NHÓM NGUYỄN TẤN DỦNG TRONG VỤ RƯỚC CÔNG NGHỆ LUYỆN THÉP LỔI THỜI FORMOSA VÀO TÀN PHÁ VIỆT NAM LÀ AI ? * * Những bất cập trong triển khai dự án FORMOSA Hà Tĩnh * * VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ * * Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản * * Nếu nói chiến tranh Việt nam mà đổ thừa cho Hoa Kỳ là sai lầm và thiếu hiểu biết * * CÓ AI NGHĨ ĐẾN CỰU-CHIẾN-BINH MỸ KHÔNG ? * * Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích – Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam * * Dân Hà Nội thich Việt nam cọng hòa công bằng tự do đa đảng nên biểu tình ủng hộ kỷ sư Nguyễn Viết Dủng * * Báo cáo của Uỷ Ban Nhân quyền Quốc tế về trường hợp Nguyễn Viết Dũng * * Phiên toà phúc thẩm Nguyễn Viết Dũng * * Uỷ Hội Hoa Kỳ : Chính phủ Viet nam hãy ngưng can thiệp nội bộ tôn giáo


Lảnh đạo mà ngu dốt xài bằng cấp gỉa như Bí thư tỉnh ủy cọng sản Hà Tỉnh lại cọng thêm tính tham lam là gây hại cho cả dân tộc và tàn phá cả quốc gia.
Ai cho phép thiết lập công ty gang thép Formosa hàng chục tỷ đô la tại Vủng Áng Hà Tỉnh Việt nam với công nghệ chạy bằng than lổi thời, vô cùng ô nhiểm độc hại mà thế giới đã dẹp bỏ 50 năm về trước ?
Ai cho phép ? Muốn phá Việt nam, giết dân Việt hay sao ? Phải điều tra đưa bọn này vô tù ngay để làm gương.

VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ

Tác gỉa : Trần Cư / siphuvietnam

1/ Hồ Chí Minh cũng bốc mùi như cá

Việt cọng đi tới đâu thì xã hội dơ dáy tới đó. Ðây là câu chuyện làm thương tâm lòng người gây hệ lụy lâu dài mà Việt nam cũng đang chịu đựng.
Câu chuyện truyền tụng từ thời Hồ Chí Minh khi ông ta muốn kiếm gái đẹp người miền Nam thì ông ra lệnh cho tư lệnh cọng sản miền Nam lúc đó là Nguyễn Văn Linh và Vỏ văn Kiệt săn tìm gái đẹp nhất ở miền Nam đem về Hà Nội nộp cho ông.

Sự việc trở nên trớ trêu khi mà Nguyễn Văn Linh kể lại rằng khi Vỏ văn Kiệt tìm ra gái đẹp rồi nhưng không thể mang ra Hà Nội nộp cho ông Hồ đang là chủ tịch đảng cọng sản kiêm chủ tịch nước Việt nam được, vì chiến tranh Việt nam lúc đó bận rộn. Thế là Vỏ Văn Kiệt mượn tạm “ gái đẹp của ông Hồ “ làm vợ và đẻ ra tên Nam nay là giám đốc . . .

Nhìn sự việc trên tuy đơn giản đối với đời thường và không hiếm xẩy ra trong xã hội. Nhưng ở đây ông Hồ là cấp lảnh đạo tối cao của cọng sản Việt nam. Ông tổ chức lối sống bản thân kiểu hành xử như vậy cho thấy sự ngạo mạn phi đạo đức, phi luân thường muốn làm gì thì làm không cần biết kỷ cương xã hội. Ðây là vết nhơ phơi bày làm cho luận điệu tâng bốc đạo đức ông Hồ Chí Minh sau này đã trở thành lạc điệu rác rến kịch cởm.

2/ Lảnh đạo tại các xứ dân chủ văn minh thì sao ?

Tại các xứ văn minh cấp lảnh đạo họ lập gia đình có ly di nhưng đâu ra đó tôn trọng quyền con người, nhất là quyền của phụ nử, quyền của người gìa và quyền của trẻ nhỏ.Tại các xứ văn minh các lảnh đạo tối cao quốc gia đều do dân bầu chọn xét về nhiều mặt, mà trong đó có sự chuẩn mực thẳng thắng đời sống gia đình, tư cách đạo đức của những người lảnh đạo là vô cùng quan trọng.

Nền báo chí tự do tư nhân luôn khơi sáng trước công luận tất cả đời tư, khả năng lảnh đạo và tư cách đạo đức của từng ứng cử viên cho cử tri thấy trước khi bầu chọn ai xứng đáng lảnh đạo xã hội.

3/ Hệ lụy Hồ Chí Minh tại Việt nam không khác với hệ lụy Saddam Hunsein tại Iraq

Ngày nay ở Việt nam đi đâu người ta cũng thấy hình tượng ông Hồ được dựng lên như để khêu gợi cái ác, cái dả man, của một nhân vật ít học mà lại chịu đánh thuê cho ngoại bang giết lại dân mình trong một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt củ đậu nấu đậu.

Sự tâng bốc lảnh tụ của các xứ độc tài thường giống nhau và cọng sản Việt nam cũng không ngoại lệ. Tại Iraq trước khi bị lật nhào thì đi đến đâu người ta cũng thấy toàn hình tượng của nhà độc tài Saddam Hunsein. Về sau khi Saddam chết rồi dân Iraq phải mất hàng tháng mới dọn dẹp thâu tóm xong hình tượng ông ta đem vứt xuống hố.

Sau này tại Việt nam cũng phải mất vài tháng mới dọn dẹp hết những hình tượng Hồ Chí Minh, những hình tượng độc tài tốn kém lảng phí tiền bạc của dân vô ích.
Hệ lụy của Hồ Chí Minh là ghê gớm thế mà đảng cọng sản Việt nam vẫn đang tiếp tục truyền đạt cái xấu của ông Hồ cho các thế hệ kế tiếp.

4/ Cọng sản biến Việt nam thành một vùng đất tham nhủng và dối trá

Noi gương dối trá của Hồ Chí Minh, Nguyễn Tấn Dủng cho em trai là Nguyễn Tiến Thắng làm kinh tài đi đêm với Ðài Loan và Trung quốc rước các nước này đến Việt nam để Dủng bàn chuyện bán nước Việt nam và ăn chia.
Sau một thời gian thì số tiền tham nhủng ăn chia lên tới hàng chục tỷ đô la. Nhóm Nguyễn Tấn Dủng đã liên lạc và cho đem rửa ở các đảo Nam Mỷ rồi sau đó chuyển về lại Việt nam dưới dạng FDI mua các công ty nhà nước Việt nam lời nhanh để biến thành những công ty riêng của gia đình cọng sản phe nhóm Dủng.

Nhóm Dủng hiện nay đang nắm trong tay nhiều chục tỷ đô la dưới dạng cổ phiếu máu tại những công ty tập đoàn hạng nhất Việt nam về hàng không, điên lực, ngân hàng, tài chánh, giao thông, dầu khí, thủy hải sản, v. v. rất dể để nội các mới của ông Nguyễn Xuân Phúc tịch thu lại trả về cho quốc gia.

5/ Trung quốc và Ðài Loan như khô hạn gặp mưa rào

Trung quốc và Ðài Loan mừng rở rối rít vì đẩy được công nghệ lạc hậu gây ô nhiểm nặng nề đến cho bọn ngu mà tham là cọng sản Việt nam.

Trung quốc và Ðài Loan như khô hạn gặp mưa rào đem hết lực lượng ba chục công ty đến đi đêm ăn chia trọn gói với nhóm Nguyễn Tấn Dủng để trúng thầu hầu hết 90% những công trình trọng điểm trên toàn quốc Việt nam.
Nhóm Nguyễn Tấn Dủng chóa mắt với miếng mồi nhử của Trung quốc Ðài Loan thông qua khối tiền tham ô ăn chia qúa lớn hàng chục tỷ đô la trong khi không biết rỏ khả năng các công ty Trung quốc Ðài Loan có đủ kinh nghiệm làm ăn an toàn hay không.

Nhóm Dủng vẫn ký bán, vẫn ký nghiệm thu . Nhóm Dủng chủ trương trấn áp bỏ tù những ai phê phán. Nhóm Dủng bỏ qua một bên mọi ngăn cản phản biện của mọi nguồn, Nhóm Dủng vẫn ngạo mạng cho trúng thầu nhanh để chia phần trăm to lớn bỏ túi riêng phe nhóm.

6/ Cọng sản Việt nam chiếm hạng nhất thế giới về cẩu thả và vô trách nhiệm

Số là năm 1981 tôi làm việc ở Saigon, thấy rằng lảnh đạo thông đồng với nhà thầu bên ngoài để xây dựng một công trình kỷ thuật. Khi xây dựng xong vận hành thử và yêu cầu tôi ký nghiệm thu.
Khổ nổi tôi có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm nên tôi không ký và tôi buộc họ phải trang bị đúng tiêu chuẩn kỷ thuật. Với trách nhiệm kỷ sư nghiệm thu công trình lúc đó, tôi giữ liêm sỉ của một khoa học gia không chóa mắt vì tiền mà làm bậy. Lúc sau tôi biết xã hôi đó hỏng hết tôi bỏ việc và vượt biên những năm sau đó.

Tôi kể ra câu chuyện để đối chiếu với tệ nạn hôm nay qua vấn đề xả thải Formosa Vủng Áng Hà Tỉnh. Ðúng là đại họa gây ra bởi nhóm Nguyễn Tấn Dủng toa rập với Tập đoàn thiếu kinh nghiệm kỷ thuật mà giỏi về móc ngoặc thuộc Trung quốc Ðài Loan là Formosa để làm bậy ký bậy buôn bán bậy gây đại họa cho dân Việt.

Ðài Loan Trung quốc biết rỏ con mồi nhóm Nguyễn Tấn Dủng thuộc loại điếc không sợ súng, là loại ở trong rừng mới ra tự phịa bằng cấp chứ không biết gì cả . Cứ đưa tiền là cái gì nhóm Dủng cũng ký cả, ký vô trách nhiệm dân chết mặc dân.

7/ Việt nam hôm nay tan tác thời hậu Nguyễn Tấn Dủng với nợ nần thê thảm cá chết và người cũng ngất ngư

Hậu qủa dối trá từ dây chuyền Hồ Chí Minh sống đời cư xử thiếu lương thiện, rồi truyền lại Nguyễn Tấn Dủng bắt chước làm chuyện tày Trời rước các công ty có thành tích xấu vào Việt nam ăn chia tàn phá đất nước gây hậu qủa nghiêm trọng cho đồng bào.

Người ta tin rằng sự việc chưa ngừng ở đây, vì đời này có vay thì có trả và giờ này không biết nhóm Nguyễn Tấn Dủng đã vào tù chưa, đã bị tịch thu tài sản chưa hay trốn đâu đó tại nước ngoài.

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA
Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

*

NHÓM NGUYỄN TẤN DỦNG TRONG VỤ RƯỚC CÔNG NGHỆ LUYỆN THÉP LỔI THỜI FORMOSA VÀO TÀN PHÁ VIỆT NAM LÀ AI ?

06/05/2016

Những bất cập trong triển khai dự án FORMOSA Hà Tĩnh

TS Nguyễn Thành Sơn

Chuyên gia tư vấn độc lập

Trong Lời mở đầu bài viết của TS Tô Văn Trường đăng ngày 3-5-2016 (xin xem ở đây), dựa trên những suy ngẫm của GS Nguyễn Huệ Chi – một đứa con Hà Tĩnh và nặng lòng với mảnh đất Hà Tĩnh, tuy không nắm sâu khoa học kỹ thuật nhưng lại có linh cảm của một trí thức có quá trình dấn thân vào thực tế và nhìn thấu bụng dạ con người – BVN đã bước đầu nêu lên nhận xét rằng, chính ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh (trước đó là Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hà Tĩnh), là người chủ chốt trong việc “hết lòng mai mối” cho tập đoàn Formosa Đài Loan có được chỗ đứng chân vững chãi tại Vũng Ấng bằng mọi giá, vượt qua bất kỳ trở lực hay yêu cầu quan trọng nào của đất nước, như an ninh quốc phòng… Nay, với bài viết rất rõ ràng, đầy ắp chứng cứ của TS Nguyễn Thành Sơn, một trong những chuyên gia hàng đầu về ngành khai khoáng, linh cảm trên của GS Nguyễn Huệ Chi đã được chứng thực hai năm rõ mười.

