ Sq:121.331. Cụt chân trái.

Nguyễn Quang Dung, Ðồng Nai, CLQ Sq:123.601. Cụt chân phải.

Nguyễn Văn Thư, Ðồng Nai, BÐQ Sq:119.068. Cụt chân trái.

Nguyễn Tấn Hy, Ðồng Nai, ÐPQ Sq:222.252. Liệt tay trái. Liệt chân trái.

Huỳnh Tri, Ðồng Nai, HS CLQ Sq:406.039. Cụt chân trái.

Chế A Pầu, Ðồng Nai, HS1 Biệt Kích. Cụt chân trái.

Phạm Xuân Nhất, Ðồng Nai, TU TQLC Sq:140.085. Cụt chân phải.

Lê Văn Muôn, Ðồng Nai, NQ Sq:348.288. Cụt chân phải.

Nguyễn Văn Dã, Vĩnh Long, B2 ÐPQ Sq:693.989. Cụt chân trái.

Trần Văn Còn, Vĩnh Long, NQ Sq:424.361. Cụt chân phải.

Trần Văn Tiến, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:305.299. Liệt chân trái.

Nguyễn Văn Bằng, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:188.632. Gãy tay phải.

Trần Văn Hiềm, Tây Ninh, TS ÐPQ Sq:425.170. Cụt chân trái.

Phan HIền Sĩ (Phòng), Tây Ninh, TS CLQ Sq:130.056. Cụt chân phải. Gãy chân trái.

Lê Văn Lưỡng, Tây Ninh, TS CLQ Sq:110.126. Bị thương ở đầu gối trái.

Võ Ngọc Mỹ, Tây Ninh, B1 BÐQ Sq:105.756. Cụt chân trái.

Hồ Văn Trảng, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:246.034. Gãy chân phải.

Nguyễn Văn Ðưa, Tây Ninh, NQ Sq:309.606. Cụt tay trái.

Nguyễn Văn Gòn, Tây Ninh. TS BÐQ Sq:132.932. Cụt chân phải.

Nguyễn Văn Phong, Tây Ninh, B2 ÐPQ Sq:491.993. Cụt bàn chân trái.

Cao Văn Sang, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:137.938. Cụt chân trái. Liệt tay trái.

Trần Văn Ðược, Tây Ninh, Sq:313.934. ???

Nguyễn Văn Chuyên, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:804.089. Cụt chân phải.

Trần Văn Ðức, Tây Ninh, Biệt Kích. Cụt chân trái.

Ðặng Ðức Khánh, Tây Ninh, TS1 ÐPQ Sq:183.578. MDVV 50%.

Phạm Kim Ngọc, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:133.543. Bị thương ở chân trái.

Lâm Vy Hưởng, Tây Ninh, CSQG Sq:114.012. Cụt chân trái.

Ðỗ Văn Nhiên, Tây Ninh, BÐQ Sq:123.834. Cụt chân phải.

Mã Hòa, Tây Ninh, TQLC Sq:130.858. Cụt chân trái.

Phan Công Tánh, Tây Ninh, HS Nhảy Dù Sq:121.390. Mù mắt phải.

Nguyễn Văn Nói, Tây Ninh, TS CLQ Sq:104.976. Cụt chân phải.

Võ Văn Bước, Tây Ninh, Biệt Kích. Liệt tay trái.

Huỳnh Ngọc Sáu, Tây Ninh, B2 Nhảy Dù Sq:124.275. Cụt bàn tay trái.

Bùi Văn Giấm, Tây Ninh, HS ÐPQ Sq:502.627. Cụt chân trái.

Nguyễn Văn Ðũa, Tây Ninh, NQ Sq:346.542. Cụt chân trái.

Trần Văn Phụng, Tây Ninh, HS ÐPQ Sq:439.771. Cụt chân trái.

Ðỗ Thái Hòa, Tây Ninh, B1 CLQ Sq:802.646. Cụt chân phải.

Ðặng Công Cảnh, Tây Ninh, HS CLQ Sq:103.569. Mù mắt phải.

Huỳnh Văn Thàng, Tây Ninh, HS ÐPQ Sq:805.593. Cụt tay trái.

Nguyễn Văn Thành, Tây Ninh, B1 CLQ Sq:137.118. Mù mắt trái.

Nguyễn Văn Khoa, Tây Ninh, B2 ÐPQ Sq:775.102. Cụt bàn chân trái.

Trần Ngọc Diệp, Tây Ninh, HS CLQ Sq:827.070. Gãy chân trái.

Ngô Văn Sáu, Tây Ninh, HS1 CLQ Sq:103.794. Bị thương ở đầu và mặt.

Hồ Văn Cao, Tây Ninh, HS ÐPQ Sq:478.556. Cụt chân trái.

Lê Văn Thảo, Tây Ninh, NQ Sq:346.565. Cụt chân phải.

Bùi Ðức Hiệp, Tây Ninh, ChU CLQ Sq:152.023. Bị thương ở mặt.

Phạm Văn Bén, Ðồng Nai, HS ÐPQ Sq:202.623. Liệt tay trái. Gãy tay phải.

Phan Long Pháp, Ðồng Nai, ÐPQ Sq:705.574. Gãy tay trái. Bị thương ở bụng.

Ðặng Văn Ðê, Ðồng Nai,HS ÐPQ Sq:309.502. Mù mắt phải. Bị thương ở đầu.

Nguyễn Thùy, Ðồng Nai, B2 ÐPQ Sq:875.859. Gãy chân trái.

Thân Văn Hạ, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:110.725. Gãy tay phải. Phạm Văn Bích, HS1 Nhảy Dù Sq:175.613. Bị thương ở mông trái.

Phạm Ðại Nghiệp, Ðồng Nai, HS CLQ Sq:150.711. Mù mắt trái. Nguyễn Ngọc Hà, Ðồng Nai, CLQ Sq:159.996. Cụt chân trái.

Lý Hồng Minh, Ðồng Nai, HS BÐQ Sq:112.452. Gãy chân trái. Nguyễn Văn Là, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:412.911. Cụt chân trái.

Võ Ngọc Doanh, Ðồng Nai, HS CLQ Sq:217.858. Bị thương ở chân trái.

Diệp Tài, Ðồng Nai, B2 CLQ Sq:121.630. Cụt tay trái.

Nguyễn Văn Hoành, Ðồng Nai, HS1 ÐPQ Sq:712.434. Cụt chân trái. Nguyễn Viết Tỵ, Ðồng Nai, B1 CLQ Sq:127.754. Cụt chân trái.

Nguyễn Văn Cách, Vĩnh Long, B2 ÐPQ Sq:736.418. Cụt Ệ bàn chân trái.

Nguyễn Ngọc Hà, Ðồng Nai, CLQ Sq:159.996. Cụt chân trái.

Ðỗ Văn Khắc, Bà Rịa-Vũng Tàu, B1 ÐPQ Sq:143.218. Cụt tay phải. Nguyễn Xoài, Bà Rịa-Vũng Tàu, B1 ÐPQ Sq:465.635. Cụt bàn chân trái.

Phan Văn Huệ, Bà Rịa-Vũng Tàu, HS ÐPQ Sq:536.885. Cụt chân trái.

Nguyễn Văn Hồng, Bà Rịa-Vũng Tàu, B1 CLQ Sq:125.452. Cụt chân phải.

Nguyễn Tươi, Bà Rịa-Vũng Tàu, CLQ Sq:908.089. Mù mắt trái.

Trần Quốc Toại, Bà Rịa-Vũng Tàu, ??? Cụt chân phải. Trần Tám, Bà Rịa-Vũng Tàu, CLQ Sq:201.203. Gãy tay phải.

Nguyễn Văn Bạch, Bà Rịa-Vũng Tàu, B2 TQLC Sq:702.374. Liệt chân tay phải.

Bùi Ngọc Hướng, Bà Rịa-Vũng Tàu, B2 ÐPQ Sq:467.235. Cụt chân phải.

Nguyễn Văn Ðiền, Bà Rịa-Vũng Tàu, CBPTNT. Bị thương ở ngực, bụng. Liệt tay phải.

Lê Tác, Bà Rịa-Vũng Tàu. ??? Mù mắt trái. Bị thương ở đầu.

Nguyễn Hậu, Bà Rịa-Vũng Tàu, HS CLQ Sq:202.726. Bị thương ở mặt.

Trần Văn Mưu, Bà Rịa-Vũng Tàu, NQ Sq:321.462. Bị thương ở bụng.

Trần Văn Cang, Bà Rịa-Vũng Tàu, HS CLQ Sq:157.044. Bị thương ở đầu và 2 chân.

Vũ Ðình Xứng, Bà Rịa-Vũng Tàu, NQ Sq:E04.197. Cụt chân trái.

Cao Văn Phát, Bà Rịa-Vũng Tàu, ??? Gãy 2 tay.

(còn tiếp)

Danh sách Quả Phụ/Viet Nam Cong Hoa đã được giúp đỡ:

Ðặng Thị Ðẹp, Bà Rịa-Vũng Tàu, QP Cố HS1 Nguyễn Liêm. Tử trận năm 1972.

Dương Thị Mót, An Giang, Mẹ Cố B2 Lê Văn Khả. Tử trận năm 1970.

Phạm Thị Hai, Ninh Thuận, QP Cố B2 Trần Thanh. Mất tích năm 1973.

Trương Thị Sen, Thừa Thiên, QP Cố TS1 Nguyễn Văn Phúc. Tử trận năm 1971.

Phan Thị La, Khánh Hòa, Mẹ Cố B2 Nguyễn Văn Tịnh. Mất tích năm 1974.

Nguyễn Thị Bê, Long An, Mẹ Cố HS Trần Văn Mới. Tử trận năm 1972. Nguyễn Thị Tình, Bến Tre, QP Cố TrU Tăng Vĩnh Triều. Tử trận năm 1972.

Tsu Man Mui, Saigon, QP Cố ThS Lương Bắc Trọng. Tử trận năm 1970.

Lê Thị Tri, Bà Rịa-Vũng Tàu, QP Cố HS Huỳnh Lý. Tử trận năm 1969.

Nguyễn Thị Ðào, Ðồng Nai, QP Cố B1 BÐQ Trần Văn Ðược. Tử trận năm 1961.

Nguyễn Thị Lụt, Bình Thuận, QP Cố HS Phan Túy. Tử trận năm 1973.

Nguyễn Thị Ân, Saigon, Mẹ Cố B1 Ngô Xuân Lý. Tử trận năm 1973.

Nguyễn Thị Vân, Saigon, QP Cố ChU Nguyễn Văn Quang. Tử trận năm 1966.

Nguyễn Thị Ất, Saigon, QP Cố ThT Lê Văn Xuân. Tử trận năm 1975.

Trần Thị Cúc, Bến Tre, QP Cố ThS Nguyễn Văn Dương. Tử trận năm 1972.

Phạm Thị Hai, Bạc Liêu, QP Cố TS1 Vưu Tấn Liêm. Tử trận năm 1968.

Dương Thị Hỏi, Thừa Thiên, QP Cố B2 Ngô Ðức Tâm. Tử trận năm 1967.

Trần Thị Phức, Ðồng Nai, QP Cố HS1 Trần Văn Mẫn. Tử trận năm 1968.

Trần Thị Mỹ Lệ, Bến Tre, QP Cố B2 Trần Văn Ngãi. Tử trận năm 1968.

Nguyễn Thị Thay, Ðồng Nai, QP Cố B2 Tô Văn Lang. Tử trận năm 1974.

Nguyễn Thị Mến, Tiền Giang, QP Cố NQ Nguyễn Văn Hai. Tử trận năm 1972.

Ngô Thị Thọ, Ninh Thuận, QP Cố ThS Lê Khắc Dương. Tử trận năm 1972.

Nguyễn Thị Biên, Bình Ðịnh, QP Cố B2 Trần Vân. Tử trận năm 1967.

Phạm Thị Ràng, Saigon, QP Cố B1 Lư Văn Lèo. Tử trận năm 1972.

Nguyễn Thị Thơ, Ðồng Nai, QP Cố B2 Nguyễn Văn Chuyên. Tử trận năm 1966.

Võ Thị Hồng Anh, Long An, QP Cố TS1 Nguyễn Kim Hưởng. Tử trận năm 1970.

Phạm Thị Cẩm Hương, An Giang, QP Cố B1 Nguyễn Văn Hai. Tử trận năm 1970.

Lê Thị Hảo, Khánh Hòa, QP Cố B1 Nguyễn Luyện. Tử trận năm 1965.

Lê Thị Tham, Khánh Hòa, QP Cố TS Hồ Ngọc Tảo. Tử trận năm 1962.

Nguyễn Thị Huệ, Khánh Hòa, QP Cố NQ Nguyễn Hào. Tử trận năm 1966.

Nguyễn Thị Thanh, Khánh Hòa, QP Cố HS Nguyễn Thế. Tử trận năm 1961.

Lê Thị Cầu, Khánh Hòa, QP Cố TS Nguyễn Dai. Tử trận năm 1972.

Võ Thị Chua, Huế, QP Cố TS Lê Minh. Tử trận năm 1972.

Hàng Thị Miêu, Thừa Thiên, QP Cố B2 Trương Tân. Mất tích năm 1972.

Lê Thị Túy, Thừa Thiên, QP Cố NQ Ðặng Hồi. Tử trận năm 1968.

Lê Thị Cúc, Bà Rịa-Vũng Tàu, QP Cố TS Phan Chánh. Tử trận năm 1967.

Nguyễn Thị Kim Tuyết, Bà Rịa-Vũng Tàu, QP Cố B2 Huỳnh Chàng. Tử trận năm 1970.

Nguyễn Thị Trung, Bà Rịa-Vũng Tàu, QP Cố NQ Nguyễn Tri Phương. Tử trận năm 1972.

Nguyễn Thị Ngời, Kiên Giang, QP Cố NQ Phạm Văn Thi. Tử trận năm 1972.

Ðặng Thị Phó, Ðồng Nai, QP Cố B2 Trần Hữu. Tử trận năm 1965.

Phan Thị Hòe, Lâm Ðồng, QP Cố CCBXDNT Hồ Thanh Yên. Tử trận năm 1969.

Nguyễn Thị Gấm, Khánh Hòa, QP Cố TS Hoàng Khuyên. Tử trận năm 1973.

Ðoàn Thị Chua, Thừa Thiên, QP Cố HS1 Hồ Ðắc Diệp. Tử trận năm 1970.

(còn tiếp)

IMG_4865

IMG_5701

IMG_5591

IMG_4861

 

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Kể Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa: Tướng Phú Và Vụ Rút Bỏ Ban Mê Thuột Đường Mòn 7B: 20,000 Dân Bị Tàn Sát

05/04/201400:00:00

*

LTS. Pierre Darcourt là một nhà báo người Pháp đã sống từ lúc khởi đầu cho đến hồi kết cuộc của chiến tranh Việt Nam. Ông sinh năm 1926 tại Saigon, từng theo học tại Đại Học Luật Khoa Hà Nội trước 1945. Khi Nhật đảo chính Pháp tháng 3-1945, ông tham gia lực lượng du kích chống Nhật tại Đông Dương, sau đó gia nhập binh chủng Nhảy Dù Pháp.

Sau khi giải ngũ năm 1954, ông trở lại đại học rồi thành một nhà báo danh tiếng. Suốt Tháng Tư 1975, nhà báo Pierre Darcourt có mặt tại Sàigon, trực tiếp gặp và nghe nhiều điều riêng tư, từ các cấp thẩm quyền quân dân sự miền Nam, như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, lãnh tụ Ngiệp đoàn Trần Quốc Bửu, tới…. Bà Ngô Bá Thành thủ lãnh phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống.

Ông cũng sát cánh với các đơn vị VNCH giờ chót tại các phòng tuyến ven đô cho tới ngày cuối cùng và chỉ rời khỏi Saigon vào buổi trưa 29 tháng 4 năm 1975. Những ngày giờ cuối cùng của VNCH được Pierre Darcourt viết thành sách “Vietnam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils” do Editions Albatros, Paris xuất bản.

Sau đây là một số sự ghi nhận của nhà báo Pháp đặc biệt này, được lược trích theo bản dịch Việt ngữ “Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên” của Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, do Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành. Những tựa nhỏ cho các trích đoạn do toà báo đặt them.

*   Trường hợp Tướng Nguyen Van Phú

Thứ hai, 7 tháng Tư 75 Đại Tá Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng Tham Mưu QLV NCH, một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân Sơn Nhứt, nơi có rất nhiều ăng-ten và có Thiết Giáp canh gác. Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng. Đại Tá Khôi, một cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt, được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao lớn mảnh khảnh mặt đầy vết thẹo vì ông đã đạp phải mìn năm 1970. Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ Hải Quân ở Cam Ranh để có một buổi họp kín của Hội Đồng Quân sự.

Có 5 tướng lãnh hiện diện trong buổi họp: Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Khiêm – Thủ tướng Chánh Phủ, Tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, Tướng Đặng Văn Quang – Cố vấn quân sự của Tổng Thống và Tướng Phú – Tư lệnh Vùng II Chiến Thuật. Sau một cuộc bàn cãi, tất cả tướng lãnh hiện diện trong buổi họp nầy đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố nằm về hướng Bắc của Vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku.

Kế hoạch được soạn thảo nầy dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng duyên hải và từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban Mê Thuột. Không có ấn định chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku……” Đại Tá Khôi bất thình lình ngưng nói, xoa hai bàn tay khô cằn của ông ta, sau đó mới tiếp tục một cách trịnh trọng: – Điểm sau cùng nầy mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn trong số năm vị tướng lãnh hiện diện đều nghĩ rằng cuộc triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết thúc vào tuần lễ chót của tháng 3.

Vị tướng lãnh thứ năm là Tướng Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân nầy, là một sĩ quan có một dĩ vãng quân sự hào hùng, tuy rằng ông đã đi lên từ hàng binh sĩ. Đã từng lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh Sư Đoàn tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đã từ lâu rồi ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vầy, nghĩa là một trong những cuộc điều quân khó khăn nhất trong các phép dụng binh trong lịch sử chiến tranh”

Tôi quan sát rất kỹ Đại Tá Khôi. Thình lình tôi có cảm tưởng khó chịu là hình như ông ta đang cho tôi một bài “diễn văn” đã được soạn sẵn từ trước. Tôi không muốn ngắt ngang ông ta. Tôi cần phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sắp sửa đến phần kết luận rồi.Và Đại Tá Khôi nói tiếp: “Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, Tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh quân đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay vào sáng sớm hôm sau.

Vào lúc rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng của hai tỉnh Kontum và Pleiku đã vội vã rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại tại chỗ hàng chục triệu Mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người và xe qua quốc lộ 19 rồi mới vào con đường 7 B. Trên con đường 7 B nầy vốn chỉ là một con đường mòn được trải đá sơ sài, tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời.

Khi các xe vận tải nặng và các xe thiết giáp đi qua rồi thì các đường nước trở thành những vũng sình lầy lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và tắc nghẽn lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước và đi sau 200.000 dân tị nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của sư đoàn 320 Bắc Việt. Hai chục ngàn dân (20.000) bị tàn sát, 500 xe đủ loại bị phá hủy, tất cả biến cuộc triệt thoái nầy thành một cuộc tháo chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nỗi kinh hoàng khó tả trong dân chúng…

IMG_5432

Đại Tá Khôi đứng dậy và đi vòng bàn viết của ông ta, điều nầy có nghĩa là buổi nói chuyện của chúng tôi đã chấm dứt. Tôi khẳng định là những tin tức mà ông đã nói với tôi hôm nay chỉ đúng sự thật có một phần nào thôi, nhưng chắc chắn không phải là tất cả sự thật. Cái lối giải thích để làm giảm nhẹ đi phần nào trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu nó không đúng với tính tình của các nhân vật trong câu chuyện..

Tôi rất muốn nói với Đại Tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn đi ra ngoài luận cứ “chánh thức” mà ông đã cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi ông ta:

“Xin Đại Tá chỉ giùm tôi có thể đi gặp Tướng Phú ở chỗ nào được ?

Gương mặt ông ta lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời cụt lủn của ông ta làm tôi hết sức ngạc nhiên:

“Tướng Phú đã bị phạt giam, và không thể tiếp ai được hết”

Tôi từ giã Đại Tá Khôi.Nhưng trước khi rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi gặp Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, Tướng Nam đã đồng ý gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn lúc ông ghé lại Mỹ Tho.

Cuộc nói chuyện của tôi với Đại Tá Khôi làm tôi đau đầu. Hình ảnh mà ông ta đã tả cho tôi về một Tướng Phú già nua, suy nhược, không còn đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều quân, thực tình không đứng vững.

Thật vậy, tôi chỉ không gặp Tướng Phú có sáu tháng, nhưng tôi biết ông ta cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi vẫn biết ông ta chỉ còn có một lá phổi. Nhưng dù là nhỏ con ốm yếu nhưng với 49 tuổi đầu, ông là một người dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đôi với binh sĩ của mình và cũng cứng rắn đối với bản thân, dẽo dai, mưu lược và giỏi về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.