Nhưng không phải chỉ có thế. Bài viết chắc nịch của TS Nguyễn Thành Sơn còn làm cho người đọc thấy hiển lộ sự không bình thường đầy mờ ám của các quan chức Hà Tĩnh mà đứng đầu là ông Cự, trong việc chạy [vạy] hơn cả ngựa phi để một dự án đầy tai tiếng và có quy mô hơn chục tỷ đô từ Tập đoàn Formosa Đài Loan đi dích dắc đến ông Thủ tướng xong xuôi trót lọt chỉ vẻn vẹn mất 12 ngày. Không cần đếm xỉa đến những văn bản đươc thảo vội vàng, sai be bét về chính tả (điều tuyệt nhiên không được phép trong công văn hành chính, chứng tỏ người đứng đầu có tấm bằng Thạc sĩ dỏm đúng như dư luận đang tố cáo), hãy nói đến việc luồn lách nhằm bỏ qua hết mọi thủ tục điều tra về bất cứ phương diện nào, đặc biệt là về năng lực thực tế cũng như về uy tín hoạt động kinh doanh của phía chủ đầu tư, mà TS Sơn gọi là “vô trách nhiệm” và “trái thẩm quyền” của ông Võ Kim Cự, chúng ta bất giác rùng mình, vì chính những tệ nạn căn cốt nằm sâu trong phẩm chất một loại quan chức vô học và vô hạnh như thế, rất có thể là nguyên nhân số một làm cho biển miền Trung chúng ta hôm nay bị chết, ngành hải sản truyền thống bị thất thu, GDP chắc chắn sẽ còn tuột dốc và dân chúng sẽ lâm vào nạn đói trầm trọng. Ông Võ Kim Cự làm những việc lợi người hại nước đó để làm gì nếu không là chỉ nhắm vào lợi ích của gia đình con cái ông, ngoài ra thì phó mặc? Dựa trên những đặc quyền của một thể chế độc tài để ông tự tung tự tác, phải chăng chính ông và những người dung dưỡng cho ông đã tự tố cáo những ung nhọt đã trở thành ung thư của chế độ hôm nay?

Tất nhiên, bài viết của TS Nguyễn Thành Sơn còn hé lộ nhiều điều quan trọng. Chẳng hạn, về những người liên đới, ngoài ông Võ Kim Cự, chúng ta còn thấy có thêm tên ông Trần Đình Đàn vốn cũng là một Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh trước ông Võ Kim Cự vài khóa, về sau ra làm Chánh văn phòng Quốc hội; và ở cấp trung ương là ba ông Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng và Hoàng Trung Hải. Những người này, trong cương vị trọng yếu đương thời của họ, qua những văn bản mà họ đã ký, phải chịu trách nhiệm cá nhân đến đâu việc rước Formosa vào trấn ở Vũng Áng một cách sai quy chế và trái với luật đầu tư dành cho các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam? Thiết tưởng những ai đang cầm chịch đất nước trong những ngày này, nếu còn chút bản lĩnh và muốn lấy lại được chút nào lòng tin đang cạn kiệt của nhân dân cả nước, trong nghị trình giải quyết tổng thể sự cố tày trời “cá chết Vũng Áng” chắc chắn phải đặt ra nghiêm túc, hãy xem xét luôn các vấn đề mà giới trí thức chủ động đưa lên bàn cân cho các vị, một cách thật thấu đáo, công minh.

Bauxite Việt Nam

Chúng tôi đã từng chủ trì và/hoặc tham gia soạn thảo và/hoặc thực hiện các thủ tục trình các cơ quan nhà nước phê duyệt các Báo cáo đầu tư, PFS, FS, ĐTM, các Hồ sơ mời thầu v.v. của các dự án nhiệt điện chạy than của TKV có tổng mức đầu tư mỗi dự án khoảng 120÷600 triệu U$.

Qua nghiên cứu Báo cáo đầu tư của dự án Formosa (2008) có tổng mức đầu tư giai đoạn đầu lên tới 7,897 tỷ U$, chúng tôi thấy tiến độ chuẩn bị đầu tư (từ khảo sát tình hình đến cấp giấy phép) của dự án này nhanh đến khó tin.

Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy cần nêu ra dưới đây những bất cập có liên quan đến trình tự/thủ tục đầu tư cũng như chất lượng của dự án Formosa để các cơ quanhức năng và/hoặc có thẩm quyền của VN tham khảo, góp phần nhanh chóng điều tra kết luận về nguyên nhân của vụ cá chết ở ven bờ biển miền Trung theo yêu cầu của Thủ tướng:

Tóm tắt dự án

Chủ đầu tư dự án liên hợp thép-cảng Sơn Dương Hà Tĩnh (gọi tắt là Formosa) gồm 6 công ty: Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Nam Á, Công ty cổ phần hữu hạn sợi hóa học Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn dầu khí Formosa, Công ty cổ phần hữu hạn công nghiệp nặng Formosa, và Công ty trách nhiện hữu hạn Sunsco Holding Ltd.

Dự án Formosa Hà Tĩnh được chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (gồm 2 bước): Bước 1-1, đầu tư liên hợp luyện gang thép và cảng công suất 7,5 triệu tấn/năm; Bước 1-2, sẽ nâng công suất lên đạt và 15 tr.t/năm; Tổng mức đầu tư bước 1-1 (gồm tổ hợp gang-thép và cảng biển Sơn Dương) khoảng 7,897 tỷ đô la.

Giai đoạn 2: xây dựng tổ hợp nhà máy lọc dầu công suất 15 tr.tấn dầu thô/năm và 1,2 tr.tấn ethylene/năm;

Giai đoạn 3: Xây dựng cảng Sơn Dương thành cảng tổng hợp phục vụ trung chuyển hàng hóa trong khu vực (gồm cả Bắc Thái Lan và Nam Lào).

Địa điểm triển khai: Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tổng diện tích chiếm đất chỉ riêng giai đoạn 1 là 44.476.751 m2 (4.448 ha), bao gồm toàn bộ cảng biển sâu nhất khu vực miền Trung là Sơn Dương.

Như vậy, có thể thấy, Formosa là một “siêu dự án” được triển khai trên một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng của VN.

Thủ tục đầu tư đã được tiến hành theo kiểu đối phó

Nếu tính cả 3 giai đoạn, Formosa là một dự án rất lớn, có tổng mức đầu tư hàng chục tỷ đô la. Nhưng thời gian nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục, xin giấy phép rất ngắn. Điều này cho phép nghi ngờ chất lượng của dự án “chục tỷ đô” này. Cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Formosa, năm 2007, “sau nửa năm nghiên cứu khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam”, Formosa đã “Mời lãnh đạo tỉnh Hà Tính, đại diện văn phòng chính phủ Việt Nam, đại diện bộ công thương và bộ kế hoạch đầu tư Việt nam đến Đài Loan thăm và khảo sát, tìm hiểu các vấn đề…” “Báo cáo với thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với thủ tướng Hoàng Trung Hải về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với chánh văn phòng quốc hộ [hội] Trần Đình Đàm [Đàn] về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của ngài chánh văn phòng” (hết trích dẫn nguyên văn, kể cả sai ngữ pháp).

Sau đó, ngày 09/11/2007, Chủ tịch Công ty Sunsco Holding Ltd. (có trụ sở tại quần đảo Cayman, vùng Caribe – nằm giữa Cu Ba và Jamaica, là thiên đường của các công ty để rửa tiền và trốn thuế) và Chủ tịch Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng có trụ sở ở Đài Bắc, đã gửi “Thư quan tâm đầu tư” (thực ra chỉ là một mảnh giấy tiếng Anh, không có tên người ký, không có địa chỉ phát hành, không dấu, không logo, v.v.) gửi UBND Hà Tĩnh bày tỏ kế hoạch đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng tổ hợp nhà máy luyện thép với tổng công suất 15 triệu tấn/năm; đồng thời bày tỏ “hy vọng được trao đổi với các sở/ban ngành có liên quan của Hà Tĩnh về kế hoạch đầu tư, và được tổ chức gặp để báo cáo thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để kế hoạch nhận được giấy phép của chính phủ trung ương sớm nhất có thể”.

Sau khoảng 1 tháng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự ký văn bản số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007 v/v đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã “đề nghị Tập đoàn tiến hành khảo sát, lập hồ sơ các dự án báo cáo Chính phủ VN, các Bộ ngành Trung ương có liên quan và UBND tỉnh Hà Tĩnh để kịp thời hoàn chỉnh thủ tục đầu tư theo qui định hiện hành”. Đây thực chất là một văn bản vô trách nhiệm (bỏ qua các thủ tục tìm hiểu/đánh giá về năng lực của chủ đầu tư) và trái thẩm quyền (góp phần làm phá vỡ các qui hoạch lớn về kinh tế của Chỉnh phủ, gồm các qui hoạch về thép, điện, cảng biển, v.v).

Sau đó 12 ngày, Tập đoàn Formosa đã thực hiện xong ý kiến chỉ đạo tại văn bản nói trên của Phó chủ tịch Hà Tĩnh Võ Kim Cự, xây dựng xong báo cáo đầu tư về hai dự án khu liên hợp luyện thép (15 tr.t/năm) và cảng tổng hợp Sơn Dương (200.000 DTW) để trực tiếp báo cáo Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vào ngày 24/12/2007.

Sau đó 3 ngày, ngày 27/12/2007, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng đã có thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó khẳng định: “Chúng tôi đã xây dựng Báo cáo đầu tư về hai dự án trên để trình Chính phủ Việt Nam. Theo đó thời gian hoàn thành lò cao thứ 1 của giai đoạn 1 được rút ngắn từ 48 tháng xuống còn 36 tháng. Nay chúng tôi xin gửi tới ngài báo cáo đó, rất mong được Ngài và các cơ quan hữu quan của Chính Phủ Việt Nam sớm chấp thuận”, và hứa: “Ngay sau khi nhận được sự chấp thuận của chính phủ Việt nam, chúng tôi sẽ triển khai việc lập báo cáo tiền khả thi và tháng 3/2008 sẽ trình lên các cơ quan hữu trách của Việt Nam” (hết trích dẫn).

Qua sự việc trên cho thấy, Báo cáo đầu tư của dự án qui mô hàng chục tỷ đô la chỉ được thực hiện vỏn vẹn trong vòng 12 ngày, đã được trình lên tới Chính phủ VN.

Ngày 15/01/2008, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng, từ Đài Bắc đã gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Thư bảo đảm xin đầu tư xây dựng dự án cảng Sơn Dương và khu liên hợp gang thép tại Hà Tính”.

Mặc dù thư này được gửi cho Thủ tướng, nhưng ngay ngày hôm sau, từ Hà Tĩnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Kim Cự đã ký công văn số 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 về việc đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa (Đài Loan). Công văn này đã khẳng định: “Sau khi xem xét văn thư ngày 15/01/2008 của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) về việc cam kết đầu tư Dự án cảng Sơn Dương và Dự án nhà máy luyện thép công suất 15 triệu tấn/năm… UBND tỉnh Hà Tĩnh xin báo cáo và đề nghị như sau: … Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép… Kính đề nghị Thủ tướng Chính Phủ và các Bộ, ngành liên quan cho phép Tập đoàn lập dự án trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện dự án nói trên”.

Như vậy, bằng công văn 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 nói trên Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cố tình hợp thực hóa công văn số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007. Văn bản trên còn cho thấy rõ hành động vô trách nhiệm của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Trong khi Formosa là đối tác được thế giới bêu danh hàng đầu trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường, thì, chỉ trong vòng 24h, sau khi Formosa “cam kết đầu tư” với Thủ tướng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã khẳng định với Thủ tướng: “Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép”!!!.

Những ưu đãi không có cơ sở

Mặc dù Formosa chưa trình dự án, ngày 28/02/2008, Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng – Hà Tĩnh đã lập “Biên bản ghi nhớ về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Biên bản này đã nêu cụ thể 14 mục ưu đãi đối với Formosa. Trong đó, có những mục như “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực”. Đây là hành động “cầm đèn chạy trước ô tô” của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Vì, sau đó 4 ngày, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản số 323/TTg-QHQT ngày 04/3/2008 “về việc đầu tư xây dựng Nhà máy luyện thép và cảng nước sâu tại Hà Tĩnh”, trong đó có nội dung: “UBND tỉnh Hà Tĩnh chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành có liên quan chỉ đạo Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư và hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, tổ chức thẩm định Dự án và hồ sơ theo quy định hiện hành của Luật đầu tư, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”.

Sau khi có ý kiến chỉ đạo trên, thay vì phải “hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư” theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, ngày 25/3/2008, cũng chính Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, đã ký “Biên bản ghi nhớ bổ sung, sửa đổi về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Trong đó, mục “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực” đã được sửa đổi thành: “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực. Trước khi hết hạn thuê đất 2 năm nếu có nhu cầu, nhà đầu tư (FORMOSA) phải trình UBND tỉnh Hà Tĩnh đơn xin thuê đất cho thời gian tiếp theo và trong vòng 03 tháng (kế từ ngày nhận được đơn xin thuê đất), UBND tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm trả lời nhà đầu tư. Khi đó, FORMOSA là nhà đầu tư được ưu tiên để tiếp tục thuê đất nhưng chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của luật Việt Nam tại thời điểm hiện hành”.

Qua sự việc trên cho thấy, trong khi chủ đầu tư chưa trình Dự án, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ký biên bản thỏa mãn tất cả các yêu cầu của chủ đầu tư. Đặc biệt, việc giao đất 70 năm được bổ sung các điều kiện được chấp nhận kéo gần như vô thời hạn.

Mặc dù Báo cáo đầu tư của Formosa chưa được lập và chưa được các cơ quan hữu quan phê duyệt, ngày 09/4/2008, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã ký văn bản số 858/UBND-CN2 về việc xác nhận ưu đãi đầu tư cho Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã đưa ra 5 ưu đãi về thuế, 3 ưu đãi về đất, 2 ưu đãi về bồi thường, giải phóng mặt bằng, 4 hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật, 2 hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, và 1 hỗ trợ về chi phí quảng cáo. Riêng về ưu đãi thuê đất, văn bản đã khẳng định “Thời gian cho thuê đất là 70 năm. Khi hết hạn thuê đất, nếu có nhu cầu, Formosa sẽ được ưu tiên tiếp tục thuê đất; chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó”.