Ở Điện Biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận, ông đã tạo được lịch sử của ông rồi. Ngày 30 tháng 3 năm 1954, lúc Việt Cộng đánh một trận chiến đẫm máu ở 5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bọn bộ đội đã gọi hỏi nhau ơi ới: “Thằng Phú đâu rồi ? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe !” Ông ta không rơi vào tròng của quân Bắc Việt và liên tiếp mở hết cuộc phản công nầy đến trận phản công khác.

Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất khắt khe. Với một người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đã ban hành, ông cho cột chân tay người đó vào hàng rào kẽm gai. Mặc dầu luôn luôn bị pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống phòng ngự đầy hố tác chiến trên đồi Elian 1 của ông đã giúp ông cầm cự suốt nhiều tuần lễ, đẩy lui tất cả cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước khi cứ điểm bị thất thủ, ông còn oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị súng không giật 57 ly, đã kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một tiểu đoàn Việt Cộng trên sườn đồi, buộc chúng phải rút lui với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ thật chính xác.

Ông đã sống sót được sau 18 tháng bị bắt giam trong một trại tẩy não Cộng Sản ở Thượng Du Bắc Việt, mà không hề chấp nhận phải ký một bản “thú tội” hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài Gòn đã tranh đấu với phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic lúc bấy giờ để đòi Bắc Việt phải trả tự do cho ông.

Từ khi ông được trở về Nam, ông Phú đã tham gia tích cực vào cuộc chiến. Nhất là ở Lào, năm 1971, lúc ông là tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ông đã giúp cho một đoàn xe thiết giáp của Miền Nam thoát được một sự thảm bại trông thấy, trên đường rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp nầy đang bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, Tướng Phú đã không ngần ngại đi xuyên qua rừng tìm địch để cuối cùng bẻ gãy được gọng kềm của địch sau 3 ngày tác chiến vất vả có đôi lúc phải đánh xáp lá cà với địch.

Vào tháng 5 năm 1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc Việt vào Huế, Tướng Phú đã cùng Đại Tá Dickinson đưa tôi đi thanh sát bằng trực thăng ngay trên vùng Việt Cộng. Khi phải cố gắng đáp xuống một mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, chiếc trực thăng của chúng tôi bị trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng phía trước và gãy mất một chân càng.

Như có một phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được và Tướng Phú đã bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một vòng khi ông nói rằng “tôi muốn cho cả Việt Cộng và binh sĩ của tôi biết rằng tôi hãy còn sống.” Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện nầy và tôi không bao giờ tin rằng Tướng Phú tự nhiên lại mất bình tĩnh đến độ phải cho lệnh triệt thoái một cách vội vã vô trật tự như vậy để cuối cùng phải đi đến một thảm trạng như thế. Phải chăng vì tôi biết về ông ta quá nhiều, hay vì ông ta là bạn của tôi?

Kỳ tới: Gặp riêng với Tướng Nguyễn Khoa Nam

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Viết Về Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà: 7-4-1975, Gặp Tướng Nguyễn Khoa Nam Nghe Chuyện TT. Thiệu Và Tướng Phú

06/04/201400:00:00

*

LTS. Suốt Tháng Tư 1975, nhà báo Pierre Darcourt có mặt tại Sàigon, trực tiếp gặp và nghe nhiều điều riêng tư, từ các cấp thẩm quyền quân dân sự miền Nam, như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, lãnh tụ Ngiệp đoàn Trần Quốc Bửu, tới…. Bà Ngô Bá Thành thủ lãnh phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống. Ông cũng sát cánh với các đơn vị VNCH giờ chót tại các phòng tuyến ven đô cho tới ngày cuối cùng và chỉ rời khỏi Saigon vào buổi trưa 29 tháng 4 năm 1975.

Những ngày giờ cuối cùng của VNCH được Pierre Darcourt viết thành sách “Vietnam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils” do Editions Albatros, Paris xuất bản.

Sau đây là một số sự ghi nhận của nhà báo Pháp đặc biệt này, được lược trích theo bản dịch Việt ngữ “Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên” của Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, do Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành.

Tựa đề các trích đoạn do toà báo đặt.

*

Thiếu Tướng Nam mừng rỡ nắm chặt lấy tay tôi lắc thật mạnh và tiếp tôi trong văn phòng của vị tỉnh trưởng, Người quân nhân Nhảy Dù nầy năm nay 48 tuổi, nước da đen sạm, với gương mặt luôn luôn cảm hóa mọi người, ông đã qua các trường đào tạo “mũ đỏ” của người Pháp và được người Mỹ huấn luyện về chiến thuật trực thăng vận.

Ông là người quân nhân duy nhất thuộc một gia đình quí tộc danh tiếng ở Huế, gồm toàn các cụ đồ nho và quan lại của triều đình. Ở con người ông, nổi bật nhất là tướng người vạm vỡ, cầm vuông rõ nét của một con người thượng võ.

Đến giờ nầy ông vẫn sống độc thân không hối tiếc (điều nầy bảo đảm cho tính thanh liêm trong sạch của ông ở một đất nước mà các bà thường mượn uy quyền và địa vị của các ông chồng để làm ra tiền), và ông chỉ thấy vui vẻ thoải mái khi được sống giữa hàng binh sĩ và các đơn vị tác chiến của ông.

Người bạn thân nhất của ông là Đại Tá Ninh (một “mũ đỏ” khác được đào tạo ở trường Nhảy Dù Pau, Pháp) một sĩ quan mảnh khảnh với bộ râu mép ngạo mạn, người đã cùng ông với đạo quân tiếp viện của mình bẻ gãy vòng vây An Lộc, một trận Verdun của Miền Nam Việt Nam.

– Sao?

Thiếu Tướng Nam vừa cười lớn lên vừa nói với tôi,

Anh muốn xuống đây kiếm tôi, chỉ vì các tay trên Tổng Tham Mưu không chịu nói sự thật với anh chớ gì?

– Anh Nam ơi, tôi chỉ xuống đây để được biết tin tức thôi.

– Được rồi, Chúng ta hãy nói chuyện về Vùng IV của tôi. Đường sá luôn luôn được mở sạch sẽ để cho lưu thông được an toàn, và Việt Cộng không phải là chủ ở đây. Các đơn vị Bảo An và Dân Vệ của tôi giữ chặt lãnh thổ, điều nầy cho phép tôi điều động hoàn toàn 3 sư đoàn chánh quy của tôi trong các cuộc đụng độ mạnh với các đại đơn vị Cộng Sản Bắc Việt đang muốn xâm nhập vào đây từ phía Cam Bốt. Hôm qua, chúng tôi có “sơi” một trung đoàn thuộc sư đoàn 4 bộ binh Bắc Việt ở Phú Sơn. Hôm nay họ bị dồn về phía trước các hãng đường ở Đức Hòa rồi. Chúng tôi đã tịch thu hơn một trăm vũ khí nặng, súng không giật, súng phóng hỏa tiễn, bách kích pháo và cả một số súng liên thanh phòng không.

– Sau thảm trạng ở miền Trung, thật sự quân lực VNCH còn bao nhiêu lực lượng khả dụng?

– Còn được 7 sư đoàn với quân số đầy đủ: 6 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn Dù, cộng thêm 2 lữ đoàn thiết giáp và nhiều liên đoàn Biệt Động Quân. Hai lữ đoàn Thủy Quân Lực Chiến và 2 sư đoàn khác (sư đoàn 2 và sư đoàn 4) đang được bổ sung quân số và tái thành lập với những đơn vị vừa từ miền Trung rút về.

Sài Gòn được phòng thủ rất chặt chẽ với 2 nút chận thật mạnh. Nút chận thứ nhất là vòng đai phòng ngự phía Bắc của thủ đô do sư đoàn 25 bộ binh của tướng Lý Tòng Bá, một kỵ binh lực lưỡng và đầy đủ kinh nghiệm.Trung tâm điểm của tuyến phòng ngự nầy dựa trên thị xã Bến Cát, một vị trí chủ, được xây dựng chung quanh môt ngọn đồi được bố trí các loại súng và có hầm trú ẩn bê tông cốt sắt.

Nút chặn thứ hai là tuyến phòng thủ mặt Bắc, tiếp giáp nhau chung quanh thành phố Xuân Lộc, do Sư Đoàn 18 Bộ Binh trấn giữ, một sư đoàn ưu tú mà tư lệnh là Tướng Lê minh Đảo, hùng hục và vui vẻ như một thiếu úy. Tôi nghĩ là Bắc Việt cũng khó mà đánh bật được 2 phòng tuyến nầy.

– Dù sao cũng vẫn còn một nguy cơ, ông Nam ơi. Bọn Việt Cộng không có thói quen đánh trực diện vào các cứ điểm mạnh. Họ dùng toàn bộ pháo binh nã vào cứ điểm mạnh nhằm cầm chân các đơn vị của ta để họ lợi dụng vùng rừng bụi tiến đánh bọc hai bên sườn của mình. Nên nhớ là Xuân Lộc và Bến Cát đều có các vuờn cao su và rừng cây bao quanh.

– Chắc vì thế mà chúng không dám đến đánh ở địa thế gần như trống trải ở đồng bằng. Có lẽ bọn chúng sẽ cố gắng cô lập Sài Gòn hơn, cắt đứt thủ đô với vùng vựa lúa và giàu nhân lực vì nguy cơ lớn nhất phải đến ngay từ Sài Gòn. Tôi muốn nói đến các chuyện lộn xộn và tham vọng chánh trị ở Sài Gòn. Các nghị sĩ băt đầu rục rịch, các tướng lãnh không có quân cũng đang có âm mưu gì đó, và Tổng Thống Thiệu càng ngày càng bị cô lập. Chánh quyền có thể bất thần sụp đổ và rơi vào tay của những kẻ vô trách nhiệm, sẵn sàng hấp tấp mở cửa rước bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn.

– Anh giải thích thế nào về sự sụp đổ đã xảy ra ở miền Trung?

Tướng Nam chống tay lên thành ghế ông đang ngồi, và bực tức cằn nhằn:

– Có rất nhiều lý do. Mà đầu tiên và trước hết là do ông Thiệu.

– Ở Tổng Tham Mưu, Đại Tá Khôi nói với tôi người chịu trách nhiệm là Thiếu Tướng Phú.

– Không phải. Anh đã biết Tướng Phú còn hơn tôi nữa mà. Ông là một cấp chỉ huy có khả năng, bám trận địa như một con rận bám sát tóc vậy. Không, ông không phải loại người chuồn đi, bỏ lại cả một thành phố và toàn bộ chiến cụ nguyên vẹn như vậy.

Trước khi đổ vấy trách nhiệm cho cấp chỉ huy và cho lỗi lầm chánh trị, có vài điểm kỹ thuật cần được làm sáng tỏ: cuộc tổng tấn công của Cộng Sản vào Vùng Cao Nguyên đã được chờ đợi từ nhiều tuần lễ rồi. Nhưng vì thiếu tin tức chính xác về những cuộc điều quân hay di chuyển của các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt xuyên qua rừng rậm, Tướng Phú nghĩ cũng đúng là nỗ lực chính của Cộng Sản phải nhắm vào Kontum hay Pleiku, nằm ngay ở phía Bắc, và ông ta đã tập trung phần lớn lực lượng vào hai thành phố nầy.

Xui cho ông, Bắc Việt lại tấn công vào Ban Mê Thuột, nơi mà quân trú phòng chỉ có một trung đoàn và vài liên đoàn Biệt Động Quân mà phải đương đầu với cả 3 sư đoàn Cộng Sản ! Sau đó Cộng Sản cắt hết các con đường giao thông chính trên Cao Nguyên.

Phản ứng đầu tiên của Tướng Phú là phản công. Ông ta cho trực thăng vận 300 binh sĩ Dù và một liên đoàn Biệt Động Quân đổ xuống chiếm lại hai phi trường ở Ban Mê Thuột, và sau đó đã cố gắng vào được thành phố và tảo thanh thị trấn. Trong một vài giờ, Ban Mê Thuột đã biết được một không khí thật sư vui mừng, một cái gì mường tượng như lúc thủ đô Ba Lê được giải phóng. Dân chúng vẫy cờ hoan hô các binh sĩ của Chánh Phủ. Các chủ vườn cao su đem rượu cỏ-nhác ra uống mừng chiến thắng.

Nhưng sau đó, đùng một cái, theo lệnh từ Sài Gòn chuyển lên, lực lượng Miền Nam được lệnh phải rời khỏi thành phố. Hai sư đoàn Bắc Việt khép kín họ lại và đã tiêu diệt họ. Còn ở Pleiku và Kontum: còn 2 trung đoàn thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Pleiku là một căn cứ Không Quân quan trọng của một sư đoàn Không Quân, không thiếu một thứ gì từ lương thực đến đạn dược. Tướng Phú đã quyết định đánh và kháng cự. Ông ta đã xác định với các sĩ quan của ông như vậy.

Tuy nhiên ngày 14 tháng 3, Tổng Thống gọi ông về Cam Ranh và cho lệnh ông phải lui quân. Bây giờ chúng tôi biết được là cuộc bàn cãi rất là sôi động đầy sóng gió. Tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh. Ông ta đã nói thẳng với Tổng Thống Thiệu: “Tôi đã đánh giặc 23 năm rồi, và tôi chưa bao giờ biết lui quân. Hãy tìm một người khác để chỉ huy cuộc “chạy trốn “nầy.” Nói xong ông vứt khẩu súng lục của ông lên bàn và ra khỏi phòng họp, đóng sầm cửa lại. Và sau đó ông bay về Nha Trang, khai bệnh vào nằm bệnh viện. Chuyện đâu có khó khăn gì với ông ta đâu, vì anh cũng biết là ông ta luôn luôn bị khó chịu với hai lá phổi của ông.

– Đại Tá Khôi lại xác định với tôi là Tướng Phú đã bay về Pleiku và đã cho lệnh triệt thoái vài giờ sau đó. – Đó là luận thuyết chánh thức. Bộ Tổng Tham Mưu quả quyết là khi về đến Pleiku, Tướng Phú đã nói với tư lệnh phó của ông “tôi cho ông hay một bí mật lớn, là chúng ta sẽ phải sớm di tản hết các vị trí của chúng ta”. Vị tư lệnh phó nầy lập tức báo tin cho các sĩ quan, và cuộc triệt thoái được thi hành ngay lúc đó.

Tôi đã gặp Tướng Phú ở Sài Gòn ngày hôm kia, ông ta đã xác nhận với tôi là ông ta đã không bao giờ ra lệnh triệt thoái. Dù sao thì giải pháp tốt đẹp duy nhất là nên giao cho Tướng Phú một nhiệm vụ hy sinh bằng cách cho lệnh ông phải tử thủ tại chỗ để bảo vệ Pleiku, nhằm mục đích mua thời gian và để cho dân chúng và các liên đoàn Biệt Động Quân rút đi trong vòng trật tự, như thế thì mới tránh được cái dịch hốt hoảng đã đầu độc cả nước.

– Như vậy thì ai là người ra lệnh triệt thoái?

– Chính là ông Thiệu. Sau khi Tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh, Tổng Thống Thiệu đã báo cho Đại Tá Tất, tư lệnh phó của ông Phú, một sĩ quan Biệt Động Quân và giao cho ông nầy chức vụ Tư Lệnh Vùng.

Được Tổng Thống liên lạc thẳng, Tất đã sốt sắng thi hành lệnh, và cho bắt đầu ngay cuộc hành quân triệt thoái, mà không cho tiến hành phá hủy một kho tàng nào. Anh ta đã để lại nguyên vẹn sáu tháng lương thực, một nửa các khẩu pháo và nặng nhất là để nguyên lại 40 chiếc phi cơ và trực thăng còn tốt.

Tổng Thống Thiệu đã phạm một lỗi về xét đoán nhân sự không thể nói được khi ông giao quyền chỉ huy cho Đại Tá Tất. Tôi biết anh nầy quá nhiều, ông ta là một sĩ quan can đảm, một sĩ quan chuyên về tác chiến lưu động, đột kích hay phá hoại. Nhưng anh ta không được đào tạo hay huấn luyện một tí gì để có thể hướng dẫn một cuộc hành quân loại triệt thoái rất tế nhị và quan trọng nầy.

Tổng Thống Thiệu cũng phải gánh hoàn toàn trách nhiệm trong việc bỏ thành phố Huế và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Trưởng có 3 sư đoàn ưu tú để lo phòng thủ Vùng nầy, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và sư đoàn Dù.

Nhưng ngày 20 tháng 3, Tổng Thống Thiệu vì sợ bị đảo chánh, nên đã cho rút sư đoàn Dù đưa ngay về Sài Gòn làm cho Tướng Trưởng đứng trước một lổ hổng quá rộng trong hệ thống phòng thủ của ông. Vì chỉ với 2 sư đoàn mà ông phải tái phối trí cho một tuyến phòng thủ dài 150 cây số ngàn. Do đó mà ông phải quyết định thu gọn lực lượng về tuyến phòng thủ Đà Nẵng, lực lượng quân sư ưu tiên lui về trước.

Trong lúc các đơn vị đang trên đường di chuyển, Tổng Thống Thiệu lại cho lệnh phải trở lui lại Huế, nhưng Cộng Sản Bắc Việt đã chận đường trở lại Huế ở khoảng đèo Hải Vân. Trước hết Sư Đoàn 1 đã đánh một trận khốc liệt để tái chiếm đèo Hải Vân và tái lập lưu thông trở lai.

Nhưng vô phước là làn sóng dân chúng chạy loạn như nước vỡ bờ đã phá tan hàng ngũ của sư đoàn 1. Có rất nhiều binh sĩ quá lo âu cho số phận của gia đình mình, nên đã bỏ hàng ngũ, còn một số binh sĩ khác thì đào ngũ hẳn. Vị tư lệnh sư đoàn 1 ở Đà Nẵng đã cố gắng nắm lại sư đoàn của mình nhưng đã bị một anh phản loạn đánh gục. Thiếu Tướng Nam đứng dậy, vươn vai và đi vài bước trong phòng. Sau một vài phút yên lặng, ông lại ngồi xuống và tiếp tục:

– Tổng Thống Thiệu bị ám ảnh vì sự bỏ rơi hèn hạ của người Mỹ. Tôi tin chắc là ông ta muốn bi thảm hóa tình hình bất thần như vậy, hy vọng là Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một mức độ khó khăn nào đó để đi đến quyết định phải gởi các oanh tạc cơ hạng nặng qua giúp V NCH.

Nhưng sự việc sau đó đã cho thấy là ông tính toán sai. Và chúng ta đã mất mát quá nhiều trong vấn đề đó. Biện pháp hữu hiệu nhất để thuyết phục Quốc Hội và Nhà Trắng, là chúng ta phải chiến đấu tại chỗ cho đến viên đạn cuối cùng.

Chính bọn Cộng Sản Bắc Việt cũng không tin là chúng sẽ chiến thắng dễ dàng như vậy. Bằng chứng hùng hồn nhất là cả 4 sư đoàn trừ bị chiến lược của Miền Bắc chỉ mới vượt qua vĩ tuyến 17 trong tuần lễ vừa qua. Trước khi từ biệt, Tướng Nam nói là ông không tin là TT Thiệu sẽ còn khả năng vượt qua được các biến cố.

IMG_5479

IMG_5443

IMG_5483

 *

IMG_1249

IMG_5701

*

 

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tuẫn Tiết Ngày 30-4-1975

05/04/201400:00:00

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (1927-1975) là Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, một trong năm tướng lãnh đã tuẫn tiết trong mùa Quốc Hận 30 tháng 4, 1975. Th/Tg Nguyễn Khoa Nam sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẵng. Năm 1953ông nhập ngũ Khóa 3 Thủ Đức, tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy dù.

Tháng 11 năm 1974, Th/Tg Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật đến năm 1975. Tháng 4 năm 1975, CS Bắc Việt tấn công ào ạt, Vùng I, II, III rối loạn. Nhưng Vùng IV, Quân đoàn IV của Thiếu Tướng Nguyễn khoa Nam khống chế CS không làm gì được.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, TT Dương văn Minh kêu gọi buông súng, chờ bàn giao chánh quyền, như đầu hàng vô điều kiện.

IMG_5436

 

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (1927-1975).
Khoảng nửa đêm 30 tháng 4 rạng ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam dùng súng tự sát không đầu hàng Cộng Sản Việt Nam. Bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng và một số chiến hữu đã tẩm liệm và đưa di hài Thiếu Tướng ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Tháng 3 năm 1994, người em dâu là bà Nguyễn Khoa Phước đến Cần Thơ mang di hài Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam về hỏa táng. Hiện nay tro cốt của Thiếu Tướng được lưu tại chùa Già Lam, đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Uỷ ban Xây dương Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH trong đồ án có dựng tượng những vị tương lãnh tuẫn tiết vì chánh nghĩa quốc gia và khắc tên những chiến sĩ đã vi dân chiến đấu vì nước hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tư do, dân chủ của VNCH.

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Viết Về Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà: Lãnh Tụ TLĐ Lao Công Trần Quốc Bửu Đọc Thư Con Viết Trước Khi Tử Trận,

07/04/201400:00:00

*

Yêu Cầu Nói Với Người Mỹ “Chúng Tôi Không Hèn Nhát. Chúng Tôi Không Sợ Chết…”

LTS. Suốt Tháng Tư 1975, nhà báo Pierre Darcourt có mặt tại Sàigon, trực tiếp gặp và nghe nhiều điều riêng tư, từ các cấp thẩm quyền quân dân sự miền Nam, như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, lãnh tụ Ngiệp đoàn Trần Quốc Bửu, tới…. Bà Ngô Bá Thành thủ lãnh phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống.

Ông cũng sát cánh với các đơn vị VNCH giờ chót tại các phòng tuyến ven đô cho tới ngày cuối cùng và chỉ rời khỏi Saigon vào buổi trưa 29 tháng 4 năm 1975. Những ngày giờ cuối cùng của VNCH được Pierre Darcourt viết thành sách “Vietnam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils” do Editions Albatros, Paris xuất bản.

Sau đây là một số sự ghi nhận của nhà báo Pháp đặc biệt này, được lược trích theo bản dịch Việt ngữ “Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên” của Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, do Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành. Tựa đề các trích đoạn do toà báo đặt.

*

Thứ Hai, 14 tháng Tư, 1975

Vừa là Chủ Tịch “Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam”, một tổng liên đoàn rất hùng mạnh vừa là Phó Chủ Tịch Tổng Công Đoàn Công Giáo Quốc Tế, ông Trần Quốc Bửu là một người rất có quyền lực và rất được kính nể.

Ở vào trạc tuổi 60, người tuy có hơi gầy nhưng rắn chắc với đôi mắt sáng ngời, ông luôn luôn ăn mặc rất giản dị với chiếc quần dài màu xám và một chiếc áo bốn túi nhẹ bỏ ngoài.

Vừa tranh đấu cho lý tưởng quốc gia vừa tranh đấu cho công đoàn, bị lưu đày ra Côn Sơn trong thập niên 40, ở đó ông từng ở chung phòng giam với Lê Duẫn, hiện là tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông đã vượt ngục và chỉ huy toán “đặc công 25? nổi danh của ông trong thời gian trên 5 năm kháng chiến chống Pháp.

Bị tướng một mắt Nguyễn Bình và đội an ninh chánh trị Cộng Sản hăm dọa tử hình, vì ông không chịu gia nhập đảng, ông về Sai Gòn năm 1951 và qua Pháp. Ở đó ông theo học khóa công đoàn từ 1952 đến 1954 ở đường Montholon, Ba Lê với Tổng Liên Đoàn Lao Công Pháp (C.F.T.C.).

Về lại Sai Gòn, ông thành lập Tổng Công Đoàn Lao Công Việt Nam (C.T.V.), nơi tập trung 85% lao công Việt Nam. Tổ chức của ông rất vững mạnh, uy tín và đức tánh bình dân của ông trong giới cần lao đã giúp ông có nhiều sự nâng đỡ từ các công đoàn Hoa Kỳ.

Cả phía Cộng Sản cũng muốn chiêu dụ ông. Lê Duẫn người đã từng ở chung nhà lao với ông ở Côn Sơn, bây giờ là tổng bí thư đảng CSVN đã gởi cho ông một bức thư riêng để yêu cầu ông đừng đứng chung với “bọn tư bản”, phải giữ “thế trung lập” hoặc”về với chánh nghĩa cách mạng”.

Ông Bửu đã trả lời thẳng thừng: “Kinh nghiệm mà tôi đã có được với phương pháp của ông, và với lòng tôn kính của tôi đối với quốc gia dân tộc của chúng ta không cho phép tôi tin rằng chủ nghĩa Cộng Sản là giải đáp duy nhất cho nguyện vọng của dân tộc chúng ta”.

Do đó Cộng Sản đã nhiều lần mưu sát ông nhưng không thành. Trụ sở của Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam nằm ở số 14 đại lộ Lê Văn Duyệt (đường Verdun cũ) trong môt tòa nhà kiếng lớn, nóc nhọn thềm cao, kiến trúc theo kiểu Pháp, trước kia là trụ sở của Câu lạc Bộ Thể Thao Đông Dương.

Ông Trần Quốc Bửu tiếp tôi trong phòng làm việc của ông, một căn phòng rộng lớn sáng sủa, có một bàn lớn và một số ghế dựa. Trên tường có treo một bức tranh lụa với hình một con trâu màu xám tro, mõm to, chân đứng dưới ruộng lúa (biểu tượng của Tổng Liên Đoàn là con trâu trong một bánh xe có răng cưa).

Trên một giá đầy sách có treo hình một sĩ quan Việt Nam còn trẻ, có cài một băng đen trên chéo góc. Ông Trần Quốc Bửu bắt gặp cái nhìn của tôi, liền giải thích:

– “Đó là hình của con trai tôi. tử trận hồi tháng 10 vừa qua. Thằng nhỏ đẹp trai quá, phải không ? Nó là một đứa rất gan dạ, thông minh và thẳng tánh. Môn nào nó cũng thành công, học hành, thể thao, và đường đời nữa. Nó có vợ rất đẹp và nhu mì, và một đứa con trai năm nay 3 tuổi. Nó chỉ huy một đại đội và đóng đồn trong quận lỵ của một quận thuộc tỉnh Bà Rịa. Nó mới vừa được 27 tuổi thì….

Nói tới đây ông Bửu lắc đầu nhè nhẹ, ngưng một vài giây và tiếp tục với một giọng thật rõ ràng, chậm rãi và có mức độ. “Tôi muốn nói cho anh nghe về thằng con trai nầy, anh Pierre ạ. Con trai tôi đã chọn quân đội, không phải vì nó ham chiến tranh, mà vì chúng ta đang ở trong thời chiến. Nó đánh đấm cũng khá lắm và đã được khá nhiều huy chương. Chúng tôi khắng khít với nhau lắm. Nó thường viết thư cho tôi.

Vài tháng trước khi chết, nó đã tỏ ra rất băn khoăn lo lắng, có lúc hoảng sợ nữa. Trong những ngày đầu của tháng 10, nó có gởi cho tôi một lá thư, để tôi đọc cho anh nghe. Trần Quốc Bửu lấy trong ví ra 3 tờ giấy mà ông đã xếp thật cẩn thận và ông bắt đầu đọc: “Ba kính yêu, Trong tiểu khu của con tình hình đã đi xuống. Không phải vì dân chúng đã ngả theo sự tuyên truyền của “phía bên kia”, mà tại vì chúng tôi đang thiếu phương tiện để chiến đấu.

Mấy anh nông dân trong hàng ngũ “nhân dân tự vệ” không có đủ đạn cho súng của họ, và họ còn phải tìm mua lựu đạn của mấy anh lính chánh quy, thường ít đụng trận hơn họ. Phần các đơn vị chánh quy thì không phải họ tránh chạm súng, mà cứ mỗi lần chạm địch, môt địch quân hơn hẳn họ cả về chiến cụ lẫn đạn dược, nên họ cứ bị tổn thất thật nặng.

Để Ba hiểu rõ hơn tình hình của tụi con, con phải giải thích cho Ba nghe một vài điểm về kỹ thuật. Cộng Sản Bắc Việt thì dùng chiến xa T. 54 và đại bác 130 ly của Liên Xô. T.54 là loại chiến xa rất năng động, tuy thô kệch nhưng được bọc sắt rất dày và võ trang hùng mạnh: một đại bác 100 ly lòng dài với 34 quả đạn trong xe, 2 liên thanh 30 ly, và một liên thanh 50 ly, có tầm hoạt động 400 cây số đường bán kính.

Trong trường hợp tấn công, tụi con chỉ có ống phóng M.72 (loại ba-zô-ca chống chiến xa). Súng nầy chỉ sử dụng có một lần, bắn xong là phải vứt ống phóng đi, và nó chỉ thật sự hữu hiệu trong vòng 100 thước mà thôi. Do đó mình phải bắn chiến xa địch trên bộ, thật gần, mới trúng đích được. Có nghĩa là mình phải đi bộ đến trong tầm tác xạ chính xác của vũ khí tự động trên chiến xa địch, để cho người ta giết chết mình… mà không chắc là mình sẽ hạ được nó.

Trên thực tế muốn tiến sát đến gần chiến xa thường rất là khó, gần như không thể được, vì lúc nào chiến xa cũng có “bộ binh tùng thiết” đi mở đường cho nó và bảo vệ nó. Còn pháo binh 130 ly dù là một loại vũ khí xưa, cũ, trên 20 năm rồi nhưng là một vũ khí đáng sợ. Nặng khoản 8 tấn, được xe xích kéo, có tầm tác xạ tới 27 cây số và có thể bắn đi 6 quả đạn trong một phút. Chỉ cần có 3 khẩu pháo 130 dấu kín trong rừng, và với 1 giờ tác xạ (1000 quả đạn thôi) cũng đủ đánh sập quận lỵ của bất cứ một quận nào. Đạn pháo 130 ly có thể phá vỡ một miếng thép dày 27 ly, cho nên không có một kiến trúc nào, một công sự nào chịu nổi sức công phá của loại pháo nầy.

Dân chúng bỏ chạy hết và quân đội của tụi con không thể nào chống trả mà không bị thiệt hại nặng vì chúng tôi chỉ có pháo binh 105 ly với tầm tác xạ ngắn hơn nhiều, và đạn pháo thì được đếm từng quả, 3 viên cho một khẩu trong một ngày, trong lúc địch thì được tiếp tế quá dồi dào về đạn dược.

Để khóa miệng mấy khẩu pháo binh Cộng Sản nầy, chúng ta bắt buộc phải có ưu thế tuyệt đối về Không Quân. Điều nầy rất đúng trên lý thuyết, nhưng hoàn toàn sai trên thực tế.. Từ khi có cuộc khủng khoảng xăng dầu, trực thăng quan sát và thám thính của chúng ta chỉ được phép bay có 3 giờ mỗi ngày. Ngoài ra Cộng Sản còn được trang bị hoả tiễn tầm nhiệt S.A.7 rất dễ sử dụng và rất chính xác để vô hiệu hóa các loại phi cơ của chúng ta.

Thưa Ba yêu quý,

Con biết rằng Ba có nhiều mối liên hệ với người Mỹ. Cương vị Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động của Ba sẽ giúp Ba có tiếng nói mạnh hơn. Ba phải giải thích cho họ hiểu rằng tình hình ở đây đã rất là nghiêm trọng lắm rồi. Họ phải cung cấp cho chúng ta vũ khí cần thiết, như hỏa tiễn Tows trên thớt cơ động, và trực thăng võ trang “cobra” trang bị chuyên về chống chiến xa.

Họ có hết các thứ nầy mà tại sao họ từ chối? Họ phải viện trợ cho chúng ta về quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con yêu cầu Ba, Ba ơi, Ba hãy can thiệp với họ. Nếu không thì chúng ta sẽ bị đè bẹp và bại trận ngay. Chúng tôi không phải là kẻ hèn nhát. Chúng tôi không bao giờ sợ chết.

Với điều kiện là còn giữ được một cơ may để chiến thắng, hay là để chống cự với Cộng Sản có hiệu quả. Xin Ba tha lỗi cho con vì bắt Ba phải nghe một tờ trình quân sự quá dài dòng. Trong tiểu khu của con, số lần chạm súng và số lần tác xạ của pháo binh tăng lên theo cấp số nhân. Dù sao thì con cũng giữ được đồn của con và con sẽ không rút đi đâu hết….. dĩ nhiên là vẫn còn sống. Binh sĩ của con theo con, và dân chúng vẫn tin tưởng nơi chúng con. Đứa con lúc nào cũng kính mến và trung thành của Ba”

Ông Bửu từ từ xếp lá thư lại, đằng hắng để lấy giọng và để dằn cơn xúc cảm lại rồi mới tiếp tục:

“Tất cả mọi thất bại của chúng tôi đều được gói gọn trong những hàng nầy. Tôi nhận được thư nầy của con tôi sau chuyến đi thăm Á Châu và Âu Châu của tôi trở về. Khi tôi đọc được lá thư nầy thì con tôi đã tử trận được 3 ngày rồi.

– Ông có nói gì cho người Mỹ họ nghe không ?

– Dĩ nhiên là có. Tôi đã gặp Đại sứ Martin, và các tùy viên quân sự Hoa Kỳ. Tôi cũng có viết thư qua Mỹ. Không có người nào nghi ngờ về những tin tức của tôi. Ông Đại sứ và các tùy viên quân sự đã có ghi chú đầy đủ, và tôi cũng nhận thấy thực tình họ đang quá bận rộn. Nhưng không thấy có ai làm gì hết, tôi muốn nói là họ không có một biện pháp cụ thể nào cả.

– Như vậy cái gì sẽ xảy ra ?

– Chuyện gì cũng được hết ! Các ông dân cử chắc sẽ nhúc nhích. Tổng Thống Ford sẽ có những lời tuyên bố dễ nghe. Quốc Hội sẽ kéo dài các cuộc tranh cãi để khỏi phải chuẩn chi ngân khoản viện trợ. Ông Thiệu sẽ ra đi hay sẽ để bị ám sát. Các sĩ quan và binh sĩ trẻ và tự hào như con trai tôi sẽ bị hy sinh vì danh dự, hay vì để kéo dài thêm thời gian cho một vài chánh trị gia tự phụ kịp leo lên nắm quyền, đủ thời gian để dàn dựng một kịch bản tưởng như bất thần được ứng biến, mà thật ra đã được viết sẵn từ lâu..

Người Mỹ sẽ đóng cửa các văn phòng cuối cùng của họ. Hạm đội 7 sẽ có mặt tuần rỏn ở biển Đông. Rồi Cộng Sản sẽ chiếm Sài Gòn. Và tất cả lỗi đều sẽ được đổ hết cho chúng tôi!!.

Kỳ tới: Mỹ gửi sứ giả tới Hà Nội thu xếp tháo chạy.

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Viết Về Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà: Hoàng Đức Nhã Tố Mỹ Vào Giờ Chót Vẫn Gửi Sứ Giả Tới Hà Nội Thu Xếp Tháo Chạy

08/04/201400:00:00

*

Ngày Thứ Năm, 10 tháng Tư

Trước tòa đại sứ Hoa Kỳ, có mấy trăm người Việt Nam đang xếp hàng trên lề đường chờ xin phép nhập cảnh để được đi Mỹ.

Đại sứ Graham Martin không tiếp báo chí và đã không bao giờ rời khỏi sứ quán của ông, vừa là một dinh thự vừa là một pháo đài sơn màu trắng ngà, có một bức tường bê tông bao quanh có gằn máy chụp ảnh tự động. Hai anh binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến với lễ phục lớn (kết trắng, găng trắng, quần chạy nếp đỏ) đứng gác lúc nào cũng trong tư thế “Nghiêm” trước hai cánh cửa bọc sắt có ổ khóa chỉ được mở bằng mật mã bằng máy vi tính từ xa. Nóc bằng của sứ quán đã được cải biến thành bãi đáp cho trực thăng.

Với 62 tuổi, người cao lớn và rắn rỏi, trán đã có nhiều vết răn sâu, mặt cũng đã có nếp nhăn và quầng thâm, ông vẫn luôn luôn mặc quần áo màu xám, cả giầy cũng vậy, giờ đây ông đã có một dáng đi hơi nặng nề và mệt mỏi của một võ sĩ quyền Anh đánh quá một trận, mà từ khước không chịu cho đôi tay ngơi nghỉ ! Phải nói rằng nhà ngoại giao Hoa Kỳ nầy có một lối xử sự không được bình thường.

Trái hẳn các đồng nghiệp của mình luôn có thái độ “lạnh nhạt”, dù tình hình quá nghiêm trọng họ vẫn đánh giá bằng một thái độ dửng dưng khác thường, ông Martin là một người biết trọng danh dự, biết thế nào là giá trị của một lời hứa đã được đưa ra, là môt người biết đau khổ và biết xúc động.

Ông đã mất một người con trai trong chiến cuộc ở Việt Nam và không chấp nhận là đứa con của mình đã hy sinh một cách vô ích. Ông ta đã tỏ thái độ giận dữ với các nhà báo và các nghị sĩ theo chủ nghĩa “hòa bình”, những người quên hay chối bỏ sự hy sinh của 58.000 binh sĩ Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Thay thế đại sứ Ellsworth Bunker (được coi như người đỡ đầu của Tổng Thống Thiệu) sau khi Hiệp Định Paris vừa được ký kết, ông Graham Martin, một nhân vật thẳng tính và không mưu mẹo quanh co, ngay từ lúc đầu đã cố gắng giúp đở và che chở cho vị Tổng Thống Miền Nam Việt Nam. Ông đã tranh đấu với Quốc Hội năm vừa qua để đòi hỏi Hoa Kỳ phải tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế như đã hứa cho Miền Nam Việt Nam, nhưng ông đã thất bại.

Từ sau ngày Cao Nguyên bị thất thủ, ông đã công khai biện hộ và vận động riêng để sự cứu trợ cấp thời phải được gởi sang Việt Nam; và bằng mọi phương tiện mà ông có sẳn, ông đã nâng đỡ tinh thần của người dân Miền Nam.

Ông đã đi xa hơn nữa bằng hành động phối hợp cuộc hành quân “bốc trẻ mồ côi”, một việc làm chạm tinh thần quốc gia dân tộc và lòng kiêu hãnh của người dân Việt Nam.

Trong một bức thư riêng gởi cho Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam, ông đã giải thích rằng những phản ứng xúc động do hoàn cảnh vô cùng khốn đốn của các trẻ mồ côi có thể sẽ làm nghiêng cán cân dư luận của dân chúng Hoa Kỳ có lợi cho Miền Nam Việt Nam.

Nhưng nội dung lá thư riêng của ông lại được tung ra cho báo chí gây ra môt làn sóng phản đối dữ dội. Tuy vậy ông Martin không ngã lòng. Và như ông đã khiếp sợ sự “trốn chạy”, nên ông cẩn thận hơn một chút đối với các anh nhà báo vá các nghị sĩ quá tò mò, buộc các cộng sự viên của ông phải đề cao cảnh giác và nêu gương phẩm cách của mình, và khuyên họ không nên buông thả theo “tính chủ bại”, và ông cũng cố gắng thuyết phục họ là “cuối cùng rồi có lẽ Hoa Kỳ cũng sẽ tỉnh dậy thôi”

Trong lúc cuộc tháo chạy đã gần như hoàn toàn, trong khi hàng trăm ngàn dân tị nạn làm nghẽn hết đường sá, và hết thành phố nầy đến thành phố khác cứ tiếp tục thất thủ, ông vẫn phô bày một sự lạc quan không lay chuyển, mỗi ngày cẩn thận tính sổ các xã ấp mà Sai Gòn còn đang kiểm soát được và gởi về Hoa Thịnh Đốn nhiều điện văn “tối khẩn” đòi hỏi những chương trình phát triển kinh tế dài hạn cho phần đất còn lại của Miền Nam Việt Nam.

Cho đến khi Hoa Thịnh Đốn đòi hỏi ông Martin phải sẳn sàng để di tản 5000 người Mỹ hiện còn đang ở Miền Nam Việt Nam thì ông đã trả lời bằng một công hàm hết sức gay gắt, khuyên Bộ Ngoại Giao hãy khóa “vòi nước hoảng loạn” lại. Ông Martin không dấu giếm với những người bên cạnh ông rằng ông coi chuyện “di tản” nầy như một cuộc “tháo chạy nhục nhã”, một “hành động hèn nhát”, một hành động “phản bội có cân nhắc” đối với một người bạn đồng minh đang có nguy cơ đứng trước cái chết….

Thứ Sáu, 18 tháng Tư, 1975

Phnom Penh đã thất thủ.

Bị vây trong năm tháng liền, bị pháo binh 105 và rốc-kết nã vào, thủ đô Nam Vang của Campuchia đã chống trả rất can đảm trong vô vọng, bây giờ thì coi như đã hết. Sự thất thủ của thủ đô Campuchia là một biến cố đe dọa nặng nề đối với Miền Nam Việt Nam.

Mà còn hơn thế nữa với sự việc Khmer Đỏ đã chiếm được thành phố nầy và cái lối mà người Mỹ đã bỏ rơi thủ đô Pnhom Penh nầy, Sài Gòn đã có một cảm nhận rất nặng nề vừa như một xúc phạm, một sự sỉ nhục, vừa là một loại triệu chứng bất tường cho chính mình.

Những cuộc tranh cãi kéo dài vô tận giữa Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ về một sự “cần thiết tối khẩn” cho một ngân khoản viện trợ cho Phnom Penh, cuối cùng bị ngưng trệ vô điều kiện vì những người có trách nhiệm của Hoa Kỳ, đã thực sự báo động cho dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Họ còn bồn chồn lo sợ hơn nữa khi thấy sự phản đối công khai và hiển nhiên của đa số Quốc Hội Hoa Kỳ đối với những đòi hỏi nhắc đi nhắc lại của Tổng Thống Ford mong muốn giúp cho Sài Gòn, cũng như một cuộc thăm dò dư luận gần đây của đài NBC theo đó 70 % dân chúng Mỹ tin chắc rằng dù Hoa Kỳ có làm gì đi chăng nữa thì cũng không thể ngăn cản được Miền Nam Việt Nam bị rơi chắc chắn vào tay Cộng Sản.