Nhờ có những ưu đãi “từ trên trời rơi xuống”, ngày 11/4/2008, hai ngân hàng Hongkong and Shanghai Banking Corporation Ltd. (HSBC) và Mega International Commercial Bank Co., Ltd đã có “Thư quan tâm” gửi cho Formosa. Trong đó, HSBC đã lưu ý nếu chính sách của Chính phủ thay đổi thì Thư quan tâm này sẽ cần được HSBC khẳng định lại!

Những rủi ro về môi trường chưa được xem xét

Dự án Formosa có nhà máy luyện gang thép với công nghệ lạc hậu, nên phải dùng than mỡ để luyện coke cho lò cao. Nhu cầu than mỡ hàng năm phải nhập khẩu là 3,623 triệu tấn để luyện ra 2,52 triệu tấn coke (xem tr.24, Thuyết minh tổng hợp). Ngoài ra, hàng năm Formosa phải sử dụng khoảng 0,642 triệu tấn dolomit; 1,442 triệu tấn đá vôi, và 1,296 triệu tấn than cám.

Quy trình luyện coke thải ra rất nhiều độc tố vì than mỡ dùng để luyện coke thường có chứa các chất rất độc hại và nguy hiểm, như: sulphure (≈ 0,3%) chlorine (≈0,03%), phosphorous (≈0,001%); và arsenic (≈0,004%).

Như vậy, Chỉ riêng 3 loại chất cực độc (là chlorine, phosphorous, và arsenic) chứa trong than mỡ đã khoảng 0,035%. Với lượng tiêu dùng 3,623 triệu tấn/năm, chỉ riêng khâu luyện coke sẽ thải ra môi trường dưới mọi hình thức ít nhất 1.268 tấn/năm chất cực độc nói trên.

Đáng lưu ý, những loại than dùng để luyện coke đã được Formosa nhập về VN đều là những loại than rẻ tiền. Thay vì nhập khẩu than mỡ, Formosa đã nhập khẩu than bitum vào VN để luyện coke. Cụ thể, năm 2014, Formosa đã nhập khẩu 960.466 tấn than bitum từ Indonesia với giá bình quân gần 84 U$/tấn và năm 2015, Formosa đã nhập khẩu 87.923 tấn than bitum từ Canada để luyện coke với giá bình quân 82 U$/tấn. Các thành phần độc tố nói trên trong các loại than bitum rẻ tiền này chắc chắn còn cao hơn nhiều so với trong than mỡ đắt tiền (khoảng 200 U$/tấn).

Nhà máy luyện coke của Formosa theo thiết kế có công suất 2,86 triệu tấn/năm. Như vậy, cũng theo thiết kế, lượng khí lò coke (COG) hàng năm lên tới 1,4 tỷ Nm3 (trong điều kiện bình thường) và thải ra khoảng 1,1 triệu tấn xỉ/năm. Ngoài than luyện coke, nhà máy này còn phải sử dụng 1.906 tấn dầu rửa/năm.

Điều đáng lo ngại là trong Báo cáo đầu tư, Formosa đã cố tình không đưa ra các đặc tính kỹ thuật cũng như các thành phần hóa học của các loại nguyên liệu đầu vào được đưa vào sử dụng trong dự án (trong đó có các thành phần độc tố trong than luyện coke và dầu rửa).

Vấn đề bảo vệ môi trường không được đề cập trong Báo cáo đầu tư

Như trên đã nêu, ngày 25/3/2008, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản “Đồng ý chủ trương Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư Nhà máy liên hợp thép tại Khu kinh tế Vũng Áng và Cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại văn bản nêu trên” (số 102/UBND-CN2 ngày 16/01/2008).

Nhưng ngay trong năm 2008 (không rõ tháng), Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã trình “Báo cáo dự án đầu tư khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh”. Báo cáo đầu tư gồm 2 phần: phần I – Thuyết minh tổng hợp (tổng luận, 116 trang khổ A4) và phần phụ lục; phần II – Giải trình kinh tế-kỹ thuật (gồm 5 chương, 281 trang khổ A4).

Đối với một dự án nhạy cảm với môi trường, có mức đầu tư tới 7,897 tỷ U$, nội dung Báo cáo đầu tư này đã được lập hoàn toàn đối phó, không theo các quy định hiện hành của Luật đầu tư. Trong đó, đặc biệt là phần liên quan đến bảo vệ môi trường.

Trong Thuyết minh tổng hợp, Mục 9.9 “Bảo vệ môi trường” (tr.87÷94) được thực hiện rất sơ sài và rất mơ hồ. Trong đó, mục 9.9.2 “Ứng dụng các giải pháp khống chế ô nhiễm” gồm: khống chế ô nhiễm không khí (2 trang); khống chế ô nhiễm nước (1 trang); tận dụng chất thải rắn (>2 trang); khống chế tiếng ồn (<1 trang).

Trong “Giải trình kinh tế-kỹ thuật”, mục 3.2 “Hệ thống cung cấp nước và xử lý nước thải” cũng vỏn vẹn có 4 trang khổ A4 (tr. 3-37÷3-41, kể cả 2 trang hình vẽ). Trong đó, mục 3.2.2.3 “Hệ thống xử lý nước thải” có tổng số chưa đầy 12 dòng (5 dòng về “dự kiến”, 4 dòng về “nước thải sinh hóa” và 2 dòng về “nước thải công nghiệp”).

Với nội dung rất sơ sài của một Báo cáo đầu tư như trên, nhưng, trong một thời gian ngắn kỷ lục, chủ đầu tư đã được cấp đất và triển khai dự án. Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của các hồ sơ dự án do chủ đầu tư lập, trong đó có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và chất lượng tổ chức thẩm định dự án của phía VN trước khi cấp phép.

Việc quản lý môi trường bị buông lỏng

Như chúng ta đã biết, Formosa là một dự án thuộc lĩnh vực luyện kim (có gắn với cảng biển và sản xuất nhiệt điện tự dùng). Công nghệ của nhà máy thuộc loại lạc hậu (phải sử dụng coke để luyện gang). Quy trình sản xuất gang thuộc loại liên hoàn và liên tục. Khối lượng chất thải các loại (rắn, lỏng, khí) rất lớn, có chứa nhiều chất độc hại, và được thải ra liên tục. Chỉ riêng chất thải lỏng được phê duyệt thải ra môi trường tới hàng chục nghìn m3/ngày.

Thế nhưng, việc quan trắc, giám sát từ phía các cơ quan của nhà nước lại chỉ thực hiện theo chu kỳ. Đặc biệt, việc xử lý các chất cực độc phát sinh từ công nghệ luyện coke-gang-thép đã không được kiểm soát khách quan và liên tục. Đây là một kẽ hở lớn mà chủ đầu tư có thể lợi dụng để chỉ cần trong vòng vài phút có thể thải hết ra biển hàng tấn chất cực độc như Chlorine, Phosphorous, Arsenic.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, cơ quan chức năng cần công bố toàn văn ĐTM và những tài liệu liên quan đến việc phê duyệt ĐTM của dự án.

Câu hỏi, liệu hàng tấn chất cực độc nêu trên có dẫn đến cá chết hàng loạt hay không? chúng tôi xin nhường lời cho các nhà khoa học hóa sinh./.

Hà Nội, ngày 01/5/2016

N.T.S.

Tác giả gửi BVN

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:11

VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ

https://youtu.be/3TDcmmDFWfA

Photo
Biểu tình tại Việt Nam kêu gọi bảo vệ môi trường biển

Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản

18/04/2016

 

  • Tác giả :
  • Dennis Prager
  • Quí bạn đọc thân mến,Với các diễn giả chính như đương kim ngoại trưởng Mỹ John Kerry, từng là phát ngôn viên của phong trào phản chiến trước đây, Tom Hayden, lảnh tụ phản chiến cũng là chồng củ của Jane Fonda, cựu ngoại trưởng Henry Kissinger … đang làm cho dư luận nghi ngờ mục tiêu của Ban tổ chức, nhứt là sự vắng mặt của các tổ chức cựu chiến binh Mỹ & Việt đã tham dự trực tiếp vào cuộc chiến đó .Ông Prager hiện có một chương trình truyền thanh thính giả đàm thoại (Talk Show) hàng ngày trên đài KRLA tần số 870AM bao gồm vùng Los Angeles và Orange Countỵ KRLA liên hợp với 140 đài khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ông viết xã luận hàng tuần, là tác giả của bốn cuốn sách và là sáng lập viên của Đại Học Prager.
  • (http://www.dennisprager.com/trip-to-vietnam-revives-hatređof-communism/)Trân trọng cám ơn.
  • Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản – Dennis Prager.

  • Điều không may là chính phủ cộng sản vẫn cai trị nước này. Mà Việt Nam ngày nay đã đón nhận cách duy nhất, chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do, để thoát khỏi cảnh nghèo đói, chứ khoan nói đến chuyện thịnh vượng. Vậy thì 2 triệu người Việt phải bỏ mạng trong Chiến Tranh Việt Nam để làm gì? Tôi muốn hỏi một trong những người lãnh đạo Cộng Sản đang cai trị Việt Nam câu hỏi đó. Tôi muốn hỏi: “Này đồng chí, đồng chí đã bỏ hết tất cả những gì mà đảng Cộng Sản của đồng chí đã tranh đấu cho kỳ được: nào là cộng sản, nông nghiệp tập thể, hoạch định trung ương, và quân phiệt, ngoài những lý tưởng khác nữa. Vậy thì hãy nhìn lại xem Hồ Chí Minh yêu kính của đồng chí và đảng của đồng chí đã hy sinh hàng triệu đồng bào người Việt của đồng chí thì đúng ra là để được cái gì?”Lời nói dối chính là câu trả lời của Cộng Sản Việt Nam, cũng như hầu hết mọi lời nói dối của Cộng Sản, và đã được khối cánh Tả phi Cộng Sản trên thế giới lặp lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây, và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là Cộng Sản Việt Nam (tức Bắc Việt), và Việt Cộng chỉ tranh đấu giành độc lập cho nước họ khỏi tay ngoại bang. Trước hết là tranh đấu chống Pháp, sau đó là Nhật, rồi đến Mỹ. Những người Mỹ sinh vào thời hậu chiến (sau thế chiến 2) sẽ nhớ là họ cứ được nhắc nhở mãi Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, và ông ta yêu mến Hiến Pháp Hoa Kỳ và đã dùng bản hiến pháp này làm nền tảng mô phỏng hiến pháp của ông ta, và chỉ muốn giành độc lập cho Việt Nam..Tất cả những kẻ độc tài Cộng Sản trên thế giới đều là những kẻ côn đồ ngông cuồng, thần thánh hóa cá nhân, tham quyền, khát máu. Hồ Chí Minh cũng thế. Hắn thủ tiêu các đối thủ, tra tấn biết bao nhiêu người Việt vô tội mà chỉ có trời mới biết chính xác được bao nhiêu người, và đe dọa hàng triệu người để họ phải cầm súng ra trận cho hắn — phải, cho hắn và cho đảng Cộng Sản Việt Nam đẫm máu, và được một tên sát nhân “vĩ đại” nhất mọi thời đại khác yểm trợ: Mao Trạch Đông. Nhưng những kẻ ngu ngốc về đạo lý tại Hoa Kỳ lại cứ hô to “Ho, Ho, Ho Chi Minh” trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh và gọi Hoa Kỳ là những kẻ giết người — “Hey, Hey, LBJ, hôm nay ngươi giết được bao nhiêu trẻ con?” ..Và ai đã là người có tự do hơn ở Việt Nam — những người sống ở miền Nam Việt Nam không Cộng Sản (dù là với tất cả các khuyết điểm của chế độ đó) hay những người sống dưới chế độ Cộng Sản của Ho, Ho, Hồ Chí Minh ở Bắc Việt Nam?.Tôi ghé đến “Bảo Tàng Viện Chứng Tích Chiến Tranh Việt Nam” — tòa nhà triển lãm các hình ảnh chống Mỹ cao ba tầng của đảng Cộng Sản. Chẳng có gì để tôi phải ngạc nhiên — tôi chẳng ngạc nhiên vì không có đến một chữ chỉ trích Cộng Sản Bắc Việt hoặc Việt Cộng, không có đến một chữ về việc đe dọa mạng sống của mọi người khắp nơi nếu họ không chiến đấu cho Cộng Sản, không có đến một chữ về những người liều mạng để vượt thoát bằng thuyền, thà chịu nguy hiểm bỏ mạng ngoài biển cả, vào bụng cá mập, hoặc bị hải tặc tra tấn hoặc hãm hiếp tập thể, còn hơn sống dưới chế độ Cộng Sản đã “giải phóng” Nam Việt Nam.Đã đến thăm Việt Nam thì không thể không mang ấn tượng tốt đẹp về người dân nước này. Tôi hy vọng tôi còn sống để thấy ngày người dân Việt Nam, được giải phóng khỏi những lời dối trá của Cộng Sản hiện vẫn lan tràn trong đời sống hàng ngày của họ, hiểu rằng mỗi mạng người Việt hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ đều bị phí phạm vô nghĩa, là thêm một mạng người nữa trong số 140 triệu sinh mạng bị đem ra hy sinh trước bệ thờ tên giả thần khát máu nhất trong lịch sử: Chủ Nghĩa Cộng Sản.
  • It was difficult to control my emotions — specifically, my anger — during my visit to Vietnam last week. The more I came to admire the Vietnamese people — their intelligence, love of life, dignity and hard work — the more rage I felt for the communists who brought them (and, of course, us Americans) so much suffering in the second half of the 20th century.There is no good answer. There are only a lie and a truth, and the truth is not good.First, they fought the French, then the Japanese and then the Americans. American baby boomers will remember being told over and over that Ho Chi Minh was Vietnam’s George Washington, that he loved the American Constitution, after which he modeled his own, and wanted nothing more than Vietnamese independence.The Vietnamese communists were not fighting America for Vietnamese independence. America was never interested in controlling the Vietnamese people, and there is a perfect parallel to prove this: the Korean War. Did America fight the Korean communists in order to control Korea? Or did 37,000 Americans die in Korea so that Koreans could be free? Who was (and remains) a freer human being — a Korean living under Korean communist rule in North Korea or a Korean living in that part of Korea where America defeated the Korean communists?America fights to liberate countries, not to rule over them. It was the Vietnamese Communist Party, not America, that was interested in controlling the Vietnamese people. But the lie was spread so widely and so effectively that most of the world — except American supporters of the war and the Vietnamese boat people and other Vietnamese who yearned for liberty — believed that America was fighting for tin, tungsten and the wholly fictitious “American empire” while the Vietnamese communists were fighting for Vietnamese freedom.Equally unsurprising is that there is little difference between the history of the Vietnam War as told by the Communist Party of Vietnam and what just about any college student will be told in just about any college by just about any professor in America, Europe, Asia or Latin America.
  • http://www.dennisprager.com/trip-to-vietnam-revives-hatred-of-communism/
  • VB trân trọng cảm ơn quý thân hữu TĐV đã chuyển bài này