Những người Việt Nam đang lo sợ nhất là những người thuộc mấy thành phần rõ rệt sau đây: nhiều nhất trước hết là những người trực tiếp làm việc trong các cơ sở dịch vụ của Hoa Kỳ – như phòng thông tin tuyên truyền và báo chí – các nhân viên tòa đại sứ, các nhà trí thức, các giáo sư, các nhà xuất bản hay chánh trị gia đang hoạt động (số nầy hơn 40.000) kế đó là những nhà hào phú: các ông giàu có nhờ biết lợi dụng chiến tranh (cũng đến hằng ngàn ) đang tìm cách mua giấy phép xuất cảnh hay giấy chứng nhận là công dân ngoại quốc với bất cứ giá nào.

Ngoài ra còn có tất cả cán bộ các cấp trong guồng máy quân sự và hành chánh của Miền Nam Việt Nam các sĩ quan cao cấp, sĩ quan an ninh quân đội, tỉnh trưởng hay quận trưởng, thanh tra cảnh sát… những người đang lo sợ nếu Cộng Sản chiếm được Miền Nam. Con số những người nầy cũng từ 150.000 đến 200.000. Đối với 20 triệu dân thì con số nầy chỉ đại diện cho một thiểu số mà thôi (chừng 1 %).

Hầu hết dân chúng Miền Nam khiêm nhường và siêng năng đều gắn liền với đồng ruộng của họ. Họ không muốn tự đặt mình dưới sự cai trị của quân thù, nhất là những người đến từ Miền Bắc. Bằng chứng là đã có hằng bao nhiêu ngàn nguời dân sống chết cũng phải bỏ chạy. Họ không chạy đến những người tự xưng là “giải phóng cho họ” và họ cũng không chờ đợi những anh “giải phóng” nầy ở tại làng của họ. Tất cả họ đều kéo nhau chạy về Sài Gòn vì bàn tay sắt khát máu của Cộng Sản đã làm cho họ run sợ.

IMG_5511

IMG_5485

Hơn nữa, tránh được làn sóng hoảng loạn lan truyền trên khắp miền Trung của đất nước, Miền Nam đang cứng rắn chịu đựng mối đe dọa của các sư đoàn Bắc Việt. Ý thức kỳ thị và óc địa phương đã bắt rễ thật sự rồi! Sài Gòn và đồng bằng Cửu Long là vùng đất cũ của người Nam Bộ, và họ muốn giữ lấy cho họ. Quân đội Miền Nam sẽ đánh và sẽ cố giữ từng tấc đất của họ. Các đơn vị địa phương quân tình nguyện tham gia các cuộc hành quân. Tại Vùng 4, tướng Nam giữ chặt tính chủ động, đường sá vẫn được mở cho mọi sự lưu thông và Sài Gòn vốn được tiếp tế đều đặn, không thấy có dấu hiệu hoảng hốt nào.

Chánh phủ mới, một “chánh phủ chiến đấu”, cuối cùng đã được thành lập xong. Thành phần gồm có những người liêm khiết, những kỹ thuật gia có giá trị, những người lãnh đạo các trường đại học, các lãnh tụ tôn giáo, công đoàn và lần đầu tiên hầu hết đều là những người gốc Miền Nam. Nhưng dù cho có một sự hợp tác rộng rãi của mọi thành phần dân chúng, dù binh sĩ có đầy đủ tinh thần can đảm và ý chí chiến đấu, tương lai gần đây của Miền Nam vẫn phải tùy thuộc vào thái độ của người Mỹ.

Muốn đương đầu với môt kẻ thù cứng rắn và cương quyết, được võ trang thật hùng hậu, lại được các đồng minh lớn Liên Xô và Trung Cộng hậu thuẫn vô điều kiện, Miền Nam cần phải có thêm thật nhiều võ khí nặng, đạn dược, cơ phận thay thế và xăng dầu. Chỉ có Hoa Kỳ là có thể cung cấp được ngần ấy thứ mà thôi. Báo chí Mỹ loan báo là Quốc Hội sẽ cho biết quyết định của họ vào ngày mai 19 tháng 4.

Nếu các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ chấp thuận giải tỏa ngân khoản do Tổng Thống Ford đề nghị, thì chánh phủ chiến đấu mới thành lập nầy còn có cơ may làm tròn nhiệm vụ của họ được. Nhưng nếu không có một sự trợ giúp về tiếp vận và tài chánh, thì chánh phủ này sẽ chỉ là một chánh phủ chyển tiếp mà thôi, đối diện với một thảm kich tấn thối lưỡng nan: hoặc bán đứng Miền Nam và đưa Miền Nam cho Hà Nội giám hộ, hoặc chống cự lại như kiểu Campuchia với cái giá cuối cùng của một sự tắm máu thật kinh khủng.

Những tin tức từ mặt trận đưa về thường không đầy đủ. Ba sư đoàn Bắc Việt được rút ra từ sau khi Campuchia bị hoàn toàn thất thủ, đã được tung ra để cô lập hoàn toàn tỉnh Tây Ninh, thủ đô tôn giáo của Đạo Cao Đài nằm về hướng Bắc của Sài Gòn khoản 100 cây số. Bốn sư đoàn khác tiến về hướng Đông cốt đánh bật chốt Xuân Lộc.

Trong khu vực nầy lực lượng Miền Nam ngày hôm qua đã thành công giành được chút không khí khi họ tiến lên phía trước khoảng 10 cây số, nhưng sau đó bị Bắc Việt cầm chân bằng nhiều cuộc phản công, đồng thời các đơn vị Bắc Việt đã lợi dụng sự cầm chân nầy để tiến đánh bọc hai bên sườn quân Miền Nam. Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 7 Bắc Việt khóa cứng ngã ba Dầu Dây (Suzannah) đồng thời tiến về hướng Trảng Bom. Quân chánh phủ tung ra lực lượng trừ bị cuối cùng: sư đoàn 5 và một lữ đoàn Dù.

Lúc nãy, tôi có gặp được bạn tôi là ông Hoàng Đức Nhã, cựu bộ trưởng Thông Tin, ở tại biệt thự của ông trong khu vực của bệnh viện Grall. Ông có vẻ bận rộn nhưng cũng tâm tình với tôi một vài điều: “Ngưòi Mỹ chơi trò lạ lùng lắm. Họ không bao giờ ngưng tiếp xúc với “phía bên kia”.

Phương tiện họ dùng cũng giản dị thôi. Hằng tuần vẫn có một chiếc phi cơ Mỹ do người Mỹ lái ra Hà Nội. Phi cơ đó chở những nhân viên đi phép thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ủy Ban Kiểm Soát Ngừng Bắn đang đóng ở Tân Sơn Nhứt. Chúng tôi biết là viên phi công Mỹ lái chiếc máy bay liên lạc nầy, có mang theo một số thư mật của Kissinger gởi cho Thủ Tướng Bắc Việt.

Chúng tôi biết từ một nguồn tin chắc chắn là cách nay mấy ngày có một đặc phái viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đến Hà Nội, mang theo một lá thư của chánh phủ Hoa Kỳ. Bức thư đó đã bảo đảm với Bắc Việt rằng trong trường hợp quân đội Miền Nam sụp đổ hoàn toàn, thì Hoa Kỳ sẽ cho rút hết toàn bộ nhân viên của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ” với điều kiện là lực lượng Cộng Sản không được bắn vào các trực thăng chuyên chở đang lo việc di tản nầy “.

Để cho lời cảnh cáo nầy được thêm nặng ký, bức thư nầy cũng có nhấn mạnh với lãnh đạo Hà Nội rằng “các pháo đài bay B.52 hiện đang đậu trên căn cứ ở Thái Lan và hạm đội VII với tất cả các hàng không mẫu hạm của mình đã ở trong tình trạng báo động.” Bất cứ một sơ suất nhỏ nào của bộ đội Bắc Việt cũng sẽ dẫn đến những hành động trả đủa thật ghê gớm.”

Tin tức nầy có thể là một “ngòi nổ” lớn được lắm đó, nhưng tôi tin chắc rằng người Mỹ sẽ đính chánh ngay thôi, và dù sao hệ thống kiểm duyệt của chánh phủ cũng phải xóa ngay điện tín của tôi. Và hơn nữa tôi không có môt phương tiện nào để kiểm chứng hay phối kiểm được.. Không còn nghi ngờ gì nữa, những ngày sắp tới sẽ là những ngày quyết định.

Kỳ tới: Bão Lửa tại Mặt Trận Xuân Lộc

*

IMG_4633

*

Ngày 30.4.75: gọi sao cho đúng?

*

IMG_5514

*

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Cho đến nay, ba mươi chín năm sau, việc đồng bào Miền Nam gọi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là ngày “phỏng…” gì đó vẫn là một sự xúc phạm không thể tha thứ đối với những ai chưa sờn lòng trên đường “Kách Mệnh” quyết “đưa năm châu đến đại đồng” như lời thủ lãnh của họ đã “nổ” dưới chân tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo cách đây hơn nửa thế kỷ (1), cho dù cái “nôi đại đồng” Liên Bang Sô Viết đã tan hàng, các quốc gia mang tên nước đúc khuôn “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết…” đã được ai về nhà nấy, mừng khúm trở lại “con đường xưa em đi”, từ dạo… lâu lắm rồi.

Nhưng những người anh em phe “Đại Thắng Mùa Xuân 1975” lại chẳng nghiêm chỉnh chút nào khi vẫn còn tiếp tục gọi đó là Ngày Giải Phóng Miền Nam. Bởi vì trong thực tế, hôm nay không ai chối cãi được rằng ý nghĩa đích thực của chiến thắng 30 Tháng Tư là, người anh em đã tự giải phóng cho chính người anh em, chứ không phải anh em đã giải phóng cho ai khác.

Người viết tạm mở/đóng ngoặc ở đây để xin bạn đọc thuộc “diện” người anh em phe chiến thắng sau hơn một phần ba thế kỷ, nhìn lại vẫn chưa “sáng mắt sáng lòng” hãy dằn cơn giận dữ, chịu khó đọc tiếp. Bởi khi nâng đầu ngón tay – thay vì “hạ bút” của thời tiền còm piu tơ – để mổ cò lên từng con chữ trên bàn phím (keyboard) lóc cóc ra những hàng này, tiện Chổi cũng chẳng hề có ý bôi bác cuộc “chiến tranh thần thánh” của người anh em mà biết đâu trong số những người đang đọc Chổi có không ít kẻ đã hy sinh một phần thân thể, trong khi tiện Chổi vẫn luôn tôn trọng người khoác áo chiến binh, nhất là đối với những kẻ thiếu may mắn đang mang vĩnh viễn thương tích chiến tranh như mình, dù họ thuộc phía đối nghịch. Tiện Chổi chỉ muốn mạo muội đề cập đến cái “chính danh” của… chữ nghĩa mà thôi.

“Chữ nghĩa” ở đây là “Giải Phóng” và “Tự Giải Phóng”.

Thực ra khi tự cho mình đang “bàn chuyện chữ nghĩa”, tiện Chổi thấy mình đã quá lộng ngôn. Chỉ cần nhìn/đọc cái tên “tiện Chổi” là người anh em đã thừa biết trình độ của Chổi nó… cùn đến mực nào rồi. Lãnh vực thi thố tài ba của thân Chổi chỉ là chốn đầu đường xó chợ; phạm vi “làm nghĩa vụ quốc tế” của Chổi cao xa lắm cũng chỉ quơ quơ quanh quẩn chợ Ba Đình Hà Nội. Do đó tiện Chổi không dám lý luận chung quanh vấn đề “Giải Phóng” hay “Tự Giải Phóng”, tức gọi thế nào cho phải chăng, đúng lẽ công bằng với ý nghĩa của nó, đại khái như lời dạy của Chúa Giê Su, “Của César, trả César”.

Trả “Ngày 30.4.1975” cho “Giải Phóng” hay cho “Tự Giải Phóng”, là tùy ở mức độ “tự giác”, hay trình độ “sáng mắt sáng lòng” của người anh em sau khi nghiền ngẫm lại một số những chuyện xảy ra mà ngôn ngữ người anh em gọi là “sự cố” sau đây, mà có lẽ đối với nhiều người anh em, những chuyện này hay những chuyện na ná, chẳng còn lạ chi, đã “biết rồi, khổ lắm…”.

Ở đây tiện Chổi không muốn nhắc lại những chuyện “Ngoài ấy TV chạy đầy đường; cà rem ăn không hết phải đem phơi khô”, chuyện “cái nồi ngồi trên cái cốc; đồng hồ có người lái, hai ba cửa sổ v.v…”, là những chuyện tuy có thật hoàn toàn nhưng dễ bị hiểu là kể ra nhằm mục đích diễu cợt, miệt thị, bêu rếu “cách mạng”. Những chuyện như thế chỉ là phản ảnh của một xã hội quá nghèo đói và quá lạc hậu; đồng bào Miền Nam vốn giàu lòng nhân hậu nỡ nào lại có ý khinh khi, nhạo báng những người anh em là nạn nhân của cái xã hội ấy, thấp kém, thua xa mình bội phần; ngược lại chỉ thấy đau lòng, xót thương, tội nghiệp. Ở đây tiện Chổi chỉ kể lại cho người anh em phe chiến thắng vài “kinh nghiệm” của bản thân sau ngày “đại thắng” 30 Tháng Tư 1975.

Đầu Tháng 5, tức sau “đại thắng” vài ngày, khi ghé nhà một người bạn ở vùng Tân Định, tiện Chổi may mắn được gặp một người anh em cô cậu với bạn (Đại úy TCG hiện ở Oregon, USA). Khi được chủ nhà giới thiệu anh ta là y sĩ của Bộ Đội Giải Phóng từ Bắc mới vào, tiện Chổi mới ngạc nhiên về ánh mắt đăm chiêu của anh mà Chổi đã ghi nhận ngay lúc vừa gặp. Cũng may là thắc mắc của Chổi được giải đáp chẳng bao lâu sau đó, khi viên sĩ quan giải phóng quân này ôm gói quà do gia đình bạn Chổi biếu đứng lên chào tạm biệt, và nhìn đảo quanh một vòng rồi nói bằng một giọng như sợ người khác nghe được: “Có vào đây rồi mới biết dân ngoài Bắc khổ quá”.

Giữa Tháng 5, trên xe về Miền Trung theo quốc lộ số 1, tiện Chổi chứng kiến từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau liên tục chạy suốt ngược xuôi; xe vào Nam trống không, xe ra Bắc đầy ắp đến quá tải những “chiến lợi phẩm” không phải súng đạn mà là Honda, xe đạp, TV, tủ lạnh, bàn ghế, giường nệm, thực phẩm, và có thể nói là đủ các thứ hằm bà lằng thượng vàng hạ cám.

Cũng giữa Tháng 5, cô bộ đội kiêm nhà văn Dương Thu Hương từng quyết lên đường vào Nam “đánh Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam”, khi vào Sài Gòn, tới đường Lê Lợi, tại khu hàng sách la liệt trên lề đường, đã gục mặt khóc, và thốt lên “Man rợ đã chiến thắng văn minh”.

Sau ngày “Đại Thắng” không bao lâu, nhà người hàng xóm Chổi vốn là chủ nhân của một tiệm vàng, một tiệm bán xe Honda, và một cửa hàng bán vải, có người anh ruột lặn lội từ Bắc sau 20 năm ngăn cách vào thăm biếu cho người em mấy chiếc áo lót với mấy cái chén sành vi “nghe nói đồng bào trong Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột, không có áo mặc, không có chén bát phải dùng vỏ dừa để ăn cơm”.

Rồi Chổi “được” đi “học tập để thành người lương thiện, biết lao động để làm ra của cải nuôi sống bản thân và xã hội…” qua nhiều “trại cải tạo”. Từ trại Tù Binh do Quân Đội Nhân Dân quản lý đến “Trại Cải Tạo” của Công An Nhân Dân, ở đâu Chổi cũng thấy cán bộ quản giáo tỏ ra thèm thuồng quà thăm nuôi của “phạm nhân”, và “giao lưu” một cách đỡ… ác ôn với những “tù binh/ trại viên” nào chịu khó “chi đẹp” quà cho cán bộ. Và sau này khi đã “tốt nghiệp” được “nhân dân khoan hồng” cho về, Chổi gặp lại một ông trại trưởng trước kia khét tiếng chửi rủa, hành hạ tù mần mò đến một tỉnh lỵ xa xôi tìm gặp… tù cũ để xin chút quà trước khi về Bắc.

Tiện Chổi là người lính bên phe thua trận, người anh em bắt đi tù thì cũng được đi. Nhưng người dân thường lâu nay đang sống nơi thành thị, ở nhà của họ, sinh sống bằng của cải do họ làm ra một cách lương thiện, khi không bị cách mạng vào giải đi rồi phóng một phát lên rừng ở dưới mỹ từ “đi kinh tế vùng kinh tế”; đã thế, người anh em còn vu khống, gọi người ta là thành phần bất hảo của xã hội.

Thành phần bất hảo của xã hội thì ở chế độ nào cũng chẳng ưa. Nên hồi mới bị giải lên rừng phóng nứa chặt cây cắt tranh làm nhà… tù để nhốt mình, thấy đoàn xe miệt dưới lên đổ xuống giữa đám cỏ tranh dưới chân đồi bên kia một đám đông đàn ông đàn bà thanh niên nam nữ con nít, và được quản giáo cho biết “chúng nó là thành phần bất hảo; toàn là dân trộm cắp, đĩ điếm xì ke ma tuý”, tiện Chổi lúc đó cũng thấy hơi “bị” dửng dưng vì tin lời quản giáo lên lớp về “đạo đức cách mạng luôn trong sáng không bao giờ nói dối như mỹ ngụy”. Nhưng nhờ “trời bất dung gian”: ngay hôm sau Chổi đi cắt tranh gặp được anh bạn trong đám dân mới đến; anh làm nghề giáo cho đến ngày… bất hạnh.

Đó là những chuyện lâu rồi. Giờ Chổi xin kể chuyện này mới tinh; bắt chước nhà văn Bùi Ngọc Tấn,“ chuyện kể năm 2011”, đương nhiên là vẫn chuyện quanh hai chữ Gờ Pờ, hay Pờ Gờ, theo cách đọc thời hiện đại của người anh em, tức Giải hay Phỏng… Xin người anh em đừng nóng ruột, chuyện ngắn thôi:

Dịp Tết Tân Mão vừa rồi, “khúc ruột ngàn dặm” mang tên HTK đi Việt Nam, không phải để ăn “khế ngọt” nhưng để thăm nơi chôn nhau cắt rốn của ông ta, gần nhà ông Tổng Bí Thư Đảng CS đầu tiên Trần Phú, và không xa mấy nhà ông “khai quốc (XHCN) công thần” Cù Huy Cận, thân phụ của Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ mà vừa rồi nhà nước bố anh dựng nên đã vận dụng chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng một cách tài tình sáng tạo, chỉ dùng hai bao cao su “đã qua sử dụng” để bắt quả tang anh đang phạm tội “tuyên truyền chống nhà nước XHCNVN”. Quê cha đất tổ anh đã phải từ giả từ tuổi ấu thơ, xấp xỉ sáu mươi năm về trước… Ra đi là đứa bé lên năm, trở về tóc đã trắng xóa; gặp lại bà con họ hàng làng nước hẳn là nhiêu điều xúc động; nhưng điều làm anh xúc động nhất là khi anh được nhiều người tâm sự, rằng: “May nhờ Giải Phóng mới được thế này!”

Những chuyện trên đây đều là chuyện thật một trăm phần trăm. Nếu dựng chuyện, viết láo, ông Trời đánh Chổi tanh bành, te tua, cháy rát… như thằng bị Phỏng…

Thành thử nếu người anh em “bên thắng cuộc” gọi Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Ngày Giải Phóng thì cũng được đi, nhưng gọi như thế mới chỉ được một vế, làm mất ý nghĩa của “cuộc chiến tranh thần thánh” chấm dứt cách đây 39 năm. Tên đầy đủ phải là “Ngày giải phóng Miền Bắc khỏi khố rách áo ôm Xã hội Chủ nghĩa”.

Còn “bên thua cuộc” thì rành rành, trước sau như một, 30 Tháng Tư 1975 là Ngày Phỏng… Hai Hòn.

Nguyễn Bá Chổi

danlambaovn.blogspot.com

*

IMG_4633

*

THỦ ĐÔ TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI

LITTLE SAIGON WESTMINSTER NAM CALIFORNIA

HOA KỲ

 

*

IMG_3854

 

IMG_3858

 

IMG_3314

*

 

Hỏi : Xin các ông trong nhóm Sỉ Phu Việt Nam cho biết thủ đô tinh thần là gì ?

Đáp : Là thủ đô có gía trị tinh thần cao khi thủ đô củ tạm thời bị quân cướp xâm lăng đô hộ

Hỏi : Như vậy quân cướp thủ đô là không có chính nghĩa ?

Đáp : Đúng vậy

Hỏi : Quân cướp nhân danh cái gi ?

Đáp : Giải phóng tào lao

Hỏi : Giải phóng tào lao là gì ?

Đáp : Gây cuộc chiến chém giết chết chóc thiếu suy nghĩ mà người đời nay gọi nhóm cọng sản Việt Nam là đồ ngu nhổ ra rồi liếm lại

Hỏi : Nhổ ra rồi liếm lại là gì mà sao nghe giống chó qúa vậy

Đáp : Đúng . Bọn chúng là đồ chó chứ còn gì khác. Chúng chỉ là thứ tay sai rẻ tiền đốn mạt cho ngoại bang Nga Tàu chủ trương đánh kinh tế tư bản rồi nay chúng lại lạy và học theo kinh tế tư bản, sau khi đã giết chết và làm bị thương gần 5 triệu người hai miền nam bắc Việt Nam trong cuộc chiến tranh ngu ngốc

Hỏi : Có vẻ đã đi qúa xa bây giờ xin qúy ông trong nhóm Sỉ Phu Việt Nam cho biết về thủ đô tinh thần của người Việt hãi ngoại là Little Saigon Westminster tại Nam California Hoa Kỳ ?

Đáp : Cộng đồng Việt Nam miền Nam California bao gồm quận Cam ( Orange County ) quận Los Angeles ( Los Angeles County ) quận Riverside ( Riverside county ) quận San Diego ( San Diego County ) v. v. . . và thủ đô chính là Little Saigon Westminster với tổng số người Việt cư ngụ hơn sáu trăm ngàn người và đang tăng dần hàng ngày.

Đây là trung tâm người Việt đông nhất bên ngoài nước Việt Nam và hầu hết thành phần đầu nảo trí thức của nước Việt Nam trước 1975 đều cư ngụ ở quanh thủ đô nắng ấm thiên nhiên ưu đải này.

Hiện có non trăm ngàn chuyên gia người Việt sinh sống và làm việc rải rác toàn vùng đất lành chim đậu này và đang đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của California Hoa Kỳ và thế giới

Hỏi : Việt cọng thường gọi là người Việt quận Cam, chứ Việt cọng rất sợ gọi gom chung lại là thủ đô của người Việt hãi ngoại Little Saigon Westminster thì qúa lớn ?

Đáp : Đúng vậy.

 

 

Sỉ Phu Việt Nam

IMG_6181

Chuyên gia Trần Cư

https://siphuvietnam.wordpress.com

*

IMG_4633

*

QUỐC HỘI TAỊ VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ ?

*

IMG_4094

IMG_4094

IMG_4094

IMG_5355

IMG_5308

Hiện 85 triệu  dân Việt Nam trong ngoài nước gọi QUỐC HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ QUỐC HỘI KÝ SINH TRÙNG vì quốc hội ấy hiện chỉ toàn là đảng viên cọng sản đại diện cho ba triệu đảng viên đảng cọng sản chứ các thành viên đảng phái khác, hoặc khuynh hướng chính trị khác thì không được ứng cử vào quốc hội.

QUỐC HỘI KÝ SINH TRÙNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA BẤT CÔNG, GÂY RA TRẤN ÁP, GÂY RA MÓC NGOẶC KHÔNG AI KIỂM SOÁT NỔI, GÂY RA BÈ PHÁI CƯỚP BÓC KHẮP NƠI, GÂY RA CẢNH GIA ĐÌNH TRỊ LỘNG HÀNH MỘT PHƯỚNG , GÂY RA THAM NHỦNG HÀNG CHỤC TỶ ĐÔ LA, VÀ GÂY RA TÌNH TRẠNG NGUY NGẬP BÁN NƯỚC MUA DANH ĐANG LÀM NGUY HẠI CHO VIỆT NAM VÀ NGUY HẠI CHO CẢ THẾ GIỚI.

Nhóm Sỉ Phu Sử gia Việt Nam

https://siphuvietnam.wordpress.com

*

IMG_4633

*

 

Ý kiến người dân về vụ nổ mìn tại trụ sở Uy Ban Nhan Dan xã giữa đêm khuya 5/11/2013

*

 IMG_5339

Minh Nhân (Danlambao) – Một vụ nổ lớn vừa xảy ra tại trụ sở Uy Ban Nhan Dan  xã Nghi Long (Nghệ An), phá nát phòng làm việc của Bí thư Đảng ủy xã. Đây là vụ nổ diễn ra ngay sau các cuộc tập trận “chống khủng bố, bạo loạn” do Uy Ban Nhan Dan tỉnh Nghệ An tổ chức trên quy mô lớn. Thiệt hại về vật chất có thể không nhiều nhưng đây là một cảnh báo về sự “mục ruỗng, thối tha” của chốn công quyền và sự bức bách tột cùng của người dân trong những sự vụ gần đây ở Nghệ An.

Sáng ngày 5/11, Đại tá Trần Sỹ Phàng, Trưởng Công an huyện Nghi Lộc (Nghệ An) cho biết, vụ nổ xảy ra vào khoảng 2 giờ sáng ngày 5/11 tại trụ sở Uy Ban Nhan Dan xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc.

Vụ nổ có sức công phá lớn, làm nứt tường và hư hỏng một số vật dụng trong   phòng làm việc của Bí thư Đảng ủy xã Nghi Long.

Hiện công an đã phong tỏa và tiến hành khám nghiệm hiện trường để làm rõ vụ việc.

Một lãnh đạo Uy Ban Nhan Dan  xã Nghi Long có mặt tại hiện trường cũng xác nhận thông tin trên là có thật nhưng tâm trạng rất hoảng hồn và không biết diễn biến vụ việc cụ thể thế nào.

Nguyên nhân vụ nổ đang được công an huyện Nghi Lộc, Cong An tỉnh Nghệ An vào cuộc điều tra làm rõ, tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều người dân thì chỉ một câu đơn giản: “ Tức nước vỡ bờ”! Điều đáng nói, vụ nổ mìn xảy ra ngay sau khi nhà cầm quyền Nghệ An tổ chức những cuộc diễn tập với nội dung ”chống bạo loạn, khủng bố” với quy mô lớn, lên đến hàng ngàn người.

Minh Nhân

danlambaovn.blogspot.com

*

IMG_4633

*

Nhà báo Pháp Pierre Darcourt viết về những ngày giờ cuối của Việt Nam Cộng Hoà: Cơn Bão Lửa Tại Chiến Trường Xuân Lộc

09/04/201400:00:00

7

Ngày 19 Tháng Tư 1975

Ở đầu một đường bay, những người lính chữa lửa đang chữa cho một phi cơ phản lực 2 động cơ, bị trúng một hỏa tiễn SA.7 của Liên Xô lúc mới vừa cất cánh.Cạnh một chiếc xe vận tải tôi nhìn thấy 4 bao ny lông dài đã đóng kín. Đó là những gì còn nhặt lại được từ thân thể của phi hành đoàn 4 người.

Vào lúc 2 giờ trưa, tôi lại lên được một chiếc phi cơ vận tải “chinook” để bay lên vùng mặt trận. Tôi được tháp tùng với khoảng 40 anh em biệt kích người vạm vỡ, gọn ghẽ trong bộ quân phục đen, được trang bị súng phóng lựu và tiểu liên 45 ly ngắn nòng M3 A.1 bá xếp.

Huy hiệu mà họ mang trên tay áo là một con ó và một chiếc dù được thêu trong một hình tam giác, chỉ cho tôi biết họ thuộc lực lượng biệt kích dù Lôi Hổ (cọp bay). Đây là một đơn vị đặc biệt, chuyên hành quân ban đêm từng toán 3 người một, trong vùng địch, có nhiệm vụ tìm vị trí địch, các trục tấn công của địch, sau đó báo cho pháo binh và không quân bạn để có hành động phản ứng kịp thời.

Giờ đây tôi lại đang trên đường đi đến Xuân Lộc: đây là lần thứ ba trong tám ngày nay tôi lên khu vực nầy, mà lần nầy thì chuyến đi có vẻ thoải mái và anh em đoan chắc với tôi là đến một vị trí tương đối yên tĩnh và sạch sẽ hơn.

Chiếc trực thăng bay độ 15 phút thì đến vùng Xuân Lộc, bay trên quốc lộ 1 và ngoặc hẳn về hướng Đông, hạ thấp xuống độ 700 bộ đến một vườn cao su bạt ngàn thẳng tắp. Chiếc “chinook” xuống rất nhanh.

Từ trên nhìn xuống, Xuân Lộc ít nhất nếu còn gì thì cũng chỉ có một quang cảnh mờ nhạt. Rất lo ngại tôi ghi nhận là có nhiều chùm lửa, cột khói do đạn pháo cứ rơi đều xuống vòng đai đã bị tàn phá. Chiếc “chinook” của chúng tôi hạ cánh đáp xuống làm tung bụi mù đỏ thẳm.

Khoảng 50 người dân rách rưới chạy lại bao quanh chiếc trực thăng. Có nhiều người đã bị thương; và vẫn một cảnh tượng cũ: các bà mẹ bế con trẻ áo quần đầy máu, vẻ mặt hốt hoảng đang muốn đi khỏi đây. Một chiếc xe Jeep, chạy gần như nhảy qua các đống gạch vụn, chở tôi đến một trạm cứu thương.

Mỗi một làn gió nhẹ đưa tới là có một mùi hôi thối kinh người từ mấy trăm xác chết của Cộng Sản Bắc Việt đầy ruồi nhặng xông lên. Một người y tá nói với tôi: “Chúng tôi làm gì có thì giờ để chôn cất họ, chỉ kịp rải lên mình họ một lớp vài vá cát đá vụn mà thôi”.

Ở trạm cứu thương nầy đầy những quân nhân bị thương. Có hai vị bác sĩ trẻ đang làm những gì mà họ có thể làm được dưới một ánh đèn mờ màu xanh. Họ gọt, họ cắt xén, khâu lại, hay cưa bỏ. Có nhiều người mang những vết thương kinh hoàng đầy mủ trắng. Các tay chân bị cắt được vất lẫn lộn vào một thùng phuy xăng mà các anh y tá đã mang tới lúc còn đầy xăng. Các mảnh vụn khác thì được chôn ở một hố được đào lên cách đó chừng 20 thước có tưới thuốc khử trùng và được lấp đất lại cẩn thận..

Ngoài sân trời đang vần vũ, mấy đám mây đen kịt đang là đà dưới chân trời. Cơn bão lại sắp đến. Tôi cố tìm Đại Tá Phước, chỉ huy trưởng đơn vị Biệt Động Quân. Một trung sĩ cho tôi biết là ông đang ở gần nhà bưu diện, nơi sắp có cuộc đụng độ mạnh.

Mưa đã bắt đầu rơi nặng hột xuống mảnh đất khô khan đầy máu nầy, và sau đó thì mưa to, mưa quá to và chỉ trong vài phút đã làm ướt ngập trũng hết nơi đây. Anh em binh sĩ ai cũng phải choàng áo đi mưa vào. Hằng đàn chuột to từ những lổ cống hay từ các bức tường sập tuông ra. Có đến hằng ngàn con xám đen, từng đàn, lì lợm tuôn ra từ những đống thây ma chôn vội vàng.

Một sĩ quan Biệt Động Quân dẫn tôi đi và bắt tôi phải ẩn nấp trong một hầm trú ẩn lụp xụp trong đó có khoảng một tiểu đội với súng liên thanh nhẹ được bố trí đạn đã lên lòng.. Viên trung úy liên lạc vô tuyến.

Mưa càng ngày càng to. Các anh em binh sĩ dù nằm hay ngồi dựa lưng sau bức tường sập tất cả ai cũng đều trong tư thế sẵn sàng chờ chiến đấu. Vào lúc cơn mưa bão đang hoành hành, một tràng đạn rốc-kết bay xuống nhà bưu điện và tất cả những vùng quanh đó. Tất cả phải chen nhau xuống hố chiến đấu đầy bùn đầy nước nhầy nhụa hay nấp trong những ô tường không nóc để chịu trận, nghe tiếng gầm rú xé tai và tiếng nổ chát chúa của các quả rốc-kết.Và sau rốc-kết lại đến phiên đạn bách kích pháo, khô khan hơn, chát tai hơn và chính xác hơn.

Và thình lình, nhìn xuyên qua cơn mưa tầm tã, xuất hiện những bóng người mặc quân phục xanh sậm. đội nón cối tròn, sát cánh nhau đi tới: đó là bộ đội Bắc Việt đang tấn công. Họ đến từ dường rày xe lửa. Viên trung úy ra hiệu và các súng liên thanh bắt đầu đua nhau nhả đạn. Toán nầy ngã gục nằm xuống lại có toán khác tràn lên. Họ tiến vào bưu điện.

Người ta nghe được nhiều loạt nổ của lựu đạn trong nhà bưu điện, và hai tiếng nổ thật lớn sau đó. Một mảnh tường bay lên vụn vằn. Đó là 2 tên đặc công Cộng Sản đang mở đường bằng cốt mìn. Một toán người nhỏ thó đang tràn vào nhà bưu điện. Cùng lúc với cứ điểm nầy, nhiều loạt tấn công khác đã được tiến hành. Cộng Sản Bắc Việt hiện đang ở thế mạnh. Ít nhất cũng phải đến một tiểu đoàn. Họ bắn liên tục không ngừng.

Lần xung phong sắp tới, chắc là đến lượt chỗ của chúng tôi. Nhưng một hàng rào chính xác và hữu hiệu của đạn pháo 105 ly trên chiến xa ở phía sau chúng tôi chừng 800 thước đã cứu vãn tình thế. Những trái đạn đi rồi nổ trước mặt chúng tôi làm chúng tôi muốn ngưng thở, nhưng đã sát hại kinh khủng hàng ngũ của Cộng Sản.

Qua 10 phút bắn cuốn chiếu, pháo đội ngưng bắn. Các Biệt Động Quân ra khỏi hầm trú ẩn và phản công. Những gì còn lại của nhà bưu điện đang cháy như một ngọn núi lửa. Đến 5 giờ chiều, tất cả coi như xong.. Chu vi bãi chiến trường gần như quang đãng, cơn bão cũng đã qua, bầu trời lại xanh trở lại. Một sự yên tĩnh không tả được đang ở đâu đây, chung quanh chúng tôi.Chỉ có một con chó phèn duy nhất đang đau khổ chạy quanh khu nhà sập đổ nát, kêu la ầm ĩ vì bị các mảnh đạn trên lưng.

Tôi quay trở lại bản doanh của sư đoàn. Dưới chân của tượng Chúa trước nhà thờ, một anh lính Dù đội mũ nồi đỏ đang quì cầu nguyện, hai tay chấp lại nhưng vẫn tì trên khẩu súng của mình..

Tôi có cảm tưởng là thành phố nầy đã bị cày xới lên bằng máy ủi. Tất cả chỉ còn là những đống gạch vụn của các bức tường đổ nát, các tấm tôn và gạch vữa bị nhào đi nhào lại với nhau rải rác thành từng đống một, và trên tất cả là chiếc thánh giá của nhà thờ với tường lỗ chỗ dầy vết đạn, và những lỗ hổng tác hoác.

Trong dãy nhà của trường đạo đầy lỗ thủng đạn, tôi gặp Đại Tá Hiếu, 40 tuổi, quân phục vẫn láng cót, với chiếc nón vải đi rừng nhưng vẫn có khẩu súng lục đeo ngang lưng. Ông rất tự hào về trung đoàn 40 của ông, đơn vị đang phòng thủ cả mặt Nam của thành phố. Ông ta nói: “Anh biết không, chúng tôi có thể đánh họ chớ sao không. Chúng tôi đã đẩy họ ra khỏi thành phố rồi đấy chứ, và chúng tôi không rời khỏi thành phố nầy đâu. Giả thiết mà chúng tôi có được một số đại bác 130 quỷ quái mà họ dùng để nã vô tội vạ vào chúng tôi!

Tinh thần dù sao cũng vững lắm, chúng tôi đã lãnh đủ 12 ngàn quả đạn pháo và ba ngàn quả rốc-kết từ ngày 9 tháng 4 đến nay. Cộng Sản đã tấn công chúng tôi 6 trận trong 8 ngày nay. Chúng tôi đã đẩy lui được hết, nhưng trận tấn công quyết liệt nhất chưa đến đâu. Tôi chắc chắn là nó cũng sẽ đến gần đây thôi. Trong vài ngày nữa đây, thế nào họ cũng gom lực lượng của họ lại bằng cách tập trung các sư đoàn được rảnh tay sau khi các tỉnh ở miền Trung bị thất thủ, và đây có lẽ sẽ là trận chiến cuối cùng.

Nếu chúng tôi chịu không nổi, thì Sài Gòn chắc không đứng được lâu đâu.” Sau hai giờ tôi vừa sống ở đây, thật tình tôi không muốn nghĩ tới “trận chiến cuối cùng” nó sẽ như thế nào. Phía ngoài, giữa nhà thờ và những gì còn lại của các văn phòng hành chánh, các chiến binh Dù, những người đã đụng trận nặng hồi đêm qua, đang nằm dài nghỉ ngơi dưới đất ở bìa sân bay.

Có 3 người trong số nầy gác súng của họ vào môt cái cây và họ ngồi cạnh nhau, vừa đàn guitar vừa hát nho nhỏ theo tiếng đàn.. Trông họ cũng đã có tuổi rồi… Tôi rảo chân đi về phía chợ. Binh sĩ thuộc khu phòng thủ trung ương nầy được rải dài ra trên năm trăm thước khỏi nhà thờ (đã bay hết nóc, kính thì củng vỡ tan, tường rạn nứt), nằm vững chắc trong những hầm núp kiên cố, có bao cát che đầu được sắp trên các tấm đan bằng bê-tông, tất cả đều có đường dây điện thoại chôn duới đất nối liền với nhau.

Các vị trí nầy đều tua tủa súng liên thanh, súng phóng hỏa tiễn chống chiến xa, và đại bác không dật. Các chiến xa M.48, có trang bị đèn chiếu hồng ngoại tuyến cho đại bác để tác chiến ban đêm đang bố trí dài theo hai bên bệnh viện có một đại đội Dù trấn giữ.

Đến 6 giờ chiều thì tôi mới được gặp Đại Tá Phước, ông đi thanh sát các tiền đồn vừa mới trở về. Là một sĩ quan với diện mạo và tướng đi trông rất trẻ trung, 39 tuổi, người chắc nịch như một trụ đá, ông Phước không bao giờ đeo súng hay nón sắt tác chiến. Chúng tôi đã biết nhau từ trận tấn kích Tết Mậu Thân của Cộng Sản. Lúc đó ông chỉ huy các liên đội Biệt Động Quân đến thay thế các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ở Chợ Lớn. Ông đã có tiếng là một sĩ quan đặc biệt liêm khiết, ham tiến chớ ít chịu lùi, nhưng biết tiết kiệm gìn giữ từng mạng sống của binh sĩ mình.

Sau đó tôi lại gặp ông ở Neak Luông, nơi đó các đơn vị miền Nam đã thiết lập một căn cứ lớn trong chiến dịch tấn kích lên CampuChia. Đại Tá Phước nắm tay tôi và nói: “Vào đây, vào phòng hành quân của tôi, chúng mình sẽ ăn một chén cháo gà với nhau đã. Tôi chưa có ăn gì cả từ sáng đến giờ, đói muốn chết đây bạn ” Đại tá Phước rót thêm một tách trà, hớp từng ngụm và tiếp tục: “Trước hết, chúng tôi thiếu cái gì ? Đó là một sư đoàn hành quân di động tốt. Bao giờ chúng tôi mới thật sự đánh úp họ được và bẻ gãy các cuộc tấn công của họ được. Nhưng chúng tôi không

– “Như vậy là anh tới thăm tôi ? Tướng Đảo có nói với tôi là anh đã tới đây 3 hôm trước. Ê, được lắm ! Tình hình càng ngày càng quyết liệt hơn rồi đó. Trên phương diện giá trị chiến đấu của binh sĩ, tôi không có gì lo ngại hết. Anh em Dù và Biệt Động Quân đều có cú đấm của mình, và sư đoàn của tướng Đảo là một đơn vị ưu tú.

Trước mặt chúng tôi là bộ đội Bắc Việt còn rất trẻ nhưng thiếu kinh nghiệm hơn chúng tôi, nhưng họ có quân trừ bị quan trọng, và có lực lượng tăng cường cho họ đều đều. Vì không có đầy đủ quân số cần thiết nên chúng tôi phải nằm cứng ở thế phòng ngự và vì thế bị chúng nó tấn công có phương pháp. Kết quả là chúng tôi phải đào lỗ và sống như những con chuột chù và thiết trí những hầm trú ẩn hay đường hầm tác chiến!

Tướng Đảo đã cố gắng gần một tuần nay để đem về lại Trung đoàn 43 của ông (trung đoàn thứ ba của sư đoàn ) đang bị cầm chưn ở Củ Chi. Bộ Tư Lệnh đã từ chối, và ông rút trung đoàn về không được. Nhưng còn một bài toán rất trầm trọng hơn nữa, đó là vấn đề tiếp vận. Tôi sẽ cho anh một vài con số.