 

  • I will end with the subject with which I began — the Vietnamese. It is impossible to visit Vietnam and not be impressed by the people. I hope I live to see the day when the people of Vietnam, freed from the communist lies that still permeate their daily lives, understand that every Vietnamese death in the war against America was a wasted life, one more of the 140 million human sacrifices on the altar of the most bloodthirsty false god in history: communism.
  • I went to the “Vietnam War Remnants Museum” — the Communist Party’s three-floor exhibit of anti-American photos. Nothing surprised me — not the absence of a single word critical of the communist North Vietnamese or of the Viet Cong; not a word about the widespread threats on the lives of anyone who did not fight for the communists; not a word about those who risked their lives to escape by boat, preferring to risk dying by drowning, being eaten by sharks or being tortured or gang-raped by pirates, rather than to live under the communists who “liberated” South Vietnam.
  • And who was a freer human being in Vietnam — those who lived in non-communist South Vietnam (with all its flaws) or those who lived under Ho, ho, Ho Chi Minh’s communists in North Vietnam?
  • Here is the truth: Every communist dictator in the world has been a megalomaniacal, cult of personality, power hungry, bloodthirsty thug. Ho Chi Minh was no different. He murdered his opponents, tortured only God knows how many innocent Vietnamese, threatened millions into fighting for him — yes, for him and his blood soaked Vietnamese Communist Party, backed by the greatest murderer of all time, Mao Zedong. But the moral idiots in America chanted “Ho, ho, Ho Chi Minh” at antiwar rallies, and they depicted America as the real murderers of Vietnamese — “Hey, hey, LBJ, how many kids did you kill today?”
  • The lie is the response offered by the Vietnamese communists and which was repeated, like virtually all communist lies, by the world’s non-communist left. It was (and continues to be) taught in virtually every Western university and was and continues to be spread by virtually every news medium on the planet: The Vietnam communists, i.e., the North Vietnamese and the Viet Cong, were merely fighting for national independence against foreign control of their country.
  • Unfortunately, communists still rule the country. Yet, Vietnam today has embraced the only way that exists to escape poverty, let alone to produce prosperity: capitalism and the free market. So what exactly did the 2 million Vietnamese who died in the Vietnam War die for? I would like to ask one of the communist bosses who run Vietnam that question. “Comrade, you have disowned everything your Communist party stood for: communal property, collectivized agriculture, central planning and militarism, among other things. Looking back, then, for what precisely did your beloved Ho Chi Minh and your party sacrifice millions of your fellow Vietnamese?”
  • Trip to Vietnam Revives Hatred of Communism

  • .Điều cũng không có gì đáng ngạc nhiên là không thấy có khác biệt gì mấy giữa lịch sử Chiến Tranh Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam kể lại với lịch sử cuộc chiến đó mà hầu như sinh viên nào cũng sẽ được nghe kể lại từ hầu như bất cứ giáo sư nào tại bất cứ trường đại học nào ở Mỹ Châu, Âu Châu, Á Châu, hoặc Châu Mỹ La Tinh. Tôi sẽ kết thúc bằng đề tài tôi đã bắt đầu — người Việt.
  • Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trị họ. Sự thật là, chính đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới — trừ những người Mỹ hậu thuẫn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khác khao khát tự do — cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để lấy kẽm, tungsten, và để thành lập cả một “đế quốc Mỹ” giả tưởng trong khi Cộng Sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.
  • .Đảng Cộng Sản Việt Nam không đánh Mỹ để giành độc lập cho Việt Nam. Mỹ không bao giờ muốn kiểm soát người dân Việt, và có một trường hợp tương tự để chứng minh điều đó: Chiến Tranh Triều Tiên. Mỹ có đánh Cộng Sản Triều Tiên để kiểm soát Triều Tiên hay không? Hay là 37,000 người Mỹ bỏ mạng tại Triều Tiên để người dân Triều Tiên được hưởng tự do? Ai đã (và vẫn là) người có tự do hơn — một người Triều Tiên sống dưới chế độ Cộng Sản Triều Tiên ở Bắc Triều Tiên hay một người Triều Tiên sống tại nơi mà Hoa Kỳ đã đánh bại Cộng Sản Triều Tiên? .
  • Sau đây mới là sự thật .
  • Không có câu trả lời nào là câu trả lời hay. Chỉ có một lời nói dối và một lời nói thật, và lời nói thật thì thật thê lương.
  • Thật khó mà kềm nổi các cảm xúc của tôi — nhất là không tránh được phải nổi giận — trong chuyến viếng thăm Viêt Nam của tôi hồi tuần trước. Tôi càng ngưỡng mộ người dân Việt bao nhiêu — thông minh, yêu đời, tự trọng, và chăm chỉ — thì tôi lại càng tức giận chính phủ cộng sản đã gây đau khổ quá nhiều cho người dân nước này (và dĩ nhiên cả người Mỹ chúng ta) trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ 20.
  • Ban biên tập Website TĐV :
  • http://tandaiviet.org/v1/2016/04/18/chuyen-di-den-viet-nam-lam-toi-ghet-cong-san-dennis-prager/
  • Xin nhấn mạnh  nội dung bài được trích đăng nhằm để mở rộng tầm nhìn nó không nhứt thiết phản ảnh quan điểm của Websitẹ
  • Trong tinh thần tôn trọng sự trung thực cùng tính đa chiều của thông tin, chúng tôi xin được trích đăng bài quan điểm của một thức giả Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam với tựa đề “Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản” của  Viện Trưởng Đại Học Dennis Prager.
  • Vào ngày 26-27-28 tháng 4 sắp tới, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas sẽ tổ chức hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”)  được Đại Học University of Texas bảo trợ  với  mục tiêu chính là “đưa ra  ánh sáng dứt khoát về chiến tranh, và những bài học và di sản của nó. Đó cũng là ý định của chúng tôi để mời, bao gồm, những người đàn ông và phụ nữ can đảm phục vụ trong cuộc chiến đó tại Việt nam” (Our goal is to shed a definitive light on the war, and its lessons and legacỵ It is also our intent to invite, include, and recognize the men and women who courageously served in Vietnam.)  VietnamWarSummit.org

 *

Nếu nói chiến tranh Việt nam mà đổ thừa cho Hoa Kỳ là sai lầm và thiếu hiểu biết

 

Tác gỉa : Trần Cư / siphuvietnam

Little Saigon mùa quốc hận tháng tư 2016

 

Từ 1930 trở đi rồi sau này tới thời kỳ 1945 nếu Hồ Chí Minh một tay bất tài vô tướng dốt nát không học hành bao nhiêu và nếu Hồ chí Minh không làm mọi, làm tay sai bưng bô đần độn cho bọn cọng sản Liên sô Trung quốc lúc bấy giờ thì làm sao Hồ Chí Minh trở thành lảnh đạo cọng sản sắc máu tại Việt nam được. Súng gươm đâu mà hắn có để xài, thức ăn đâu hắn có để ăn mà làm bậy.

Khi Liên sô Trung quốc muốn bành trướng chủ nghĩa cọng sản

Khi Liên sô Trung quốc muốn bành trướng chủ nghĩa cọng sản thì Hồ Chí Minh là con mồi rất dể cắn câu vì bản chất Hố Chí Minh ngu hèn mà háo đá thích làm lảnh tụ dù hắn gây chiến giết dân tộc mình thì hắn vẫn làm. Người đời cũng cho rằng Hồ Chí Minh lúc đó là loại ngựa non háo thắng là loại biết một mà không biết hai và nảo bộ hắn xem như băng hoại.

Sau này lịch sử ghi nhận không ai ngu như Hồ Chí Minh nếu đối chiếu chính trị với lảnh đạo các nước cọng sản khác cùng thời thì các nước cọng sản khác không bao giờ gây chiến dùng súng giết anh em cùng một nhà, giết dân tộc mình hàng triệu người để làm lảnh tụ.

Hảy nhìn sang nước Ðức mà xấu hổ cho Hồ chí Minh. Nước Ðức cũng chia đôi như Việt nam thời đó, nhưng cọng sản Ðức là những ngưòi biết suy xét có lý trí cân nhắc không ngu dại nghe lời Liên sô xúi dại mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ðức.

Hảy nhìn sang nước Trung hoa cũng chia đôi gồm Hoa lục theo cọng sản do Mao Trạch Ðông làm chủ. Ðài Loan theo dân chủ do Tưởng Giới Thạch làm chủ. Thế mà mấy chục năm nay họ gỉa bộ hù dọa nhau nhưng có tiến hành chiến tranh chém giết dân tộc người Hán của họ đâu. Dỉ nhiên cái đầu của họ khôn hơn Hồ Chí Minh.

Hảy nhìn qua Hàn Quốc mà thấy xấu hổ cho sự cư xử giữa người và người của người Việt thời Hồ Chí Minh. Hàn quốc cũng chia đôi gồm Bắc Hàn theo cọng sản và Nam hàn theo dân chủ tự do. Hàn quốc hiện chia hai phe họ cũng gỉa bộ hù dọa nhau mấy chục năm nay. Bắc hàn vẫn không ngu daị mở cuộc chiến tranh chém giết người cùng dân tộc của họ ở miền Nam như Hồ Chí Minh.

Sáng suốt xét lịch sử thì nên nhớ là sau khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền năm 1945 và áp đặt chủ nghĩa cọng sản ngu đần thô bỉ mang rợ, thì hắn theo lệnh Liên Sô Trung quốc đấu tố dân Việt ở Bắc Việt nam , hắn dùng bạo lực giết người cướp của man rợ và tiếng kêu cứu lên tới Trời xanh thì tới năm 1960 Hoa Kỳ mới vào Việt nam giúp chận đứng chủ nghĩa cọng sản đang độc ác độc tài nguy hiểm cho thế giới.

Hoa Kỳ là một đại cường không bao giờ ở không để can thiệp vào Việt nam làm gì lúc đó kệ thây cho nó chết nếu không nguy hại cho thế giới cho Hoa Kỳ.

Hiệp định Geneve năm 1954 chia đôi Việt nam một nữa của Hồ Chí Minh độc tài độc đảng và một nữa của Việt nam cọng hòa theo thể chế dân chủ tự do đa đảng.

Hồ Chí Minh lúc đó ngu ngốc tuân lệnh đánh thuê

Hồ Chí Minh lúc đó ngu ngốc tuân lệnh đánh thuê cho Nga cọng và Tàu cọng . Nga cọng và Tàu cọng đưa ồ ạt vủ khí và thức ăn cho Hồ Chí Minh bảo Hồ Chí Minh tiến hành cuộc chiến tranh Việt nam ngay lập tức tiến đánh miền Nam Việt nam để bành trướng chủ thuyết cọng sản của Nga cọng và Tàu cọng lúc đó còn rất nóng bỏng.

Tình hình lúc đó một mình Việt nam cọng hòa làm sao chọi nổi Nga cọng Tàu cọng và lính đánh thuê cọng sản Hà Nội do Hồ chí Minh lảnh đạo. Trong khó khăn đó buộc lòng Việt nam cọng hòa phải xin thế giới dân chủ tự do giúp đở ủng hộ người và của trong đó có Nam Hàn, Philippines, Hoa Kỳ, Malaysia, Australlia, v. v. để chống lại khối cọng sản quốc tế do Hồ Chí Minh đã ngu ngốc mang vào Việt nam, dùng Việt nam làm bải chiến trường và dùng thân xác người Việt làm bia để bắn.