Kỳ tới: Trận thử nghiệm bom CBU 55 tại Xuân Lộc

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Viết Về Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà: Trận Bom CBU 55 Xoá Sổ Trung Đoàn VC

10/04/201400:00:00

1

Đại tá Phước rót thêm một tách trà, hớp từng ngụm và tiếp tục:

“Như vậy là anh tới thăm tôi?

Tướng Đảo có nói với tôi là anh đã tới đây 3 hôm trước.

Ê, được lắm! Tình hình càng ngày càng quyết liệt hơn rồi đó. Trên phương diện giá trị chiến đấu của binh sĩ, tôi không có gì lo ngại hết. Anh em Dù và Biệt Động Quân đều có cú đấm của mình, và sư đoàn của tướng Đảo là một đơn vị ưu tú.

Trước mặt chúng tôi là bộ đội Bắc Việt còn rất trẻ nhưng thiếu kinh nghiệm hơn chúng tôi, nhưng họ có quân trừ bị quan trọng, và có lực lượng tăng cường cho họ đều đều. Vì không có đầy đủ quân số cần thiết nên chúng tôi phải nằm cứng ở thế phòng ngự và vì thế bị chúng nó tấn công có phương pháp. Kết quả là chúng tôi phải đào lỗ và sống như những con chuột chù và thiết trí những hầm trú ẩn hay đường hầm tác chiến!

Tướng Đảo đã cố gắng gần một tuần nay để đem về lại Trung đoàn 43 của ông (trung đoàn thứ ba của sư đoàn ) đang bị cầm chưn ở Củ Chi. Bộ Tư Lệnh đã từ chối, và ông rút trung đoàn về không được.

Nhưng còn một bài toán rất trầm trọng hơn nữa, đó là vấn đề tiếp vận. Tôi sẽ cho anh một vài con số. Hiện giờ cấp số đạn của chúng tôi, mỗi binh sĩ chỉ có được 100 viên đạn và hai trái lựu đạn mỗi ngày. Với khẩu súng tự động M.16 (nhịp bắn thực dụng là 400 viên / phút) 100 viên đạn thật ra là không có gì cả!

Lúc còn người Mỹ ở đây, không có một binh sĩ nào có dưới 400 viên đạn khi đi hành quân. Cấp số tổng quát cho vòng đai phòng thủ là 15 tấn.

Với 20.000 người trên mặt trận, thì phải có 50 khẩu pháo binh, chưa kể bách kích pháo, như vậy là chỉ tính cho một giờ tác xạ mà thôi đó nghen. Anh em pháo thủ của chúng ta không thể nào thực hiện được những tác xạ “ngăn chận” nhằm dùng hỏa lực của mình để đánh vào những trục tiến quân của địch và ngăn chận được sự tập trung của địch ở những tuyến xuất phát.

Chúng tôi xoay sở bằng cách gài mìn cá nhân và tăng các đội tuần tiễu của Biệt Động Quân trên những đường tiến sát hay đường xâm nhập của địch mà thôi. Khi họ ghi nhận hay khám phá được một sự di chuyển của địch thì họ gọi Không quân. Còn thì chúng tôi phải ấn định một kỷ luật tác xạ thật khắc nghiệt.

Pháo binh chỉ tác xạ chận các đợt xung phong của địch, và bộ binh thì chỉ bắn diệt địch thật hữu hiệu ở tầm gần. Đây là một chiến thuật có nhiều nguy hiểm bởi vì mình phải chờ cho các làn xung phong của địch đến thật gần, ở cự ly xáp lá cà mới được bắn.

Hiện giờ thì coi như cũng được đi vì binh sĩ của chúng tôi toàn là dân thiện chiến, không hốt hoảng và chịu nằm yên dưới làn đạn pháo binh của địch. Nhưng chuyện đó không thể kéo dài tuần nầy qua tuần khác dài dài như vậy được.

Chúng tôi mất từ 60 đến 80 mạng hằng ngày như vậy, chỉ tính riêng cho Dù và Biệt Động Quân thôi đó. Và một người lính thiện chiến già dặn khó mà tìm được người thay thế lắm !

– Anh đã bi quan rồi sao đó?

Phước nở một nụ cười có vẻ ngạo nghễ:

” Bi quan hả? nó có nghĩa gì?

Chúng ta đang ở trong thời chiến. Không có ba mươi sáu giải pháp đâu. Chỉ có thắng, hay bại hay chết mà thôi.

Tướng Đảo có chín người con, tôi thì có năm. Gia đình chúng tôi ở Sài Gòn. Cả anh em binh sĩ của tôi cũng vậy…. và chúng tôi không muốn bị bọn Bắc Việt khốn kiếp nầy đè bẹp. Có thế thôi.

Đại Tá Phước đứng dậy và bước lại đài vô tuyến truyền tin của ông. Tôi còn ngồi lại một mình ở cái phòng nhỏ còn có được một cây đèn măng- sông đang chiếu lên tường cái bóng chập chờn của bình trà. Ở ngoài, đêm thật là yên lặng.

Ở về hướng Gia Kiệm, tiếng súng đại bác vẫn rền vang như một cơn bão xa xăm. Đại Tá Phước trở lại với một chén cà phê nóng. Ông đặt chén cà phê lên bàn và nói với tôi:

“Nầy, cái nầy tốt cho anh đó, anh Pierre ! Anh em Lôi Hổ đã thành công, họ đã tìm và định được vị trí của một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt đang di chuyển khoảng 10 cây số cách quận lỵ. Nếu Lôi Hổ mà định được chính xác đúng dường đi của trung đoàn nầy thì chúng tôi sẽ dập tan họ bằng Không Quân trước khi họ mở cuộc tấn công. Như vậy sẽ tiết kiệm được cho chúng tôi một cuộc chiến không mấy tốt.

Trong khi chờ đợi, tôi không có quyền đi ngủ..” Sự bình tĩnh quá cứng rắn của vị sĩ quan nầy được thể hiện rõ trên nét mặt điềm nhiên của một người có thói quen nhìn thấy trước một việc không tốt sẽ xảy đến cho mình mà vẫn bình thản để có giải pháp đối đầu…xem rất là cảm động. Lát sau, một đại úy đến đứng nghiêm, chào Đại Tá Phước và trình:

– ” Thưa đại tá, có “Lôi Hổ 6? gọi. Đại Tá Phước nhảy lên gọn gàng và chạy lại trung tâm truyền tin của ông. Có một giọng nói chắc nịch đang bình tĩnh báo cáo: “Một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt đang tập trung ở 5 cây số về hướng Đông Bắc trước khi xuất phát. Tiền sát của họ đã nằm ở cách sân bay khoảng 2 cây số. Có hai tiểu đoàn chiến xa yểm trợ. xin đại tá ghi giùm tọa độ đi.”

Phước ghi vội tọa độ và cho lệnh ngay, ngắn gọn: “Tránh ngay khỏi trục tiến quân của họ. Hết ” Sau đó ông báo động ngay cho Biên Hòa, tin tức, tọa độ, và xin một “yễm trợ nặng”. Sau đó ông mới liên lạc và chuyển hết tin tức cho Pháo Binh. Tôi bước ra khỏi nhà xe. Bên ngoài, trời về đêm vẫn yên tĩnh, thỉnh thoảng chỉ nghe một vài tiếng động nhỏ dều đều của tiếng vá đào đất, chắc hẳn là binh sĩ đang tu bổ các hầm trú ẩn của họ..

Mười phút trôi qua, Có tiếng máy nghe được xa xa, trên trời cao. Pháo binh bắt đầu tác xạ. Có tiếng kẻng khua, tiếng đạn đi ngang qua và vài giây sau đó là những tiếng nổ inh tai. “Họ bắn dài để chận đường rút lui của trung đoàn địch và che lấp tiếng phi cơ bay đến” Đại Tá Phước theo đứng bên cạnh tôi và nói. Có ba vừng ánh sáng liên tiếp lóe lên cao, và ba tiếng nổ kinh hồn như những trái đạn của hải quân, cửa nhà xe rung lên ba lần..Chúng tôi nhìn thấy có mấy ánh lửa lóe lên nhưng ngay sau đó bị các cột khói lên che lấp ngay, mấy chiếc nấm lớn khói đen kịt hình như đang tụ lại bao vòng một khỏang lớn của chân trời….

Pháo binh đã ngừng bắn. Đại Tá Phước trở lại đài chỉ huy vô tuyến. Hai chục phút trôi qua. Có tiếng gọi của Lôi Hổ trên đài. Bây giờ là 1 giờ sáng rồi. – Đơn vị Bắc Việt bị đánh trúng rất nặng. Có vài tên sống sót đang chạy tán loạn. Thống kê kinh hoàng! Đại Tá Phước dùng vô tuyến cho lệnh hai tiểu đội biết động của ông tiến chiếm và tảo thanh vùng vừa bị dội bom. Ông xây qua tôi và nói:

-Anh có thể vào ngủ yên, sẽ không có gì xảy ra nữa trong đêm nay. Bọn chúng phải cần có một thời gian mới có thể tiêu hóa xong những trái “C.B.U. 55? nầy.

– Anh muốn nói những trái “Cluster Bomb Unit”? Tôi cũng đã biết chúng nó rồi. Đó là loại bom có nhiều miển, chống cá nhân, được thả từng chùm, khi đụng đất, nổ tung ra nhiều trái đạn nhỏ bằng trái banh tennis phải không ?

Loại bom nầy gây nhiều thiệt hại đáng kể… Đại Tá Phước đưa tay chận tôi lại ngay:

– Loại CBU.55 nầy cũng được thả từng chùm, nhưng là một loại bom đặc biệt, cho đến giờ nầy chưa bao giờ được xử dụng.

– Anh nói “đặc biệt”, nó có nghĩa gì đây?

– Tôi không muốn giải thích chuyện đó bây giờ cho anh nghe đâu. Anh sẽ thấy rõ kết quả ngày mai khi trời sáng. Chúng ta sẽ đến đó xem tận mắt. Bây giiờ anh hảy đi ngủ đi.”

Tôi đến nằm trên một chiếc chiếu và ngủ ngon lành. Đến 6 giờ sáng, có người đánh thức tôi dậy. Tôi nhận ra đó là viên đại úy hồi hôm. “Đại tá tôi đang chờ ông.” Chúng tôi đi bằng xe Jeep. Ba cây số về hướng Đông Bắc, và sau đó chúng tôi xuống xe và có ba anh Biệt Động Quân vai choàng đại liên M.60, mình mang đầy mấy giây đạn hướng dẫn chúng tôi đi. Và thình lình giữa những hàng cây trụi lá, một cảnh tượng thật rùng rợn, như một ảo tưởng! Trong một khoảng trống mỗi bề độ 100 thước, hằng trăm bộ đội Bắc Việt không còn hình dạng rãi rác cùng khắp nơi. Một chiến xa bị lật ngữa. Các tử thi không thấy có một vết thương nào trên mình. Chỉ thấy cò vài vết máu chung quanh mồm và mũi. người ta có thể nói là họ bị một cơn lốc cuốn lên cao và ném họ nằm bẹp xuống đất. Đại Tá Phước giải thích:

– CBU.55 là một loại bom “rút hết khí trời”. Công thức của nó còn là “tối kín / mật”. Bộ Tham mưu chỉ cho biết là nó “đốt” hết dưỡng khí trong không khí và làm cho tất cả đều ngộp thở, chết tức khắc.Thông thường thì dưỡng khí chỉ là một nhiệt khí, (có nghĩa là không thể cháy được). Theo tôi thì loại bom CBU.55 nầy đốt hết không khí, gây ra sự bùng nổ mãnh liệt tạo ra một làn sóng va chạm cực mạnh làm vỡ hết buồng phổi, và những người chết không có một dấu vết gì gọi là thương tích trên thân thể.

(*) Dầu muốn dầu không thì kết quả thật khủng khiếp. Tất cả cây cối bị thổi bay hết lá cùng tất cả bộ đội bất thần bị chết chung trong một thời gian không đến một giây… tất cả để lại một cảm tưởng như một đoạn phim kinh hoàng do các nhà phù thủy bí mật của phòng nghiên cứu đạo diễn. Nhưng đây thật sự không phải một màn hay một cảnh trong phim, và người chết ở đây không phải là những hình nộm!

Tôi vội vã ra đi…. Vào lúc 8 giớ một trực thăng đưa tôi về lại Biên Hòa. Trực thăng có chở một lô binh sĩ bị thương, ở bụng, ở đầu. Có nhiều người bị bể cặp mắt.

*Chú thích của dịch giả DHN Theo giải thích chánh thức của một đại tá Hoa Kỳ, cố vấn trưởng cho một tiểu khu ở đồng bằng sông Cửu Long: loại bom nầy khi đến gần mặt đất khoảng 100 thước thì có một chiếc dù bung ra, còn cách mặt đất chừng 10 thước thì nổ. Bom không có miểng, không giết người bằng mảnh bom. Nhưng khi nổ sẽ “hút” hết dưỡng khí trong một vùng khoảng 1 cây số đường bán kính. Tất cả mọi sinh vật nào ở trong vòng ảnh hưởng nầy đều tức khắc không còn dưỡng khí để thở, (kể cả cây cối, nên lá phải rụng hết), bị trào máu ra miệng và mũi chết ngay tức khắc (kể cả những người ở dưới hầm sâu dưới đất). Chẳng những không có một vết bị thương nào trên người mà chết trong tư thế tự nhiên (như đang ngồi, nằm, hay đứng, đi v,v,).

Nguyên văn trong sách tác giả dùng danh từ “đốt” nhưng sự thật phải nói là “hút đi” mới đúng. Loại bom nầy được giao cho Hải Quân Hoa Kỳ thí nghiệm lần đầu tiên năm 1972 ở đồng bằng sông Cửu Long.

Kỳ tới: Ba Ngô Bá Thành & Lực lượng thứ ba

*

IMG_4633

*

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Viết Về Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà: Về Bà Ngô Bá Thành & Lực Lượng Thứ Ba

11/04/201400:00:00

1

Thành phố Sài Gòn đầy rẫy tin đồn:

Hoa Thạnh Đốn đã quyết định tiến hành nhanh chóng cuộc hành quân di tản công dân của họ. Những chuyến di tản đầu tiên đã được bắt đầu vào ngày 10 tháng 4, khi hầu hết những xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ (các hảng Hàng Không, các công ty xăng dầu, và công ty đang có những công tác lớn) đã có quyết định cho hồi hương các cán bộ và nhân viên của họ.

2000 người Mỹ và 6000 người Việt (các chuyên viên kỹ thuật và gia đình của họ) đã được đi sang Hoa Kỳ. Trong tuần lễ từ 14 đến 20 tháng 4, các phi cơ vận tải khổng lồ thuộc cầu không vận quân sự của Ngũ Giác Đài, chuyển quân dụng thay thế cho quân đội Miền Nam (2 liên đội pháo binh, một số cao xạ phòng không và 2 tiểu đoàn chiến xa ) lượt về sẽ được xử dụng để chở những người dân tỵ nạn.

Các phi cơ có khả năng chuyên chở nhiều người, loại Galaxie, Starfighter và Hercules. sẽ bốc đi trong 6 ngày khoảng 20.000 người Việt Nam tỵ nạn, và 2000 người Mỹ. Nhưng cũng còn hơn 5000 người Mỹ ở Sài Gòn và Bộ Ngoại Giao ước tính có khoảng 130.000 người Việt Nam mà “tánh mạng bị Cộng Sản đe dọa” cần phải được di tản. Như vậy con số người phải được bốc đi củng không phải nhỏ.

Vào hồi 1 giờ trưa, tôi biết được là có một điện tín của hảng thông tấn UPI loan báo là Xuân Lộc đã bị thất thủ. Tin nầy ở đâu ra? Tôi vẫn còn ở Xuân Lộc chỉ cách đây vài giờ, lúc đó binh sĩ còn giữ chặt vị trí của họ kia mà… Tin tức nầy dù sao cũng đã được tung ra khắp thành phố như một giây thuốc pháo và tinh thần của dân chúng do đó đang bị một cú sốc.

Tôi cố gắng liên lạc được bằng điện thoại với Đại Tá Xuân ở phòng nhì. Ông ta xác nhận là “Xuân Lộc chưa bị mất, nhưng từ 10 giờ sáng nay Cộng Sản Bắc Việt đã nã vào thành phố điêu tàn nầy bằng pháo binh nặng 130 ly với nhịp độ 2000 quả trong một giờ.

Để tránh bị thiệt hại quá nặng về nhân mạng, binh sĩ của tướng Đảo và anh em Biệt Động Quân đã di tản khỏi đống gạch vụn nầy để ra nằm bố trí chung quanh thành phố. Nhưng mặt trận Xuân Lộc chưa bị chọc thủng, chiến trận vẫn còn đang tiếp diễn, liên lạc vô tuyến vẫn chưa bị gián đoạn.

Bắt đầu buổi trưa, tôi đi thăm bà Ngô Bá Thành, một người đàn bà nhỏ con đang ở trong một biệt thự khiêm nhường ở trung tâm thủ đô, bên cạnh dãy nhà của những người Pháp và được nằm trong khu vực do tòa đại sứ Pháp bảo vệ như những tấm bảng yết thị mới được thấy dán ở ngoài.

Là một mưu sĩ của “lực lượng thứ ba”, bà tiếp khách thường xuyên ở ngoài vườn, nhất là những nhà báo ngoại quốc. Bà đỗ ba bằng tiến sĩ luật học (Pháp, Hoa Kỳ và Bồ đào Nha), nói được nhiều ngoại ngữ, bà là Chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ đòi Quyền Sống”, một trong nhiều tổ chức đào tạo về công dân, về tôn giáo và về nghiệp vụ trong “Tổ hợp 36 chợ của Sài Gòn” thuộc phong trào chống tham nhũng, dự định sẽ ngồi giữa CPLTCHMN và chánh quyền Sài Gòn trong Hội Đồng Hòa Giải Quốc Gia được dự trù trong Hiệp Định Ba Lê.

Là một địch thủ hăng say của Tổng Thống Thiệu, điều làm cho bà phải 4 lần vào khám, bà Thành hiện bị quản thúc tại gia. Báo chí Mỹ trong những tháng gần đây đã từng lên tiếng ồn ào về vấn đề “giải phóng phụ nữ” của bà, đã cho biết là bà hiện đang bị canh phòng cẩn mật.

Thế nhưng con trai của bà, một người trẻ tuổi, cao lớn, tóc để dài, là lính đào ngũ mà vẫn sống kín đáo trong nhà nhiều tháng nay mà không sợ gì cảnh sát hết…. Là con gái của một nhân sĩ Miền Bắc, chồng là một bác sĩ thú y dễ dãi và sống âm thầm, bà Thành là một người tranh đấu tiến bộ, quả quyết nhưng ương ngạnh.

Bà nói với tôi:

“Thiệu đã ở thế cùng rồi, Số phận của ông ta được tính từng giờ. Ông ta dựa vào người Mỹ và quân đội. Người Mỹ đã bỏ rơi ông ta, và quân đội thì đã tan rã rồi. Sĩ quan và binh sĩ đã chán ghét ông ta rồi. Có lẽ ông không biết là các binh sĩ ưu tú – Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến – có nhiệm vụ bảo vệ nơi chôn nhau cắt rún của ông ta gần Phan Rang, đã nổi dậy và đã dùng chất nổ để phá tan mồ mả của gia đình ông ta rồi. Việc phá nát mộ phần của cha mẹ ông bà của ông ta là một sự chối bỏ nghiêm khắc đối với Thiệu và tất cả những gì ông hiện đang nắm giữ.

Ở Việt Nam, nơi mà sự thờ cúng ông bà là nền tảng của Tôn Giáo của chúng tôi, không có một sỉ nhục to lớn và nghiêm trọng nào như sự xúc phạm như thế. Đó vừa là một sự chửi rủa, vừa là một sự khinh bỉ hoàn toàn và là một lời nguyền rủa nữa..

Còn về ông Kissinger, thì mới chiều hôm qua đây, ông đã tuyên bố một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa “Hoa Kỳ chúng tôi ủng hộ một chánh phủ Miền Nam Việt Nam, nhưng không ủng hộ đặc biệt một cá nhân nào ca. ” Quá rõ rồi phải không ?

Hơn nữa, những ngày sau cùng nầy, đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin và đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đã tấn công ông Thiệu để bảo ông ta hãy rút lui đi, và nhường chỗ lại cho một toán khác có khả năng chận đứng được chiến cuộc lại.”

Ông Ngô Bá Thành mời khách dùng trà trong những cốc đẹp màu xanh với cử chỉ chậm chạp giống như các bà, mà không hề nói một tiếng nào. Vợ ông mặt rạng rỡ, cặp mắt sáng ngời, lại tiếp tục đánh tiếp với những luận điệu của bà:

“Ông Thiệu bao giờ cũng chỉ biết nghĩ đến tương lai qua một cuộc chống trả cực đoan và một chiến thắng quân sự. Sự tan rã của quân đội ngay tại chiến trường đã lên án ông không chống đỡ nổi. Ông cứ khư khư tin rằng Hoa Kỳ không bao giờ bỏ rơi ông..

Ông không để ý tớí những chuyện thay đổi đã xảy ra ở bên Hoa Kỳ. Từ hai năm nay, dân chúng Hoa Kỳ đã gạch bỏ hai chữ Việt Nam rồi. Quốc Hội đã từ chối không bỏ phiếu cho mọi viện trợ quân sự và họ đã gạt hẳn ra ngoài việc cho phép tái can thiệp bằng võ lực.

Ông Ford là một Tổng Thống được chỉ định chớ không phải do dân bầu, nên không có đủ phương tiện để có thể giữ lời hứa của ông Nixon được.

Còn Kissinger hả ? ông ta là một con người quá thực tế nên đâu có dại gì đi khư khư bênh vực khi đã nắm chắc phần thua?

“Quân đội nhân dân giải phóng” chỉ còn không đầy một tiếng đồng hồ nữa trên đường đến Sài Gòn rồi. Và Hoa Thạnh Đốn cũng dư biết là vài trăm triệu Mỹ kim, vài trăm chiến xa hay đại bác thêm nữa cũng đâu có cứu được nước Việt Nam của ông Thiệu ? Nhiều lắm là nó chỉ có thể kéo dài giây phút hấp hối của một kẻ sắp chết mà thôi…. ”

Bà đưa ngón tay trỏ chỉ ngay tôi và nói với một giọng đổ lỗi: “Các nhà báo nước Pháp của anh – ngoại trừ các phóng viên của tờ Le Monde – đều không biết làm công việc của họ. Phải đập ông Thiệu. Phải tố cáo những tội sát nhân của ông ta, tố cáo chế độ cảnh sát trị của ông ta. Các anh phải giúp chúng tôi mở cửa các nhà tù đang nhốt 200.000 tù nhân chánh trị.

Và hơn thế nữa các anh không đặt nặng tầm quan trọng và một chỗ đứng cho “lực lượng thứ ba” của chúng tôi. Lực lượng nầy có thực, các anh phải thấy rõ là nó có một vai trò chánh trị quan trọng trong đất nước chúng tôi, trong một tương lai rất gần đây thôi. Ngay như những người Cộng Sản, họ củng nhìn nhận là họ phải nghĩ đến chúng tôi.”

“Thưa bà, các nhà báo Pháp, chưa bao giờ tỏ ra quá mềm dịu đối với Tổng Thống Thiệu đâu. Nhưng chúng tôi không có phận sự phải đề cao một phong trào chánh trị và cho phong trào nầy một tầm vóc hay một sự kết hợp mà nó vốn không có. Về vấn đề tù chánh trị, thì con số 200.000 là con số thật sự được Hà Nội, và phe đối lập của ông Thiệu thổi phồng lên.

Con số 200.000 nầy đã nhiều lần được báo chí Tây Phương nhắc đi nhại lại nhưng không bao giờ được Hội Hồng Thập Tự Quốc tế củng như hầu hết các Hội Nhân Quyền quốc tế thuộc các tổ chức Tôn Giáo hay không Tôn giáo xác nhận, dù là tất cả đều rất quan tâm đặc biệt đến vấn đề nầy trong 2 năm gần đây.

Theo thống kê thì nhân số trong tất cả các nhà tù của Miền Nam Việt Nam (kể cả các người bị nhốt tạm ở các xã ấp đến những tù nhân đang bị giam giữ ở các nhà lao lớn ở Côn Sơn) đều không quá con số 36.000 người… ” Bà Ngô Bá Thành nhảy dựng lên, giận dữ, tuông ra một tràng:

“Thật là đê tiện, quá buồn cười, Sai! và hoàn toàn sai bét!” Gương mặt bà thay đổi thình lình, mặt mày nhăn nhó…bà ho lên một tràng dài, ho và nấc lên từng cơn, rung động cả người.

Bằng một giọng đau khổ lẫn trách móc, chồng bà nói với tôi :

“Lẽ ra ông không nên nói những điều nghịch ý với vợ tôi. Bà vợ tôi đang rất hào hứng khi nói về vấn đề chánh trị. Bà không thể chịu nổi những điều trái ngược với ý của bà ta. Bà ta giận ngay, nhanh lắm, khó chịu lắm và cơn suyễn lại kéo đến và bà ta sẽ ngộp thở. Mỗi lần như vậy là tôi phải cho bà một liều thuốc kháng sinh (nguyên tác: hydrocortisone). Bà vẫn biết đó là thuốc độc, nhưng đó là phương thuốc duy nhất… ”

Tôi ra về mà không hỏi được bà Ngô Bá Thành một câu hỏi có ích lợi nào cả. Bà ta đã nằm co ro trong cái ghế bành lớn bằng mây rồi. Trông bà có vẻ rất là yếu đuối để bảo đảm sự thay thế các tướng lãnh đang đối diện trận chiến khốc liệt với Cộng Sản Bắc Việt, những bộ đội đã từng sống cam khổ qua những trường huấn luyện rừng núi, nay đang sắp sửa tiến vào Sài Gòn.

Và sau đó tôi bỗng thình lình sực nhớ lại cách đây 2 năm, được gọi phải ra gặp vị Chánh Án ở Toà Án tỉnh Gia Định, người đàn bà yếu đuối và bệnh hoạn nầy đã rình trước cửa Tòa Án và dùng một viên đá lớn liệng vỡ kính trước xe của ông Chánh Án nầy. Sau đó bà chạy lại lôi tuột ông nầy ra khỏi xe, kéo vào lề đường và dùng cán dù đánh ông nầy một trận nhừ tử, sau đó lại còn đá ông mấy đá vào cạnh sườn làm ông nầy đo ván luôn.

Kỳ tới: T.T. Thiệu bỏ cuộc

*

IMG_4633

*

IMG_3314

 CHUONG TRINH

Little Saigon: 30-4-2014

11/04/201400:00:00

  • Đầu tháng Tư năm nào cộng đồng và các đoàn thể của người Việt hải ngoại cũng bắt đầu chuẩn bị tổ chức một chuỗi lễ tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư.
  • Tại Little Saigon thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại hay của Việt Nam Hải Ngoại như Pháp Quốc Hải Ngoại thời nước Pháp bị Đức Quốc Xã tạm chiếm, cộng đồng và các đoàn thể có phổ biến một thông cáo phát động chiến dịch và một chuỗi sinh hoạt phần chánh yếu như sau.“Tháng Tư Đen 2014, Ủy Ban Đấu Tranh Chống Cộng Sản & Tay Sai, Phát động Chiến dịch “KIÊN ĐỊNH LẬP TRƯỜNG QUỐC GIA”

• Nhớ lại bao quân dân cán chính đã hy sinh trong cuộc chiến cho chúng ta sống còn đến hôm nay…

• Nhớ lại hơn nửa triệu đồng bào đã vùi thân dưới Biển Đông…hàng chục ngàn đã gục ngã trên đường vượt biên nơi rừng sâu núi thẳm…

IMG_6311

• Nhớ lại hàng trăm ngàn quân dân cán chính đã chịu đọa đày và chết tức tưởi trong các trại tù tập trung từ Nam ra Bắc…• Nhớ lại những năm tháng mỏi mòn chờ đợi nơi các trại tỵ nạn Đông Nam Á…

• Nhớ lại bao oan khiên, đau khổ, trù dập mà người dân Việt phải chịu đựng từ vùng Kinh Tế Mới, nô lệ lao động, nô lệ tình dục, dân oan, đến vấn đề đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ…”

Và một “Chuỗi Sinh Hoạt 30/04/2014: Chủ đề “Toàn Dân Vùng Lên Cứu Nước”

• Đại Lễ Quốc Tổ Hùng Vương 4893 Việt lịch lúc 10g sáng Thứ Bảy 05/04/2014 tại Công viên Siegler 14072 Chestnut St., Westminster CA 92683

• Tâm Tình Giữa Các Thế Hệ chủ đề: “Đoàn Kết Cộng Đồng” – lúc 1g trưa Chủ Nhật 20/04/2014 tại VP-THSVVN Nam Cali 12761 Western Ave., Suite A, Garden Grove

– Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 39 được tổ chức lúc 6g chiều Thứ Bảy 26/04/2014 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ.

Ngày Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 39 được tổ chức lúc 12g trưa Thứ Tư 30/04/2014 trên Đại Lộ Bolsa.

• Treo Cờ Việt Nam-Hoa Kỳ từ 19/04/2014 đến 04/05/2014 tại Westminster và Garden Grove

 

IMG_5947

IMG_5937

IMG_5926

IMG_5920

IMG_5684

  • Bức Tường Đen – Từ 19/04/2014 đến 04/05/2014 trên Đại lộ Bolsa.

Phần mở đầu thông cáo nhấn mạnh tới những điều cần nhớ, bổn phận nhớ. Nhớ để ôn cố tri tân, nhớ là một bổn phận của người đi sau đối với người đi trước, đối với đất nước và dân tộc gốc của mình và biến thành nhiều hành động rất tích cực, sáng tạo trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền VN.

  • Nhớ để ngăn chận, chống lại những kẻ gian ác, phù thuỷ chánh trị như Hồ chí Minh không thể hại nước, hại dân được. Cũng như ở Âu Châu lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt chủng bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến.
  • Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi vào và đem vào chương trình giáo dục trung tiểu học – gọi là Holocaust hay Shoah.
  • Ở Mỹ cũng thế, người Mỹ đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt cưỡng bức người Da Đỏ dời cư thời Viễn Tây, khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ở trường lớp.
  • Làm như thế người Âu Mỹ — tin chắc — không phải do thù ghét Hitler hay muốn trách cứ những tổng thống Mỹ đã thực hiện những chính sách sai lầm. Cũng không phải do muốn lớp trẻ “nặng quá khứ.” Mà mục đích tối hậu, là muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa.
  • Do vậy cần phải giúp cho đàn hậu tiến những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài bịnh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã làm cho hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tiến thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, sai lầm chế độ.
  • Thì tại sao thế hệ trẻ Việt ở Hải ngoại, nhất là ở Mỹ không có quyền nhớ, phụ huynh mình, gần 300.000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và cấm cố hàng chục năm.
  • Tại sao không nên nhớ một lãnh tụ như Ô. Hồ Chí Minh và một đảng như Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ.

IMG_3437

IMG_5649

  • Theo cuốn “Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline nữa.
  • 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và nửa triệu làm mồi cho cá.
  • Cả thế giới bàng hoàng, rụng rời tay chân! Suốt cả chục năm! Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử nước nhà VN, suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc, một lần Trịnh Nguyễn phân tranh đất nước chia đôi. Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy.
  • CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm dân phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy. Miền Nam chỉ chiến đấu tự vệ, chớ không hề đổ quân ra Miền Bắc giành dân, chiếm đất.
  • Theo Ô. Trần Độ một tương lãnh CS phản tĩnh đã tố giác, CS Hà Nội đã giết hại người Việt, số chết nhiều hơn tổng số người bị hai nhà độc tài Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa cỗ đại và Hitler ở Đức cận đại giết, cộng lại.
  • Người Việt Nam kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Mỹ nữa. Nên ôn cố tri tân là bổn phận của đàn hậu tiến như những người đồng trang lứa ở Âu Châu. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS.
  • Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi đã hơn một lần dầm lạnh tham dự cuộc tập hợp của Tổng Hội Sinh viên VN tưởng niệm 30-4 Quốc Hận tại Little Saigon và mát dạ khi đọc tin thấy lớp trẻ VN thúc đẩy bởi bổn phận nhớ 30-4 Quốc Hận, đã xa luân chiến chống Cộng trên Đồi Capitol để nhắc nhớ và đánh động lương tâm công chính của Quốc Hội Mỹ.
  • Và càng ngày càng thấy tin tưởng thế hệ thứ hai, thứ ba đang nhớ, đang biến cái nhớ, rút kinh nghiệm chống Cộng thành hiện thực, hợp thời cơ, địa lợi nhơn hoà, kề vai gánh vác công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tức thực chất là giải trừ CS độc tài đảng tri toàn diện./.(Vi Anh)

*

IMG_4633

*

Họp báo Dự Luật HR 4254 chế tài CSVN vi phạm nhân quyền Friday, March 21, 2014 8:41:19 PM

Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Giám Sát Viên Janet Nguyễn và Dân Biểu Liên Bang Ed Royce (Cộng Hòa-Địa Hạt 39), chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ, họp báo lúc 3 giờ chiều Thứ Sáu tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí (phía trong nhà hàng Zen), Westminster, để chính thức giới thiệu Dự luật HR 4254, dự luật có tác dụng chế tài giới chức cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và xin mọi người Việt ký vào thỉnh nguyện thư để gây áp lực ủng hộ.

IMG_5548GSV. Janet Nguyễn (trái) và Dân Biểu Liên Bang Ed Royce tại buổi họp báo về Dự Luật HR 4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi rất mừng vì dự luật này sau hơn một năm làm việc, Dân Biểu Ed Royce giới thiệu trước Hạ Viện Hoa Kỳ hôm 14 Tháng Ba và rất hy vọng được các dân biểu ủng hộ,” Giám Sát Viên Janet Nguyễn, mở đầu cuộc họp báo.

“Chúng tôi trân trọng thông báo đến cộng đồng, Dự Luật HR 4254 là kết quả các nỗ lực của hai văn phòng chúng tôi, nhằm trừng phạt những thành phần có hành động vi phạm nhân quyền. Vấn đề hôm nay không phải chỉ cá nhân tôi quan tâm mà là vấn đề của cộng đồng, của cả đất nước Việt Nam,” vị giám sát Địa Hạt 1 nói thêm.

Tiếp lời GSV Janet Nguyễn, Dân Biểu Ed Royce thu hút người tham dự khi ông kể đến trường hợp ông Magnitsky, một luật sư người Nga chết trong tù năm 2009 vì điều tra hồ sơ gian lận thuế của một nhân vật chính quyền. Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Đạo Luật Magnitsky Act năm 2012 nhằm trừng phạt viên chức Nga trách nhiệm đến cái chết của luật sư này.

“Từ ý kiến của Janet, chúng tôi nhận ra được cách trừng phạt những viên chức cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền. Họ cũng muốn đi du lịch và gởi con cháu họ du học tại Hoa Kỳ. Muốn thế họ phải ngừng bắt giữ, hành hạ những nhà tranh đấu cho dân chủ, cho tự do tôn giáo, tự do ngôn luận. Với dự luật này, họ sẽ bị chế tài về tài sản, không được cấp chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ!” vị dân biểu quen thuộc với cộng đồng Việt Nam bị ngắt lời bởi những tràng pháo tay của người tham dự.

Ông quay qua chào bà Trần Thị Minh Ngọc, thân mẫu của nhà tranh đấu Đỗ Thị Minh Hạnh, ngồi trong hàng ghế của những người tham dự, trước khi ông nói thêm: “Sự kiện áp lực chế tài bằng tài sản, bằng tiền kinh doanh từng xảy ra ở miến Điện, ở Ba Lan từ lâu rồi. Việt Nam mới đây cầm tù 61 nhà tranh đấu chỉ vì họ muốn nói lên quan điểm của mình, chỉ vì họ muốn có tự do tôn giáo và muốn có nhân quyền. Hãy đòi hỏi cho một nước Việt Nam có tự do, dân chủ và nhân quyền!”

DB Ed Royce trình bày đại cương Dự Luật HR 4254. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

GSV. Janet Nguyễn khẳng định: “Không chỉ thông báo cho cộng đồng người Việt tị nạn mỗi khi có phái đoàn cộng sản Việt Nam đi qua thành phố Westminster, Garden Grove hay Santa Ana như những nghị quyết trong quá khứ, Dự Luật HR4254 nếu được thông qua, các viên chức cộng sản Việt Nam sẽ bị cấm tới Hoa Kỳ. Đơn giản chỉ có thế thôi!”

Bà kêu gọi mọi người Việt khắp nơi trên thế giới ký vào thỉnh nguyện thư ủng hộ Dự Luật HR 4254.

“Hãy vào trang mạng www.hr4254.com để ký tên vào thỉnh nguyện thư có tên ‘Không Dung Thứ Vi Phạm Nhân Quyền’ để cùng nhau tạo áp lực và tôi sẽ trình thỉnh nguyện thư này trước Quốc Hội Hoa Kỳ!” GSV. Janet Nguyễn nói.

Trong phần trao đổi ý kiến và giải đáp thắc mắc, Dân Biểu Ed Royce trả lời câu hỏi về xác suất thành công của dự luật này. Ông cho biết rất nhiều sẽ được thông qua. Ông cũng hứa tổ chức các cuộc họp vận động và mời GSV. Janet Nguyễn đến điều trần.

“Không phải chỉ có người Việt Nam lên tiếng đòi chế tài những ai vi phạm nhân quyền, mà còn có các tổ chức phi chính phủ (NGO), các cộng đồng khác cũng có nhu cầu này,” vị dân biểu nói.

Nghị Viên Dina Nguyễn, phó thị trưởng Garden Grove, đề nghị biện pháp chế tài luôn cả thân nhân của những người vi phạm nhân quyền. Dân Biểu Ed Royce ghi nhận ý kiến này.

Nhân dịp này, bà Trần Thị Ngọc Minh cho biết lúc nào bà cũng sẵn sàng yểm trợ dự luật này.

Thành phần tham dự gồm những khuôn mặt đấu tranh quen thuộc trong cộng đồng và một số dân cử gốc Việt. Ông Trần Đình Thức điều khiển buổi họp báo và ông Hòa Nguyễn thông dịch phần tiếng Việt.

— Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

Bốn nhà ngoại giao dự thảo luận nhân quyền ở Hà Nội Friday, March 21, 2014 4:51:08 PM

HÀ NỘI (NV) .- Đại diện các cơ quan ngoại giao của Liên minh châu Âu, Đức, Thụy Điển, Úc tại Việt Nam đã đến dự một cuộc thảo luận về nhân quyền do Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức ở Hà Nội.

IMG_5550Buổi thảo luận về quyền tự do đi lại của Mạng lưới Blogger Việt Nam tại Hà Nội. (Hình: Mạng lưới Blogger Việt Nam)

Nội dung cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề về “quyền tự do đi lại”. Phía Mạng lưới Blogger Việt Nam có khoảng 30 người tham dự, trong đó có những người từng là cố vấn của Thủ tướng Việt Nam, từng là thứ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ như ông Chu Hảo, hoặc Vụ trưởng của Ủy Ban Dân số – Kế hoạch hóa Gia đình như ông Trần Tiến Đức,…

Theo dự kiến, buổi thảo luận được tổ chức ở một quán cà phê tọa lạc tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Giờ chót, quán đột ngột đóng cửa vì cần “bảo dưỡng định kỳ”. Những người tham gia thảo luận phải ngồi ngoài, trò chuyện dưới sự giám sát của nhiều người lạ mặt và sự nài nỉ của chủ quán, xin họ giải tán sớm bởi áp lực của an ninh.

Tin mới nhất cho biết, có ít nhất một blogger tham dự cuộc thảo luận vừa kể, sau đó bị những kẻ lạ mặt lảng vảng quanh nơi diễn ra cuộc thao luận đáng sưng mặt, chảy máu, đập vỡ điện thoại. Blogger này tên là Trịnh Anh Tuấn. Tuấn kể với BBC rằng vụ hành hung xảy ra khi anh rời khỏi buổi thảo luận, về đến ga Giáp Bát.

Một trong những người tham gia thảo luận, ông Chu Hảo nhận định, luật pháp Việt Nam đang có vấn đề đối với quyền tự do đi lại. Khi dân chúng lên tiếng thì chính quyền cần xem xét lại để điều chỉnh.

Cũng theo tường thuật của Mạng lưới Blogger Việt Nam, các viên chức ngoại giao đại diện các cơ quan ngoại giao của Liên minh châu Âu, Đức, Thụy Điển, Úc tại Việt Nam, phát biểu rằng, cấm xuất cảnh vì lý do an ninh thì quốc gia nào cũng có nhưng việc cấm xuất cảnh chỉ thực hiện với những người thực sự phạm tội và cần cấm xuất cảnh. Mặt khác, việc cấm xuất cảnh chỉ có thể thực hiện theo phán quyết của tòa án, trong khi Việt Nam thực hiện điều này rất mơ hồ, thiếu rõ ràng. Đây cũng là lý do chính quyền của họ sẽ có khuyến nghị gửi chính quyền Việt Nam thực hiện ,  …

Đây là lần thứ hai Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức thảo luận về quyền tự do đi lại. Lần đầu, diễn ra hôm 1 tháng 3 tại Sài Gòn, nhóm này đã ngỏ lời mời đại diện các cơ quan an ninh chính trị và cục xuất nhập cảnh của nhà cầm quyền CSVN cùng tham gia thảo luận nhưng không có ai tham dự.

Mạng lưới Blogger Việt Nam là một tổ chức dân sự. Tổ chức dân sự này đã thực hiện nhiều hoạt động giới thiệu các quyền căn bản của con người theo Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc cho dân chúng Việt Nam. Một số lần, thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam phân phát bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị thì đều bị lực lượng an ninh CSVN cản trở, hành hung dã man.