Kể từ năm 1960 Hoa kỳ cực chẳng đả phải đem quân vào giúp Việt nam

Kể từ năm 1960 Hoa kỳ cực chẳng đả phải đem quân vào giúp Việt nam cọng Hòa chống lại làn sóng cọng sản đỏ giống y như tình hình biển Ðông ngày hôm nay. Chứ Hoa Kỳ là quốc gia văn minh giàu có khôn ngoan thì không có rảnh, không có ở không mà đi gây chiến với ai làm gì

Không có cuộc chiến tranh nào là để chống Mỷ cứu nước cả

Không có cuộc chiến tranh nào là để chống Mỷ cứu nước cả, mà chỉ có cuộc chiến tranh nội chiến mà thôi. Trong cuộc chiến tranh ấy bên miền Bắc cọng sản thì do Liên Sô Trung quốc và đồng minh các nước cọng sản đở đầu và bên Miền Nam Việt nam thì do Hoa Kỳ và đồng minh các nước dân chủ đở đầu.

Hồ Chí Minh sau này vì lúng túng nên mới phịa ra cái vụ đánh Mỷ cứu nước để kích động dân miền Bắc vô Nam đánh nhau, chứ Hồ Chí Minh đã phát động cuộc chiến tranh nội chiến chém giết đồng bào miền Nam từ sau 1954 lúc đó không có người Hoa Kỳ ở Việt nam.

Mải đến 1960 thì Hoa Kỳ mới vào giúp Việt nam cọng hòa thì Hồ Chí Minh lấy lý do gì mà đổ thừa Hoa Kỳ được. Phải gọi cho đúng cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc nội chiến hay còn gọi là chiến tranh ủy nhiệm giữa khối cọng sản độc tài Nga Tàu và khối tự do dân chủ Hoa Kỳ

 

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA

Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

 

*

 

04/01/2016

Diamond Bích Ngọc

CÓ AI NGHĨ ĐẾN CỰU-CHIẾN-BINH MỸ KHÔNG?

Diamond Bích-Ngọc (ghi-nhận & tường-trình).

“Quá bất ngờ, thật cảm-động và vô-cùng ý-nghĩa… Bởi sau hơn 40 năm từ ngày rút quân khỏi chiến-trường Việt-Nam trở về Hoa-Kỳ, bị người dân bản-xứ ngược đãi, xem thường, coi khinh… Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến dự một bữa tiệc tri-ân do gia-đình thuyền-nhân Việt-Nam – ‘Boat People’: Thái-Nguyên và Diamond Bích-Ngọc đứng ra tổ-chức. Hàng trăm cựu-chiến- binh Hoa-Kỳ hôm nay đã và đang được chữa lành (Healing) vết thương tâm-lý chiến-tranh; cũng chỉ vì các bạn đã biết nghĩ đến chúng tôi!” – Đây chính là câu trả lời cho tựa-đề bài viết này!

Những tia mắt lóng-lánh lệ mừng, những bắt tay xiết chặt đằm-thắm chân-tình của kẻ mang ơn (gia-đình Chân-Quê Việt-Nam) và người được đáp trả (các cựu-chiến-binh Mỹ) đã diễn ra trong không-gian chan-chứa tình người, giữa khung-cảnh tuyệt-vời của nhà-hàng sang-trọng “Moonlight” ở thành-phố Westminster, miền Nam California vào trưa thứ Bảy 26 tháng 3, 2016 vừa qua.

Được Trời thương, chúng-tôi lại có cơ-hội tổ-chức tiệc tri-ân những đồng-minh từng sát cánh bên các chiến-sĩ Quân-Lực-Việt-Nam-Cộng-Hòa. Họ đã đổ máu, để lại một phần thân-thể hay mất tích, bỏ xác nơi chiến-trường. Họ đã hy-sinh cho chúng tôi được sống an-bình tại miền Nam, Việt-Nam trước ngày 30 tháng 4, 1975.

Một bàn tiệc dành cho những anh-hùng tử-sĩ do chính tay Diamond Bích-Ngọc trưng-bày, sắp đặt; được kê trước sàn sân-khấu và một bàn nhỏ “Missing Man Table” của các cựu-chiến-binh đặt cuối nhà hàng đã làm biết bao người bồi-hồi, xúc-động; khi cùng tưởng nhớ đến những đồng-đội mình không được hiện-diện bằng xương, bằng thịt trong tiệc vui hôm nay. Chúng tôi chợt nhớ đến mấy vần thơ xưa: “Sống là khách qua đường, Chết là về cố hương, Trời đất là quán trọ, Bụi muôn đời tiếc thương!”…

blank blank

“Missing Man Table” trong tiệc “Thank You Vietnam Veterans” – Thứ Bảy 26 tháng 3, 2016.

Như đã thông-báo: Từ năm 2007 đến 2012, nhân mùa Lễ Father’s Day gia-đình “Chân Quê” liên-tục tổ-chức tiệc này cho các cựu-quân-nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa tại miền Nam California và từ năm 2013 đến 2015, chúng tôi tổ-chức ở thành-phố Duluth, tiểu-bang Minnesota (vùng Bắc Mỹ) cho các cựu-đồng-minh Hoa-Kỳ.

Năm nay, 2016 – Gia-đình “Chân-Quê”, được sự hợp-tác của ông Bob Harrison, đại-diện Hội Cựu-Chiến-Binh Mỹ miền Nam, California long-trọng tổ-chức “Thank You Vietnam Veterans! Party” vào trưa thứ Bảy 26 tháng 3. Quyết-định ngày tổ-chức xong, chúng tôi mới nhận biết ra một sự trùng-hợp; đó là 29 tháng 3 hằng năm (ngày cuối cùng Lính Mỹ rút quân khỏi Việt-Nam năm 1973) đã được Tổng-Thống Nixon chọn là “Vietnam Veterans’ Day”. Như chín năm trước, khách mời dự tiệc không phải mua vé hoặc đóng góp bất cứ một khoản chi-phí nào. Mỗi bàn ăn chỉ kê 8 ghế để không ai bị ngồi quay lưng lại sân-khấu.

Hai chiếc xe Jeep quân-đội VNCH cắm lá cờ Hoa-Kỳ tung bay phất-phới đậu trước cửa Moonlight Restaurant để quan-khách dễ nhận diện địa-điểm tổ-chức. Vừa bước vào cổng nhà hàng là những cựu-chiến-binh Mỹ cùng một số cựu-quân-nhân QL/VNCH được choàng ngay vòng hoa “Welcome” từ vòng tay dịu-dàng của bốn thiếu-nữ; duyên-dáng trong trang-phục Bắc (Thanh-Hằng), Trung (Hạnh-Lê), Nam (Mười-Thương), Thượng (Victoria Trần).

C:\Users\DBN\Pictures\unspecified.jpg blank

C:\Users\DBN\Pictures\untitled.1.png blank

Chào đón trọng-thể các cựu-chiến-binh Mỹ và VNCH trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party”

tại Moonlight Restaurant, thành-phố Westminster – Thứ Bảy 26, tháng 3, 2016.

Đúng 12 giờ trưa, chương-trình bắt đầu với nghi-thức chào quốc-kỳ Mỹ, VNCH cùng đôi phút mặc-niệm đến các Chiến-Sĩ-Trận-Vong, cho những người Việt-Nam trên đường đi tìm tự-do đã không may bỏ mình dưới lòng đại-dương hay trong rừng sâu núi thẳm. Chúng-tôi cũng cầu-nguyện cách riêng cho các nạn-nhân vụ khủng-bố ngày 22 tháng 3, 2016 vừa qua tại Brussels, nước Bỉ.

Tiếp theo, nhạc-sĩ Thái-Nguyên có đôi lời chào đón gần 200 quan-khách, không quên cảm-ơn đến anh Andrew-Trần và Michael-Nguyễn (Hiệp-Hội-Chuyên-Gia-Việt-Mỹ – VABN); những người đã góp công thiện-nguyện khi thực-hiện các banner, các phướn treo trên sân-khấu thật đẹp và đầy ý-nghĩa cùng nhiều “Slide-Show” cho chương-trình “Thank You Vietnam Veterans! Party” thêm phần phong-phú. Sau đó, chúng tôi giới-thiệu ông Bob Harrison là người có công đứng ra liên-lạc cũng như gửi thư mời những cựu-chiến-binh Mỹ tại miền Nam California; để họ biết về tiệc tạ-ơn này mà đến tham-dự đông đủ như hôm nay. Những khách mời lên sân khấu nói chuyện là ba cựu-thương-binh Mỹ từng được “Purple Heart Medals” và nhiều huy-chương khác khi tham-chiến Việt-Nam; gồm các ông: Danny Little, Greg Gillaspy và Steve Cooper.

Đặc-biệt là phần trình-bày xúc-tích, ngắn gọn nhưng đầy đủ ý-nghĩa của Thiếu-Tá Triết-Bùi, đang phục-vụ trong quân-đội Hoa-Kỳ, ông đã cho mọi người hiểu được vai-trò quan-trọng của thế-hệ người Mỹ gốc Việt; phải sống xứng-đáng trong trách-nhiệm cùng bổn-phận của một người dân, để tri-ân và đáp trả phần nào công-ơn của Tổ-Quốc, Tiền-Nhân.

Thị-trưởng Westminster Tạ-Đức-Trí cũng lên sân-khấu, xúc động và chân tình chia xẻ tâm-tư với toàn-thể quan khách; ông nhắc đến nỗ-lực của thành-phố Westminster hiện đang xúc-tiến việc thiết-lập Trung-Tâm-Sử-Liệu tại tượng đài Việt-Mỹ để lưu-trữ những giữ-kiện liên-quan đến hơn 58,000 binh-sĩ Hoa-Kỳ và hàng trăm ngàn lính VNCH tử trận. Ông cho biết; gia-đình mình đã trải qua nhiều năm tháng cơ-cực sau ngày quốc-hận 30 tháng Tư, 1975 khi sống dưới chế-độ Cộng-Sản. Nay là đương-kim thị-trưởng thành-phố Westminster, ông không xem đây là vị-trí của một kẻ quyền cao, chức trọng; chỉ ngồi thụ-động trong văn-phòng mà tự coi mình là một “Servant” – Người hầu-hạ cho cư-dân; ông cũng mong ước được làm tấm gương sáng cho thế-hệ con cháu noi theo.

Gia-đình “Chân-Quê” nói riêng và cộng-đồng Việt-Nam nói chung; chúng tôi vô cùng hãnh-diện vì có được những người trẻ đầy nhiệt-tâm, nhiệt huyết như Thiếu-Tá Triết-Bùi và thị-trưởng thành-phố Westminster, Tạ-Đức-Trí.

blank blank

Toàn-thể quan-khách chăm chú lắng nghe, không ồn ào khi có người nói chuyện trên sân-khấu

trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party” 26 tháng 3, 2016 do gia-đình “Chân Quê” tổ-chức.

blank blank

Thị-Trưởng thành-phố Westminster Tạ-Đức-Trí trao quà lưu-niệm cho gia-đình “Chân Quê” và Thiếu-Tá người Mỹ gốc Việt Triết-Bùi thưa chuyện cùng toàn-thể cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ.

blank

Hiệp-Hội-Chuyên-Gia-Việt-Mỹ (VABN) trao quà lưu-niệm cho gia-đình “Chân Quê” và cựu-chiến-binh

Bob Harrison cùng phu-nhân Tammy đã tặng bó hoa hồng tuyệt-đẹp cho Diamond Bích-Ngọc.

Ca-sĩ Thanh-Hằng, người tham-gia việc thiện-nguyện với gia-đình “Chân Quê” gần 16 năm qua với trình-độ Anh-Ngữ điêu-luyện, rõ ràng đã làm M.C (Master Ceremony) thật sinh-động cho chương-trình văn-nghệ “Thank You Vietnam Veterans! Party”. Dưới sự chỉ-đạo của vũ-sư chuyên-nghiệp Đình-Luân, nhóm “Việt-Cầm Dance” biểu-diễn vô cùng độc-đáo hai vũ-khúc “Giấc Mơ Trưa” phần đầu và “Sóc Sờ Bai Sóc-Trăng” phần sau; đến nỗi toàn-thể quan-khách phải ngưng dùng bữa; chăm chú nhìn không muốn bỏ xót một khắc, một giây nào hầu có thể dõi theo từng bước chân, điệu múa của các cô vũ-công tài-năng, duyên-dáng, xinh-đẹp.

blank blank

Các vũ-công “Việt-Cầm Dance” trong bài múa “Giấc Mơ Trưa” và “Sóc Sờ Bai Sóc-Trăng” vô cùng độc-đáo.

Mang đến bất ngờ, thích-thú cho khán-giả là màn biểu-diễn trực-thăng “Huey” bay lượn trên không của Tom-Sĩ-Lê; đi liền với bài hát “Green Green Grass of Home” do bác-sĩ y-khoa Bùi-Cao-Đệ (cũng là cựu sĩ-quan Biệt-Kích ngành Quân-Y QL/VNCH) trình-bày; đã gợi lại cảm-giác nhớ nhà của Lính Mỹ trong thời-kỳ tham-chiến Việt-Nam.

Ca-sĩ Carol-Kim hát những nhạc-phẩm quen thuộc trong thập-niên 60 như: Proud Mary, Besame Mucho, Chain of Fool, Crazy, Unchain My Heart, Unchained Melody. Giọng ca của chị quả thật xứng danh là một “Vietnamese Tina Turner” bởi làn hơi phong-phú; đạt đến đỉnh điểm âm-vực của những nốt nhạc cao chất-ngất một cách trọn vẹn và ngọt-ngào, khiến tất-cả khán-giả phải sững-sờ kinh-ngạc & thán-phục!

Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế trong áo dài màu xanh tha-thướt, giọng hát êm-ái, trữ-tình, điêu-luyện qua bài: “Saigon” của Y-Vân và “Người Ở Lại Charlie”, sáng-tác: Trần-Thiện-Thanh; trong lúc màn ảnh sân-khấu trình-chiếu slide-show hình-ảnh Saigon xưa trước 1975 và đồi Sạc-Ly (thuộc tỉnh Kom-Tum); nơi mà trung-tá Nguyễn-Đình-Bảo thuộc tiểu-đoàn 11 nhảy dù đã tử trận. Nhờ sự dẫn giải diễn-biến chiến-sử bằng Anh-ngữ của nhạc-sĩ Thái-Nguyên nên các cựu-chiến-binh Mỹ hiểu được ý-nghĩa bài hát này và đã tỏ lòng ngậm-ngùi thương-tiếc cho sự hy-sinh của người lính sĩ-quan QL/VNCH.

blank blank blank

Ca-sĩ Carol Kim, Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế và nhạc-sĩ Violin Luân-Vũ trình-diễn xuất-thần trong tiệc “Thank You Vietnam Veterans” tại Moonlight Restaurant thứ Bảy: 26 tháng 3, 2016.

Món quà tinh-thần bất-ngờ (không có trong chương-trình) nhưng vô cùng quý-giá mà chủ-nhân nhà-hàng Moonlight đã mang đến quan khách trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party” là ca- khúc “My Way”; một sáng-tác của Paul Anka; nguyên-bản từ bài nhạc Pháp “Comme d’habitude” do Claude François trình-diễn năm 1967. Đến tháng 12, năm 1968 được ca-sĩ Frank Sinatra thâu vào dĩa nhựa và bài này trở-thành bất-hủ trong nền âm-nhạc thế-giới. Nhạc-sĩ Luân-Vũ đã độc-tấu Violin “My Way” một cách xuất-thần khiến toàn-thể quan khách Mỹ đồng loạt (không ai bảo ai) đứng dậy vỗ tay không ngừng khi Luân-Vũ chấm dứt phần biểu-diễn.

Để chương-trình mang đầy đủ ý-nghĩa “Văn-Võ Song-Toàn”, được sự chuẩn-thuận của võ-sư Lý-Hoàng-Tùng (chủ-tịch Tổng-Hội Phát-Triển Võ-Thuật Thế-Giới), gần 20 võ-sinh dưới sự chỉ-đạo của võ-sư Bửu-Hoàng và phu-nhân Nghinh-Xuân, tất-cả đã đến tiệc “Thank You Vietnam Veterans” để góp phần biểu-diễn những màn tinh-hoa võ-thuật Việt-Nam; khiến các cựu-chiến-binh Mỹ thực-sự tâm-phục, khẩu-phục Võ Kinh Vạn-An.

blank blank

Võ “Kinh Vạn-An” dược các võ-sinh biểu-diễn thần-kỳ;

dưới sự chỉ-đạo của võ-sư Bửu-Hoàng và phu-nhân: Nghinh-Xuân.

Ngoài ra còn có tiết-mục “Ballroom Dance” không kém phần đặc-sắc của hoa-khôi Hạnh-Lê (VABN) và vũ-sư nổi tiếng Nguyễn-Hoàng-Ngôn. Những đường nét khiêu-vũ lả-lướt, chuyên-nghiệp của cả hai khiến khán-giả chăm-chú thưởng-thức và nhiệt-tình tán-thưởng.

Bài hát “Miền Quê Tôi” do hai ca-sĩ Thanh-Hằng & Thùy-Liêm song ca rất hay và bè phối nhịp-nhàng; với trang-phục áo bà-ba đáng yêu đã gợi nhớ phần nào trong tâm-trí các cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ về hình-ảnh thiếu-nữ Việt-Nam đơn sơ, bình-dị nhưng vô cùng đằm-thắm, thiết-tha!

Tất-cả khách tham-dự đều được tặng quà lưu-niệm; đó là một tách uống café (hoặc trà) có in dòng chữ màu xanh của Lính: “Vietnam Veterans. You are not forgotten!” – March 26, 2016 và hình “logo” của gia-đình “Chân-Quê”. Giải rút thăm độc-đắc mini iPad đã rơi vào tay một cựu-chiến-binh Mỹ nói rất sành-sõi tiếng Việt khiến chúng-tôi thật ngạc-nhiên và thích-thú. Anh tên Richard Vella có biệt-danh là “Giáo-Sư Sang”! (Richard cũng minh-xác rằng anh dậy lái xe chứ không phải dậy học, nhưng người Việt-Nam thương-mến nên gọi anh là ‘Giáo-Sư’!)

blank blank

Quà “Mug” lưu-niệm và mini iPad (giải độc-đắc) được trao cho cựu-chiến-binh Mỹ biệt-danh “Giáo-Sư Sang”.

Dù rất vất-vả để có thể hoàn-thiện một cách chu-đáo chương-trình “Thank You Vietnam Veterans! Party” 2016 – Nhưng bù lại, chúng-tôi được lãnh-nhận nhiều phần thưởng vô-giá từ những khách mời; đó là sự trân-trọng của tất-cả cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ; họ hoàn-toàn giữ trật-tự, không nói chuyện ồn-ào trong tiệc. Say mê thưởng-thức chương-trình văn-nghệ, không cần phải gọi mời, hầu hết đã ở lại đến giờ phút cuối để cùng nhau chụp hình lưu-niệm cũng như từng người đến bắt tay, nói lời cảm-ơn thật chân tình đến gia-đình “Chân Quê”. Vì thế, chúng tôi hứa sẽ tiếp-tục tổ-chức “Thank You Vietnam Veterans! Party” (dù sắp tới phải dọn nhà về Úc nghỉ hưu; thì mỗi năm cũng sẽ trở lại California một lần để làm tiệc này!)

blank blank

Gánh hàng hoa-quả của gia-đình “Chân-Quê” và hình ảnh các cựu-chiến-binh Mỹ chụp lưu-niệm cuối tiệc “Thank You Vietnam Veterans” trưa thứ Bảy 26 tháng 3, 2016 tại Moonlight Restaurant, Westminster, CA.

Sau buổi tiệc, nhiều người hỏi chúng-tôi rằng: “Tại-sao lại tốn tiền, tốn sức-lực, thời-gian để tổ chức ‘Thank You Vietnam Veterans! Party’ thế này?” Nhạc-sĩ Thái-Nguyên đã trả-lời: “Vì Trời cho gia-đình chúng-tôi nhiều ân-sủng quá so với nhiều người không may khác!”

Một cựu-chiến-binh Mỹ, ông John Stryker Myer, tác-giả cuốn sách “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” nghe thấy vậy đã nói một câu rất hay. Xin ghi lại đây để dành tặng cho tất-cả những thiện-nguyện-viên của gia-đình “Chân-Quê” và cũng để kết-thúc bài viết này:

“Lộc Trời ban phát cho tất-cả loài người trên thế-gian này đồng đều như nhau. Không ai hơn ai cả; sự khác biệt ở chỗ là các bạn biết CHO đi từ tấm lòng nhân-ái. Xin cảm-ơn các bạn Việt-Nam; là những người đã nghĩ đến cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ chúng tôi.”

Họ cũng chúc chúng tôi rằng: “May God bless you with joy, peace, happiness and keep you safe and good health, always!”

http://www.diamondbichngoc.com

 Ông Nguyễn Phú Trọng hiểu biết về chính trị  bầu cử dân chủ ngang với học trò của ông Nguyễn Quang A chứ không thua kém

Trần Ðại Nam

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA

Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

IMG_7095

23/03/2016

Yêu cầu khẩn cấp

 

Kính gửi:

– Ông Chủ tịch HĐBC Quốc gia

– Ông Bộ trưởng Bộ Công An

– Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông

– Ông Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội

– Bà Chủ tịch UBBC Hà Nội

– Ông Giám đốc sở Công an Tp. Hà Nội

– Ông Trần Văn Bái, tổ trưởng tổ dân phố 13, Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội

Thưa Quý vị,

Tôi Nguyễn Quang A, CMTND số xxx…x do Công An Hà Nội cấp ngày 25/07/2011, địa chỉ ….. Nguyễn Văn Cừ, Long Biên Hà Nội, một người tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 tại Hà Nội, xin gửi đến Quý vị yêu cầu khẩn cấp sau đây:

Tối thứ Bảy, ngày 19/03/2016, ông Trần Văn Bái tổ trưởng tổ dân phố số 13, Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội đã phát tán tập tài liệu in gồm 6 trang (có tiêu đề “Hành trình tội lỗi của Nguyễn Quang A”, được đăng trên trang mạng Việt vision của những người tự xưng là DLV, những người đã cản trở người dân thắp hương, dâng hoa tưởng nhớ các liệt sĩ Gạc Ma tháng 3/2015) cho các cử tri thuộc tổ dân phố số 13 (nơi có thể sẽ diễn ra Hội nghị cử tri để lấy phiếu tín nhiệm đối với tôi). Tôi cũng nghe tài liệu này được phát tán cho nhiều người tại chợ Gia Thụy sáng nay. Tài liệu này chứa nhiều thông tin sai sự thật, vu cáo và phỉ báng tôi.

1) Nếu ông Trần Văn Bái không chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung thông tin mà ông đã phát tán cho các cử tri của Tổ dân phố tối thứ Bảy vừa qua, thì tôi yêu cầu ông thu hồi các tài liệu đó và xin lỗi tôi bằng văn bản. Nếu ông Bái làm vậy vụ việc coi như được giải quyết.

Trong trường hợp khác, tức là:

2) Nếu ông Trần Văn Bái nhận trách nhiệm cá nhân về nội dung tài liệu ông đã phát tán thì tôi sẽ sử dụng các biện pháp pháp lý thích hợp để bảo vệ danh dự của mình.

3) Tôi xin hỏi các ông Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông và Bộ Công An (cũng như ông Chủ tịch Hà Nội và Giám đốc Sở Công An Hà Nội): việc làm như của ông Trần Văn Bái có bị xử lý hay không? Trong trường hợp không bị xử lý thì liệu có tạo ra tiền lệ cho bất cứ ai lấy những thông tin bêu xấu các vị lãnh đạo Nhà nước và ĐCSVN, những người cũng được đề cử làm đại biểu Quốc hội khóa 13, từ trên mạng và phát tán cho các cử tri hay không? Tôi cũng xin hỏi Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Ủy Ban Bầu cử Hà Nội: việc làm của ông Trần Văn Bái, tổ trưởng tổ dân phố, có đúng với những quy định pháp luật về bầu cử Quốc hội khóa 14 hay không?

Vì việc tổ chức Hội nghị cử tri sắp diễn ra, và việc ông Bái phát tán tài liệu ảnh hưởng xấu tới cá nhân tôi (và những người khác theo gương ông Bái phát tán những tài liệu vu khống xúc phạm những người ứng cử khác nếu không bị xử lý), tôi khẩn thiết yêu cầu Quý vị xử lý nhanh chóng và cho tôi biết sớm nhất có thể (nhưng không thể để đến khi tổ chức Hội nghị cử tri hoặc sau Hội nghị cử tri).

Xin gửi Quý vị lời chào trân trọng.

Hà Nội ngày 21/03/2016

Nguyễn Quang A

P.s. Xin liên hệ với tôi qua địa chỉ: số …. Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội; điện thoại ….. ; email: ……..

Nguồn: FB Nguyễn Quang A

Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

 12/03/2016
  • Tác giả :
  • Nguyễn Ngọc Bích
 IMG_5401

LTS.- Ngày 3-3-2016, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần trên chuyến bay tới Phi Luật Tân dự Hội Nghị về Biển Đông. Hôm nay, Thứ Bảy 12 tháng Ba, lễ tang được chính thức cử hành tại Virginia. Nhân dịp này, Việt Báo trân trọng giới thiệu một trong những bài viết sau cùng của Giáo sư  Bích, đề cập tới những diễn tiến tại đại học Cornell,  trong nỗ lực làm sáng tỏ sự thật về chiến tranh Việt Nam,  từ việc ông tham dự cuộc hội luận “Voice from the South Vietnam” năm 2012 tới việc tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế” nói chuyện tại Cornell năm 2015. Giáo sư  Bích đã viết bài này vào đêm 16 tháng 12 năm 2015, dành riêng Việt Báo Tết Bính Thân. Khi bài tới, báo đã in xong. Nhờ vậy, đây là lần đầu tiên bài viết được phổ biến. Vào ngày tiễn đưa vị học giả một đời tận tụy với văn hóa lịch sử dân tộc, xin mời đọc bài viết nhiều tâm huyết của ông.


BICH_southvietnamsympsiumHình ảnh ngày hội luận Cornell 2012 về Đệ Nhị Cộng Hòa VN trước Kehin Center tại Đại Học Cornell. Hàng thứ hai, người thứ nhất từ phải, người đầu bạc áo trắng cúi tựa lan can là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Người đứng dưới GS Nguyễn Ngọc Bích là bình luận gia Trần Bình Nam, tức cựu dân biểu Trần Văn Sơn, vừa từ trần sáng Thứ Sáu 11-3-2016 ở Calif.

 

***

 

Hội-thảo “Những Tiếng Nói từ Miền Nam” (“Voices from the South”) ở Cornell University do Giáo sư Keith W. Taylor đứng ra mời và tổ-chức vào tháng 6 năm 2012.