Tuy nhiều lần cam kết trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc sẽ bảo vệ, thăng tiến nhân quyền theo các tiêu chuẩn chung của cộng đồng quốc tế nhưng chế độ Hà Nội đã ngăn chặn tất cả các hoạt động quảng bá nhân quyền của  Mạng lưới Blogger Việt Nam.

Sở dĩ Mạng lưới Blogger Việt Nam thảo luận về quyền tự do đi lại và mời công an Việt Nam đối thoại vì đây là một trong những quyền căn bản của con người – mà chính quyền Việt Nam, thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cam kết tôn trọng cũng như thực thi. Các cuộc thảo luận được tổ chức sau khi Công an Việt Nam liên tục cấm nhiều cá nhân hoạt động cho dân chủ, nhân quyền xuất cảnh. (G.Đ)

*

IMG_9660

*

Thông điệp của Đại sứ Mỹ ở Little Saigon

*

Vũ Quí Hạo Nhiên

Tường thuật cho BBC từ Little Saigon

Cập nhật: 22:58 GMT – thứ bảy, 1 tháng 6, 2013

IMG_5551

Cuộc họp được tổ chức ở Lê-Jao Center, đại học Coastline Community College ở Little Saigon (Ảnh: Dan Huynh)

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear vừa họp với cộng đồng Việt Nam hôm thứ Bảy 01/06/2013 ở Little Saigon, Nam California.

Tại đây Đại sứ Shear đã trình bày và trả lời câu hỏi bao quát nhiều chủ đề, từ quốc phòng tới di trú tới thương mại, nhưng đề tài được quan tâm nhất vẫn là nhân quyền và tự do tôn giáo – một điều có thể hiển nhiên, vì chính Đại sứ Shear cũng tuyên bố “nhân quyền có liên kết không tách rời được” với những lãnh vực khác trong quan hệ Mỹ–Việt.

Một trong những điều mà cả Đại sứ Shear lẫn Dân biểu Alan Lowenthal, một thành viên Ủy ban Ngoại giao Hạ viện và là người tổ chức buổi họp, đều nói, là nếu Việt Nam muốn gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì Hà Nội phải thực hiện “những tiến bộ chứng minh được” về nhân quyền.

Trình bày với hình ảnh kèm theo, Đại sứ Shear cho biết bốn mục tiêu của Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam là “quan hệ kinh tế và thương mại; hợp tác về ngoại giao và an ninh khu vực; giáo dục, y tế, môi trường; và đối thoại rất nghiêm khắc và rất mạnh mẽ về nhân quyền.”

Biển Đông

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng vừa đưa ra thông điệp về an ninh hàng hải tại Singapore.

Về an ninh trên Biển Đông, Đại sứ Shear nói “Chúng tôi rất quan ngại về mức căng thẳng đang gia tăng trên vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Chúng tôi sẽ cực kỳ quan ngại nếu bất cứ bên nào hiện đang khẳng định chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa lại sử dụng đến vũ lực.”

“Hoa Kỳ ủng hộ một giải pháp đa phương mạnh mẽ để quản lý vùng biển này,” ông nói. Trong cuộc họp báo ngắn theo sau buổi gặp gỡ cộng đồng, trả lời BBC ông nói thêm một lần nữa là Hoa Kỳ muốn các bên liên quan “tìm giải pháp trong một quá trình cả nhóm.”

“Chúng tôi muốn ASEAN thương thuyết để giúp giải quyết những khác biết, nhưng nếu không giải quyết được, thì chúng tôi muốn những khác biệt được khống chế,” ông nói.

“Hoa Kỳ không ủng hộ riêng sự khẳng định chủ quyền của riêng nước nào trên vùng biển này cả”

Đại sứ Hoa Kỳ David Shear

“Tôi nghĩ là Tổng thống Obama cũng sẽ nói như vậy với Chủ tịch Tập Cận Bình khi hai người gặp nhau tại California vào tuần tới.”

Hoa Kỳ ủng hộ bản Tuyên bố Ứng xử biển Đông năm 2002, và ủng hộ các bên thỏa thuận một bộ Quy tắc Ứng xử mới.

Tuy nhiên, ông nói thêm, “Hoa Kỳ không ủng hộ riêng sự khẳng định chủ quyền của riêng nước nào trên vùng biển này cả.”

Biển Đông là một đường hàng hải chiến lược, và không chỉ có Hoa Kỳ quan tâm, mà nhiều nước khác cũng hợp tác trong vấn đề này, có Úc, Nhật và Nam Hàn.

Đại sứ nói ông dùng tên gọi Biển Nam Trung Hoa vì đó là tên chính thức của chính phủ Hoa Kỳ, nhưng ông thông cảm với một số cử tọa trong cộng đồng muốn ông dùng tên Biển Đông hay biển Đông Nam Á. “Chuyện đặt một tên rất là khó, mà không phải chỉ ở Việt Nam,” ông nói. “Các đồng nghiệp Hàn Quốc luôn luôn muốn chúng tôi ngừng dùng tên gọi ‘biển Nhật Bản’ mà họ muốn chúng tôi dùng tên ‘Biển Đông.”

Chọn Mỹ hay TQ?

“Có những người giáo điều ý thức hệ và lo ngại về những biến đổi về xã hội và chính trị nếu bang giao quá mật thiết với Hoa Kỳ”

Trong buổi gặp gỡ cộng đồng, có một vị trong cử tọa hỏi về cách đảm bảo thăng bằng của giới lãnh đạo Việt Nam giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ông gọi đó là đi một đường mỏng manh (“a delicate line”), và Đại sứ David Shear trả lời:

“Ý kiến của giới lãnh đạo Việt Nam về Hoa Kỳ rất là phức tạp. Có những người từng tham chiến trong chiến tranh, và họ chưa hoàn toàn thân thiện với Hoa Kỳ. Có những người giáo điều ý thức hệ và lo ngại về những biến đổi về xã hội và chính trị nếu bang giao quá mật thiết với Hoa Kỳ.

“Có những người muốn cải tổ kinh tế và họ cho Hoa Kỳ là nước tốt nhất có thể giúp Việt Nam trong cải tổ kinh tế. Lại có người muốn thân thiện với Hoa Kỳ để làm đối trọng với Trung Quốc. Cho nên, vâng, họ đang đi một đường rất mong manh, mà phía chúng ta cũng vậy.” Đại sứ Hoa Kỳ nói thêm

TPP gắn liền nhân quyền

“Tôi nói điều này [tiến bộ về nhân quyền] với các viên chức cao cấp của Việt Nam. Tôi nói với Chủ tịch Sang, tôi nói với Thủ tướng Dũng, tôi nói với Tổng bí thư Trọng, tôi nói với Bộ trưởng Ngoại giao Minh.”

Trong cuộc họp báo ngắn theo sau buổi gặp gỡ cộng đồng, Đại sứ Shear trích dẫn một báo cáo kinh tế của cơ quan nghiên cứu Peter G. Peterson Institute for International Economics, trong đó Hiệp định TPP được tiên đoán là sẽ gia tăng mức xuất khẩu của Việt Nam 26%, và gia tăng GDP của Việt Nam 11%.

Tuy nhiên, nhắc lại nhiều lần, ông nói Việt Nam phải có những “tiến bộ chứng minh được” trong lãnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo nếu muốn gia nhập TPP hay muốn có những bước hợp tác chặt chẽ hơn về ngoại giao và quốc phòng.

“Tôi nói điều này với các viên chức cao cấp của Việt Nam. Tôi nói với Chủ tịch Sang, tôi nói với Thủ tướng Dũng, tôi nói với Tổng bí thư Trọng, tôi nói với Bộ trưởng Ngoại giao Minh. Tôi và các nhân viên ngoại giao đoàn nói điều này với tất cả các viên chức Việt Nam nào mà chúng tôi có cơ hội gặp.”

Ông đưa thí dụ những điều Hoa Kỳ đã đòi hỏi ở Việt Nam: Thả tù chính trị, tăng cường tự do ngôn luận, tự do hội họp, tăng cường tự do tôn giáo và công nhận thêm nhiều tổ chức tôn giáo, thông qua Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc.

Một số thành tựu mà ông gọi là “rất khiêm tốn” trong lãnh vực này là việc thả Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, thả Luật sư Lê Công Định, và vào tháng Hai, Hà Nội tiếp giám đốc văn phòng Washington DC của Ân xá Quốc tế.

Tôn giáo & CPC

IMG_5554

Đã có những buổi cầu nguyện của cộng đồng công giáo cho ông Đoàn Văn Vươn.

Mặt khác, Hà Nội vẫn còn giới hạn tự do tôn giáo. Ông kể về một chuyến đi Vinh gặp Giám mục Nguyễn Thái Hợp vào tháng Chín 2012.

Chuyến đi dự trù kéo dài hai ngày trong đó có cuộc gặp Đức cha Hợp. Nhưng khi đến nơi, ông được cho biết là cuộc gặp sẽ không diễn ra được. Ông đã rút ngắn chuyến đi, chỉ vào gặp Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An “để nói là tôi rất thất vọng với việc không được gặp Giám mục Hợp,” và sau đó về thẳng Hà Nội.

“Tôi cũng chẳng chờ tới chuyến máy bay nữa, tôi lên xe và lái thẳng về.

“Nhân viên ngoại giao chúng tôi gặp gỡ và giữ liên lạc thường xuyến với các nhân vật các tôn giáo tại Việt Nam, vì đây là vấn đề quan trọng.”

Khi một phóng viên so sánh là ở Việt Nam người ta đi nhà thờ, đi chùa rất tự do, Đại sứ Shear cũng công nhận. “Như khi tôi đến Phát Diệm, người ta đi lễ Nhà thờ Chính tòa rất đông,” ông nói.

Tuy nhiên, ông cho rằng vẫn còn có nhiều rào cản trong việc thờ phượng, “nhiều cơ sở tôn giáo chưa được công nhận.” Đại sứ Shear kể chuyện đi gặp hai cộng đoàn tôn giáo tại gia ở Điện Biên, một Tin Lành và một Công Giáo. “Họ nói với tôi là khi chúng tôi quan tâm tới họ thì chính quyền địa phương bớt làm khó dễ họ hơn.”

“Họ nói với tôi là khi chúng tôi quan tâm tới họ thì chính quyền địa phương bớt làm khó dễ họ hơn”

Nhưng cũng trong lãnh vực tôn giáo, nhiều người trong cử tọa lên tiếng muốn Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào lại danh sách CPC, tức danh sách “nước cần quan tâm đặc biệt” vì vi phạm tự do tôn giáo. CPC là một danh sách thiết lập theo Luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IFRA).

Trong khi nhiều người đặt vấn đề CPC, Đại sứ Shear nói Việt Nam nói đạo luật IFRA có những điều khoản rất hẹp và rất cụ thể để đặt một nước nào đó vào danh sách CPC, và Việt Nam được đưa ra khỏi CPC năm 2006 vì Mỹ cho rằng mức đàn áp ở Việt Nam “chưa tới mức của IFRA.”

Tuy nhiên, không lên danh sách CPC “không có nghĩa là tự do tôn giáo không phải là vấn đề cực kỳ quan trọng.” Ông nói “chúng tôi đặt vấn đề này ở mức ngoại giao với những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất.”

Buổi gặp gỡ cộng đồng và họp báo liên tục xoay quanh những vấn đề nhân quyền, tôn giáo và Biển Đông.

Một đại diện của Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam trao cho Đại sứ Shear bản Báo cáo Nhân quyền. Một nhà báo đặt vấn đề áp lực Việt Nam cho truyền thông hải ngoại được phát về Việt Nam. Nhiều người muốn biết vụ gian lận visa ở Sài Gòn và ảnh hưởng tới việc xét thị thực (“tôi không nghĩ sẽ ảnh hưởng tới mức độ bác đơn thị thực,” ông trả lời).

Giáo dục, y tế và môi trường

“Chẳng việc gì tôi làm trong lãnh vực nhân quyền có thể ảnh hưởng với Việt Nam nhiều bằng những gì các sinh viên này sẽ thực hiện trong vòng 15 tới 30 năm nữa.”

Về giáo dục, Đại sứ Shear nói hiện có trên 15,000 du học sinh và sinh viên Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, và ông khẳng định “Chẳng việc gì tôi làm trong lãnh vực nhân quyền có thể ảnh hưởng với Việt Nam nhiều bằng những gì các sinh viên này sẽ thực hiện trong vòng 15 tới 30 năm nữa.”

Ngược lại, nhiều sinh viên và trí thức Mỹ cũng qua Việt Nam học và nghiên cứu theo chương trình Fulbright. Ngoài ra, mỗi năm chương trình Fulbright đưa 20 người qua Việt Nam để huấn luyện cho thầy cô giáo Việt Nam phương pháp dạy tiếng Anh tốt hơn.

Về môi trường, Đại sứ Shear cũng cho biết Việt Nam đang lo ngại về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

“Sông Cửu Long hiện đang bị tấn công từ hai phía,” ông nói. Một phía là những đập thủy điện ở thượng nguồn, và một phía là địa cầu đang bị hâm nóng khiến mực nước biển dâng và đất canh tác bị mặn thêm.

Trong lãnh vực y tế, Đại sứ Shear nhắc đến những phần trợ giúp chống HIV, chống cúm gia cầm, cũng như những trường lớp, phòng y tế, được tu sửa bằng viện trợ USAID.

Đưa hình chụp Phó Đại sứ Claire Pierangelo trong một trường tiểu học và phòng khám nha khoa ở Kontum, ông nói thêm, “Chúng tôi rất quan tâm tới vùng Tây nguyên và nhân sự ngoại giao đoàn đến thăm vùng đó nhiều lần.”

 

 

 

 

*

 

IMG_4633 

 

*

 

 

 

Ðại sứ Mỹ gặp cộng đồng Việt vùng Little Saigon

Saturday, June 01, 2013 7:38:38 PM

*

‘Kết quả ảnh hưởng nhân quyền của chúng tôi rất khiêm tốn’

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) Trong lần đầu tiên gặp gỡ cộng đồng Việt Nam tại vùng Little Saigon, ông David Shear, đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, cho biết kết quả vận động nhân quyền của tòa đại sứ tại Việt Nam có kết quả “khiêm tốn.”

IMG_5555Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông David Shear (phải), nghe một cử tọa đặt câu hỏi tại buổi gặp gỡ cộng đồng Việt Nam tại Little Saigon. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Tại cả ba buổi gặp gỡ trong ngày Thứ Bảy vừa qua, một tại Trung Tâm Le-Jao Center của Ðại Học Cộng Ðồng Coastline, một tại nhà hàng Làng Ngon, và một tại Trung Tâm Phục Vụ Cộng Ðồng, Ðịa Hạt 1, ông David Shear lập đi lập lại nhiều lần chữ “khiêm tốn” (modest) khi nói về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

“Kể từ khi làm đại sứ tại Việt Nam, mỗi khi gặp các lãnh đạo cao cấp như ông Trọng, ông Sang, ông Dũng, hoặc Ngoại Trưởng Minh, cũng như những người khác, tôi không chỉ nói nhân quyền quan trọng như thế nào trong quan hệ Việt-Mỹ, mà tôi yêu cầu họ thả tù nhân, tôn trọng tự do nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tụ tập, và tự do tín ngưỡng.

Thế nhưng, chúng tôi chỉ đạt một kết quả ‘khiêm nhường,’” nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ tại Việt Nam nói trước cử tọa bao gồm nhiều người Việt Nam và nhiều vị dân cử địa phương trong vùng.

Ông dẫn chứng: “Ví dụ như trường hợp thả Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân.” Rồi ông mời ông Quân đứng lên và nói: “Tôi mừng là ông có mặt ở đây, chứ không còn ở trong tù nữa.” “Như vụ thả Luật Sư Lê Công Ðịnh,” ông David Shear nói tiếp. “Tháng Hai vừa qua, lần đầu tiên Việt Nam tiếp ông phó chủ tịch tổ chức Amnesty International. Tôi hy vọng đây sẽ là bước mở đầu trong quan hệ giữa Việt Nam và các tổ chức nhân quyền.”

 IMG_5556Từ trái, Dân Biểu Alan Lowenthal, Luật Sư Nguyễn Ðỗ Phủ, ông Ðỗ Hoàng Ðiềm (chủ tịch đảng Việt Tân) và Ðại Sứ David Shear tại nhà hàng Làng Ngon. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Ông nói tiếp: “Tuy nhiên, như tôi nói, đây chỉ là những kết quả ‘khiêm tốn.’ Chúng ta còn nhiều việc phải làm, không thể thay đổi mọi chuyện qua một đêm. Và để làm được điều này, chúng ta phải tiếp tục nêu lên những quan tâm của cộng đồng Việt Nam và chúng ta có điều kiện ảnh hưởng họ (chính quyền Việt Nam).” Ông cũng cho biết ảnh hưởng của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ rất lớn, và có thể gây ảnh hưởng tại Việt Nam.

“Tiếng nói của cộng đồng Việt Nam rất mạnh, và chúng tôi, tại Hà Nội, lắng nghe quý vị một cách nghiêm túc,” ông nói. “Ngoài ra, quý vị có những vị dân cử liên bang luôn biết lắng nghe và sẵn sàng lên tiếng cho quý vị, ví dụ như các dân biểu Alan Lowenthal, Loretta Sanchez và Ed Royce.”

Ông cũng không quên đề cập đến mục tiêu của Hoa Kỳ. Ông nói: “Hoa Kỳ muốn Việt Nam là một quốc gia giàu mạnh và độc lập, nhưng phải tôn trọng luật lệ.” Trong quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù, Ðại Sứ David Shear cho biết Washington theo đuổi bốn mục tiêu:

(1) Quan hệ kinh tế và thương mại.

(2) Hợp tác ngoại giao và an ninh.

(3) Giúp đỡ giáo dục và môi trường.

(4) Kêu gọi họ – một cách mạnh mẽ và liên tục – tôn trọng nhân quyền.

“Tại sao tôi lại đề cập nhân quyền cuối cùng?” ông đại sứ đặt câu hỏi. “Vì nhân quyền có liên quan đến ba mục tiêu trên,” ông David Shear giải thích.

Trong mục tiêu số hai, Hoa Kỳ và Việt Nam có cùng quyền lợi với các quốc gia khác trong Biển Ðông. Và Hoa Kỳ đã có hợp tác quân sự với Việt Nam ở mức khiêm nhường. Ông nêu ví dụ: “Trong năm 2011, hai nước đã ký hiệp định hợp tác cứu hộ trên biển, hàng hải, và tìm kiếm người mất tích trong trường hợp thiên tai trên Biển Ðông.”

Với mục tiêu số ba, ông David Shear cho biết hiện có 15,000 sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ.

Ông nói thêm: “Hoa Kỳ cố gắng rất nhiều trong việc đẩy mạnh nhân quyền tại Việt Nam, nhưng chính 15,000 sinh viên khi trở về sẽ có ảnh hưởng lớn hơn.”

Ông cũng nhắc đến các hoạt động của Mỹ giúp Việt Nam chống bệnh AIDS, các bệnh tật khác, cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là khi dòng sông này bị “tấn công từ phía trên” và mực nước biển dâng lên ở phía dưới, cùng với sự thay đổi khí hậu.

Về mục tiêu số bốn – nhân quyền – ông David Shear cho biết ông và ông Lê Thành Ân, tổng lãnh sự tại Sài Gòn, coi đây là vấn đề rất quan trọng. Ông nói:

“Hồi Tháng Tám, 2011, khi Việt Nam muốn vào TPP, chúng tôi nói thẳng họ phải cải thiện nhân quyền.” “Nhân quyền là một cái gì đó nằm sâu trong máu của người Mỹ,” ông nói tiếp. “Tuy nhiên, rất dễ cho tôi nói chuyện với Việt Nam về phát triển kinh tế, nhưng không dễ khi nói chuyện nhân quyền với họ.”

Ông cũng cho biết, ông đã đi nhiều nơi tại Việt Nam, từ đồng bằng đến vùng núi, đến vùng cao nguyên, khoảng 24 tỉnh, nhưng vẫn bị hạn chế khi muốn đi đến một số nơi khác. Về tự do tôn giáo, ông David Shear cho biết cũng đang làm việc cật lực để vấn đề được tốt hơn.

 IMG_5557Giám Sát Viên Janet Nguyễn (trái) và Ðại Sứ David Shear (thứ hai từ trái) nói chuyện với đại diện tôn giáo và cộng đồng tại Trung Tâm Phục Vụ Cộng Ðồng, Ðịa Hạt 1, Westminster. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Ông kể, và có chiếu một số hình ảnh để minh họa, là từng gặp một nhà bất đồng chính kiến như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, vài giám mục Công Giáo, Thánh Ðịa La Vang và một số nơi khác. Nhưng có một lần ông bị “cản trở” khi muốn gặp giám mục Giáo Phận Vinh.

Ông kể: “Hôm đó, tôi dự trù đến Vinh hai ngày, có lấy hẹn gặp vị giám mục, nhưng khi đến nơi, tôi được biết không thể gặp ngài