Là một cựu-chiến-binh đã từng tham chiến tại Việt-nam, sau khi về Mỹ, ông Keith W. Taylor đã muốn tìm hiểu thêm về nước ta.  Ông học tiếng Việt, tiếng Hán, chữ nôm và đã viết cuốn sách rất giá trị trong tiếng Anh, The Birth of Vietnam  – “Việt Nam Khai Quốc”, do University of California Press in ra năm 1983- kể lịch-sử nước ta từ thuở lập quốc đến thế-kỷ X.  Gần đây nữa, năm 2013, ông lại có một cuốn sách để đời do Cambridge University Press ở Anh in ra mang tên A History of the Vietnamese (“Một cuốn sử về người Việt”).

Trong nhiều năm dạy ở Cornell, ông Taylor đã bị ảnh-hưởng không ít bởi lối trình bầy lịch-sử truyền-thống của chúng ta: rằng Việt-nam là một dân-tộc thống nhất với một lịch-sử tuyến-tính, kết thúc (làm như lịch-sử có kết thúc) bằng sự thống nhất dưới sự giầy xéo của xe tăng Nga vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư 1975.  Nhưng rồi ông tỉnh ra rằng lịch-sử Việt-nam đã có nhiều giai-đoạn phân ly, chia cách.  Như ở thế-kỷ XVI đã một thời-gian dài nước ta có ba chính-quyền (nhà Mạc, nhà Lê với sự phò trợ của chúa Trịnh, rồi chúa Nguyễn ở miền Nam) hoặc giai-đoạn Trịnh-Nguyễn phân tranh (trên 200 năm), rồi sự tranh hùng giữa hai nhà Nguyễn (Nguyễn Tây-sơn và Nguyễn Gia-miêu, chưa kể là mấy anh em nhà Tây-sơn cũng chia nước ra làm ba) và nhất là Việt-nam sau Genève 1954.  Thành thử không thể thiên-vị phe này để gọi phe kia là “ngụy” được.

Chính vì thế mà cách đây ít năm ông đã viết một bài dài phân-tích, cho rằng lối trình bày cũ không sát thực-tế, là quá một chiều.  Từ đó ông nhìn lại lịch-sử Việt-nam cận-hiện-đại để thấy Miền Nam trong ít nhất 21 năm (1954-1975) đã thực-sự là một quốc gia được quốc-tế công-nhận rộng rãi (hơn rất xa miền Bắc CS trong nhiều lãnh-vực và trong nhiều nghĩa).  Từ đó ông nảy sinh ra ý-tưởng phải nghiên cứu một cách đứng đắn về Miền Nam, về hai nền Việt-nam Cộng-hòa.

Đó là lý-do vì sao ông, tức là Cornell University, là nơi đầu tiên trong các đại-học lớn ở Mỹ tìm cách mời một số diễn-giả mà đã có vai trò đáng kể trong những lãnh-vực như chính-trị, ngoại-giao, an-ninh quốc-phòng, kinh tế tài-chánh, thông tin tuyên-truyền thời Đệ nhị Cộng-hòa đến trình bầy cho khoảng 100 học-giả đến từ khắp nước Mỹ và cả một số nước khác (Pháp, Anh, Canada…) về những kinh-nghiệm xây dựng dân-chủ, qua một hiến-pháp (1967) tôn trọng tam quyền phân lập và những quyền căn-bản của người dân, qua một nền kinh tế tự do nhưng có điều tiết, khuyến khích phát triển nông-nghiệp và công-nghiệp, xuất khẩu, và đang trên đà bứt phá (takeoff).

Đến từ Chicago, Illinois, là Hoàng Đức Nhã, ông trình bầy về những nỗ lực xây dựng một nền dân-chủ ngay trong chiến-tranh.  Như các cuộc tranh cử có cạnh tranh, trong Quốc-hội có đối-lập, có khối này khối nọ.  Và ông Thiệu dám cưỡng lại tổng-thống Mỹ Nixon và ông Kissinger trong những ngày cuối của hòa-đàm Ba-lê khi thấy hiệp-định như Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa-thuận quá bất lợi cho miền Nam.

Ủng-hộ cho lập-luận của ông Hoàng Đức Nhã là ông tòa Phan Quang Tuệ, đến từ San Francisco, và ông Trần Văn Sơn, một cựu-sĩ-quan Hải-quân và một dân-biểu đối-lập, đến từ Phila.  Ông Sơn, một thành-viên trong khối đối-lập của Luật-sư Trần Văn Tuyên (29 dân-biểu, đa-phần thân Phật-giáo), cho biết là khối đối-lập của ông có tiếng nói rõ ràng trong Quốc-hội, được báo chí đưa tin đầy đủ và sự an-toàn cá-nhân của các thành-viên trong khối không bị đe dọa.  Tuy phút chót không đến được nhưng B.S. Mã Xái cũng đã gởi bài nói về sự “đóng góp của Đảng Tân Đại Việt vào việc xây dựng dân-chủ ở miền Nam.”

Sang lãnh-vực xây dựng quốc gia có bài thuyết-trình của cựu-tổng-trưởng Thương mại và Kỹ-nghệ Nguyễn Đức Cường đến từ San Jose.  Gốc kỹ-sư, ông Cường trình bầy bằng những con số thuyết-phục về các chương-trình do chính-quyền đưa ra thời đầu thập-kỷ 1970 để kìm lạm-phát (kinh tế thị-trường), phát triển đầu tư và công-kỹ-nghệ (như khu chế xuất Biên-hòa), tìm ra dầu hỏa v.v.  Riêng cựu-thứ-trưởng Cải cách Điền địa và Phát triển Nông-nghiệp Trần Quang Minh, đến từ Louisville, Kentucky, nói về chương-trình “Người cày có ruộng” (1970), thành công tới mức khi CS vào cũng không thay đổi gì được, cũng như chương-trình về thực-phẩm quốc gia, tất cả trong một khung-cảnh chiến-tranh toàn-diện trên toàn-quốc.

Về mặt an-ninh quốc-phòng thì có hai bài, một của Trung-tướng Lữ Lan đến từ Virginia nói về an-ninh diện-địa và một của Phó-đề-đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Khu Duyên hải vùng I, tư lệnh trực-tiếp của hải-chiến Hoàng-sa 1974 và cũng là tác-giả cuốn Can trường trong chiến bại.  Ông đến từ Houston, Texas, và đã cho biết trong chi-tiết những diễn-biến của trận hải-chiến để đời này trong lịch-sử nước nhà, với những anh-hùng  như Ngụy Văn Thà và 71 đồng-đội hải-quân hy sinh trong trận chiến đó.

Ngoài ra, ông Phan Công Tâm thuộc Trung-ương Tình-báo mô-tả một số hoạt-động của ông ở Cao-miên cũng như sang tận Phi-châu mang con gái ông Bokassa sang nước Trung-Phi.

Riêng tôi nói về công-tác thông tin quốc-ngoại, không chỉ ở Sứ-quán VNCH tại Hoa-thịnh-đốn (1967-1971) mà còn trong thời-gian tôi làm Trung-tâm-trưởng Trung-tâm Dân-vụ (lo cho các nhà báo ngoại-quốc đến làm tin ở VN) và Cục-trưởng Cục Thông tin Quốc-ngoại, hơn một lần phụ-tá cho Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu để tiếp đón các nhà báo Tây-phương (như Oriana Fallaci, Patrice De Beer, v.v.) và thậm chí trong cả chuyến đi họp Thượng-đỉnh San Clemente với Tổng-thống Mỹ Nixon, sau đó đi diện kiến Đức Giáo-hoàng và trên đường về, ghé thăm Tổng-thống Phác Chánh Hy của Đại-Hàn và Tổng-thống Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan (Trung-hoa Dân-quốc).

Cựu-Đại-sứ Bùi Diễm, đến từ Maryland, thì cho một cái nhìn tổng-quan về quan-hệ Việt-Mỹ, những ngộ-nhận đáng tiếc để sau đó dẫn đến những sai lầm trong chính-sách của Hoa-kỳ đối với VNCH.  Chuyến đi Cornell này còn để lại cho tôi một số ký-ức thật đẹp vì Đại-sứ Bùi Diễm, “boss” cũ của tôi ở Tòa Đại-sứ Washington, và chúng tôi đã hẹn gặp nhau ở phi-trường Rochester (với tôi bay thẳng từ Cali về) để sau đó tôi thuê xe lái qua vùng Finger Lakes (Mấy hồ thật đẹp có hình như mấy ngón của một bàn tay) leo núi xuống đồi đôi khi thật ngoạn mục qua vùng mấy vườn nho làm rượu vang trước khi đến trường Cornell.

Tóm lại, chuyến đi như một cuộc du ngoạn song cũng nhân cơ-hội đó mà 12 diễn-giả gốc từ miền Nam đã nói lên được một cách khá đầy đủ và dõng dạc về những thành-tựu rất đáng kể và đáng nể của VNCH, nhất là nền Đệ nhị Cộng-hòa, một quốc gia càng ngày càng chứng minh được nếp sống văn-minh và dân-chủ cao-độ so với miền Bắc u tối cùng thời.

Hội-luận Cornell, “Những Tiếng Nói từ Miền Nam,” đến quá muộn (37 năm sau khi mất miền Nam) nhưng vẫn là một “corrective” cần thiết đối với lịch-sử.  Và qua hội-luận đó, Giáo-sư Keith Taylor đã trả lại được phần nào sự thật cho lịch-sử–gần như “ở ngay trong lòng địch” vì cũng chính ở Cornell, chính khoa Đông-Nam-Á-học ở đây, đã là “lò phản-chiến” của Mỹ trong chiến-tranh VN với ông George McT. Kahin viết cùng với ông John W. Lewis cuốn “Thánh Kinh” của phong trào phản chiến Mỹ (và trên thế-giới), cuốn The United States in Vietnam (A Delta Book, 1967), một cuốn sách méo mó xuyên tạc khá tệ hại.

Sau hội-luận Cornell 2012, các bài tham-luận đã được in thành sách dưới tên VOICES from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975), K.W. Taylor, editor (Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014). Năm nay, đánh dấu 40 năm ngày miền Nam bị đẩy vào cảnh sụp đổ,  ông Taylor lại đi thêm một bước nữa trong việc trả lại sự thật cho lịch-sử Việt-nam khi ông mời nhà văn Nhã Ca lên Cornell nói về sự thật Tết Mậu Thân tại Huế. Cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca đã được  Olga Dror dịch thành Mourning Headband for Hue (Indiana University Press, 2015).

Tiến sĩ Olga Dror là một nhân vật khá lạ.  Là người gốc Do Thái sinh tại Nga, bà nói lưu loát tiếng Việt và đã dịch cuốn sách của Nhã Ca sang tiếng Anh cũng không kém văn chương.  Trong quá-khứ bà đã từng nghiên cứu về folklore Việt-nam và viết được một cuốn sách rất giá trị mang tên Cult, Culture and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History (“Thờ phụng, Văn-hóa và Quyền-uy: Chúa Liễu Hạnh trong Lịch-sử VN,” University of Hawaii Press, 2007).  Để có thể dịch được cuốn của Nhã Ca, bà đã nghiên cứu và đào sâu về trận Mậu-thân ở Huế cũng như tìm cách xác-định về vụ thảm-sát Tết Mậu-thân ngoài đó.  Do đó mà cuốn sách có một phần dẫn nhập thật dài và chi-tiết (50 trang) trình bầy kiểu nói có sách mách có chứng tất cả những sự tranh cãi về trận Mậu-thân tại Huế, chẳng hạn như vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, trong thời-gian Cộng-sản chiếm đóng Huế trong 23 ngày.  Chỉ riêng phần dẫn nhập này với đầy đủ cước-chú các nguồn tin cũng đủ đáng để cho ta mua cuốn sách rồi.

Tháng trước sang Cali để dự “Đại-nhạc-hội Việt-nam Cộng-hòa Trở Lại”, hôm ghé thăm Việt Báo gặp anh Trần Dạ Từ, anh bảo tôi: “Ông ơi, ông đã tham dự hội luận “Voices from the South” ở Cornell năm 2012 để lấy lại sự thật cho miền Nam, vậy thì ông phải viết về chuyến đó cho báo Tết năm nay!”

Như mọi khi, tôi hay có tật ừ.  Thế là…

 

Đồng Xuân, bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc

Viết xong đêm 16 tháng 12, 2015

Nguyễn Ngọc Bích

Dân Hà Nội thich Việt nam cọng hòa công bằng tự do đa đảng nên biểu tình ủng hộ kỷ sư Nguyễn Viết Dủng

 

IMG_7571

Báo cáo của Uỷ Ban Nhân quyền Quốc tế về trường hợp Nguyễn Viết Dũng

Dân Làm Báo xin chia sẻ với bạn đọc bản báo cáo số 45/2015 của Uỷ ban Nhân quyền (Human Rights Council – HRC) – Nhóm Theo dõi các trường hợp bị bắt giữ tuỳ tiện (Working Group on Arbitrary Detention – WGAD) về trường hợp của Nguyễn Viết Dũng. Theo thông tin trong bản báo cáo được công bố bởi WGAD, nhà cầm quyền Việt Nam không có bất kỳ câu trả lời nào trước các cáo buộc vi phạm Công ước Quốc Tế về Quyền Chính Trị và Dân sự từ nhóm.
*
Bản thảo chưa sửa đổi Ủy ban nhân quyền 
Nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật 
Các ý kiến được tổng hợp bởi nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật trong phiên điều trần thứ 74, 30/11 đến 04/12/2015 
Báo cáo số 45/2015 đối với trường hợp Nguyễn Viết Dũng (Việt Nam) 
1. Nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật được thiết lập theo nghị quyết số 1991/42 của Ủy ban Nhân quyền, trong đó đã được mở rộng và xác nhận sự ủy nhiệm cho nhóm theo nghị quyết số 1997/50. Hội đồng Nhân quyền xác nhận sự ủy nhiệm thông qua quyết định số 1/102 và gia hạn thời hạn cho sự ủy nhiệm đó trong ba năm thông qua nghị quyết số 15/18 ngày 20/9/2013. Sự ủy nhiệm được gia hạn thêm ba năm thông qua nghị quyết số 24/7 ngày 26/9/2013
2. Theo đúng quy chuẩn thực thi các chức năng của Nhóm (A/HRC/30/69), ngày 29/9/2015 Nhóm theo dõi đã gởi các thông tin đến chính phủ Việt Nam về trường hợp liên quan đến Nguyễn Viết Dũng. Chính phủ Việt Nam đã không có phúc đáp đối với các thông tin này.
3. Nhà nước Việt Nam là một thành viên của Công ước quốc tể về các quyền dân sự và chính trị:
a) Nhóm theo dõi đánh giá sự tước đoạt quyền tự do một cách tùy tiện căn cứ vào các trường hợp sau: Khi không thể viện dẫn ra điều kiện căn bản về mặt pháp lý để biện minh cho sự tước đoạt quyền tự do (trong trường hợp một người bị tạm giữ sau khi đã hoàn tất thời gian thi hành bản án hoặc bất chấp sự ân xá áp dụng theo đúng hình luật) (mục I);
b) Sự tước đoạt tự do gây ra bởi việc thực thi các quyền và quyền tự do được đảm trong các điều 7, 13, 14, 18, 19, 20 và 21 của Tuyên bố phổ quát về nhân quyền và, trong chừng mực của một nhà nước thành viên cần được xem xét, bởi điều 12, 18, 19, 21, 22, 25, 26, và 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (mục II);
c) Khi sự bất tuân hoàn toàn hay một phần các quy định quốc tế liên quan đến quyền được xét xử công bằng, được quy định trong Tuyên bố phổ quát về nhân quyền và trong các văn bản luật quốc tế liên quan đã được nhà nước thành viên công ước chấp thuận, chính là sự cáo buộc về việc tước đoạt tự do một cách tùy tiện (mục III);
d) Trong trường hợp người tìm kiếm quy chế tị nạn, di dân hoặc người tị nạn là chủ thể bị câu lưu hành chánh trong thời gian dài mà không có thủ tục hành chính hoặc các hồ sơ hoặc biện pháp mang tính pháp lý
e) Khi sự tước đoạt tự do được chứng minh vi phạm luật quốc tế với các lý do liên quan đến phân biệt đối xử dựa trên nơi sinh, quốc tịch, chủng tộc hoặc nguồn gốc xã hội, ngôn ngữ, tôn giáo, điều kiện kinh tế, quan điểm chính trị hoặc ý kiến khác biệt, giới tính, xu hướng tình dục hoặc trình trạng khiếm khuyết khả năng hoặc khác, và nó có mục đích rõ ràng hoặc có thể tạo ra lý do bỏ qua quyền bình đẳng về nhân quyền (mục V).
Nội dung đệ trình 
Thông tin từ nguồn cung cấp 
4. Ông Nguyễn Viết Dũng, sinh ngày 19/6/1986, là công dân nước CHXHCN Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại Yên Thành, Nghệ An, Việt Nam.
5. Ông Nguyễn Viết Dũng, một kỹ sư điện đã tốt nghiệp, đã có tuyên bố vào đầu tháng 4/2015 về ý định đứng ra thành lập đảng công dân Việt Nam nhắm đến mục tiêu phổ biến nhân quyền và chí hướng tạo tiền đề cho một nền dân chủ đa đảng ở quốc gia ông.
6. Nguồn tin cung cấp cho biết, vào ngày 12/4/2015 ông Nguyễn Viết Dũng đã bị bắt giam một cách tùy tiện. Nguồn tin cung cấp cho biết rằng trong cùng ngày hôm đó ông Dũng đã có tham dự một đợt tuần hành ôn hòa gồm khoản 100 thành viên nhằm phản đối chính quyền thành phố Hà Nội đốn hạ cây xanh ở trung tâm thành phố. Theo tin cung cấp, đợt tuần hành hôm đó kết thúc mà không có sự va chạm ngào với lực lượng công an địa phương. Tuy nhiên, sau khi tuần hành kết thúc, ông Dũng và bốn thành viên khác bị lực lượng công an vây ráp và cho biết rằng các thành viên này đã gây rối trật tự công cộng. Ông Dũng và 4 thành viên khác sau đó bị tạm giữ tại công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
7. Bốn thành viên bị tạm giữ chung đợt với ông Dũng đã được trả tự do 2 ngày sau vào ngày 14/4/2015. Tuy nhiên, ông Dũng tiếp tục bị tạm giữ. Vào ngày 19/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã phát đi lệnh tạm giam đối với ông Dũng căn cứ vào điều mà họ cáo buộc ông Dũng đã vi phạm điểu 245 của bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt nam. Ông Dũng bị cáo buộc tội gây rối trật tự công cộng.
8. Nguồn tin cung cấp cho biết rằng ông Dũng hiện thời đang bị giam giữ tại trại tạm giam số 1 thuộc công an thành phố Hà Nội trong khi chờ đội điều tra xét hỏi thuộc công an Hà Nội xem xét các hoạt động liên quan đến chính trị của ông Dũng. Buổi hỏi cung đầu tiên, có sự tham dự của luật sư đại diện cho ông Dũng, diễn ra vào ngày 23/9/2015. Buổi hỏi cung thứ hai vẫn đang chờ thông báo. Sau khi diễn ra buổi hỏi cung lần hai, hồ sơ của ông Dũng sẽ được xem xét chuyển sang phòng công tố để tiến hành xét hỏi.
9. Nguồn tin cung cấp lập luận rằng sự tước đoạt tự do của ông Nguyên nằm trong trường hợp các quy định của mục II và mục V theo như phân định của Nhóm theo dõi. Theo nội dung mục II, nguồn tin cung cấp đưa ra lập luận rằng việc bắt giữ người và tiếp tục tước đoạt sự tự do của ông Dung diễn ra là do bởi các hoạt động ôn hòa và hợp pháp của ông Dũng trên tinh thần hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Nguồn tin cung cấp lập luận rằng ông Dũng đã bị tước đoạt quyền tự do của cá nhân với các lý do bị phân biệt đối xử dựa trên quan điểm chính trị của ông ấy và việc đó đã tạo ra hệ quả bất chấp quyền bình đẳng trong nhân quyền (mục V)
Phúc đáp từ chính quyền
10. Nhóm theo dõi rất lấy làm tiếc là chính quyền đã không có phản hồi đối với các cáo buộc nói trên dù đã được chuyển đến họ vào ngày 29/9/2015 vừa qua.
Thảo luận
11. Nhóm Theo Dõi liên lạc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về cáo buộc nêu trên cũng như về tình trạng hiện tại của ông Nguyễn Viết Dũng, và đề nghị giải thích rõ ràng về điều luật biện hộ cho việc tiếp tục giam giữ ông ta.
12. Cho dù không nhận được bất cứ thông tin gì từ chính phủ Việt Nam, Nhóm Theo dõi cho rằng có thể đưa ra nhận định trong vụ việc này căn cứ vào những thông tin nhận được phù hợp với đoạn 16 của phương pháp làm việc của nhóm.
13. Trong vụ việc này, chính phủ Việt Nam đã lựa chọn cách không phản hồi cáo buộc có căn cứ. Nhóm đã thận trọng thành lập những phương pháp để giải quyết các vấn đề liên quan tới các chứng cứ (1). Nếu nguồn cáo buộc xác minh được vụ việc này vi phạm điều kiện tất yếu của quốc tế để trở thành một vụ bắt giữ vô cớ, thì trách nhiệm chứng minh phải được hiểu rằng thuộc về chính phủ Việt Nam nếu họ muốn bác bỏ cáo buộc đó. Vì thế, Nhóm phải đưa ra Nhận Định căn cứ trên cáo buộc của nguồn.
14. Khởi đầu, liên quan đến việc vi phạm luật pháp quốc gia, Nhóm muốn xác định là bất cứ luật pháp quốc gia nào đụng đến bắt bớ và giam giữ phải được hình thành và áp dụng một cách phù hợp dựa trên các luật lệ quốc tế liên quan đã được đặt ra trong Tuyên Cáo Chung về Nhân Quyền hoặc trong các luật lệ quốc tế liên quan mà quốc gia đó đã cam kết. Do đó, cho dù việc bắt bớ và giam giữ đúng với luật lệ quốc gia, Nhóm phải xác định là việc giam giữ phù hợp với luật lệ nhân quyền quốc tế.
15. Trong bối cảnh này, việc luật lệ không rõ ràng và cách áp dụng thái quá rất có thể đã làm cho luật lệ đó đối nghịch với quy tắc tương ứng của luật lệ quốc tế về cách áp dụng luật hình sự. Nhận định của Nhóm Theo dõi là điều luật 245 của Bộ Luật Hình Sự của nước CHXHCN Việt Nam và cách áp dụng thái quá của điều luật này rất đáng quan ngại.
16. Dựa trên tình huống tổng quát đã khiến ông Nguyễn Viết Dũng bị bắt và giam giữ, Nhóm Theo dõi nhận định việc tước đoạt sự tự do của ông Nguyễn Viết Dũng nằm trong Hạng 1 và Hạng 3 theo sự phân loại của Nhóm. Cơ sở kết luận trong việc này dựa trên chuỗi sự kiện sau:
1) Dũng bị bắt ngày 12/04/2015 mà không có trát toà (lệnh của tòa án) hoặc bất cứ tuyên bố cáo trạng hợp pháp nào lúc đó;
2) Trát toà và cáo trạng được đưa ra vào ngày 19/04/2915, tức 8 ngày sau khi bị bắt giam, bởi công an chứ không phải công tố viên;
3) Dũng đã bi giam giữ tại trụ sở công an trong thời gian dài hơn 8 tháng trước khi bị truy tố ra toà;
4) Ngay tại trụ sở công an, việc kéo dài và thi hành pháp luật không đúng đắn đã biểu lộ rõ khi ông Dũng chỉ bị hỏi cung một lần vào ngày 23/09/2015.
17. Nhóm Theo dõi xác định là việc tước đoạt sự tự do của ông Nguyễn Viết Dũng đã vi phạm Điều 9 của Tuyên Bố Nhân Quyền là ngăn cấm việc vô cớ bắt bớ và giam giữ, một vi phạm nghiêm trọng quy tắc tiêu chuẩn về nhân quyền, phản ảnh qua cách áp dụng luật của quốc gia và nghĩa vụ với luật pháp quốc tế. Việc bắt giữ này cũng vi phạm điều 9, đoạn 1 của Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, đã quy định “Không một ai bị bắt bớ và giam giữ vô cớ. Không một ai bị tước đoạt tự do, trừ trường hợp theo quy trình đã được quy định bởi pháp luật.”
18. Sự vi phạm pháp luật cũng đã xảy ra như ở đoạn 2 của điều luật chỉ rõ bất cứ người nào bị bắt giữ phải được thông báo, ngay lúc bị bắt, lý do bị bắt giữ và phải được thông báo ngay các tội trạng của người đó.
19. Điều luật 9, đoạn 3, của Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị đã đưa ra hai trách nhiệm tích hợp là người bị bắt giữ phải được dẫn giải để gặp một thẩm phán ngay trong những ngày đầu khi bị tước đoạt tự do và phải được một phán quyết của toà án ngay không được chậm trễ vô cớ, nếu không thì người bị bắt giữ phải được thả ra ngay.(2)
20. Điều khoản này được bổ sung bởi phần 2, đoạn 3, điều luật 9 là “không thể nào có luật lệ thông thường là những người chờ ngày ra toà buộc phải bị giam giữ, nhưng phải được trả tự do với điều kiện bảo đảm sẽ ra hầu toà, tại bất cứ giai đoạn nào của quy trình tố tụng, và nếu cần thiết, để thi hành án toà”. Theo đó, sự tự do được công nhận là yếu tố căn bản và việc giam giữ chỉ là một ngoại lệ để thực thi công lý.(3)
21. Nhóm Theo dõi cũng muốn nhắc đến lời dẫn giải số 35 (2014) của Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền(4) là “không thể có lối làm việc bình thường là buộc các nghi can phải bị giam giữ trước khi xử án. Việc giam giữ trước khi xử án phải được quyết định căn cứ trên mỗi trường hợp nếu việc giam giữ là hợp lý và cần thiết trong mọi bối cảnh, với mục đích như để ngăn cản tẩu thoát, can thiệp vào chứng cứ, hoặc tiếp tục gây án.”
22. Với sự hình thức áp dụng vào khung Hạng 3, như đã xếp hạng bởi Nhóm Theo dõi, chúng tôi cũng muốn quan tâm nhắc nhở là việc giam giữ trước khi xử án kéo dài đến khoảng 8 tháng, như đã thấy cụ thể trong trường hợp của ông Nguyễn Viết Dũng, cấu thành một sự vi phạm rõ ràng với luật lệ quốc tế đã được thiết lập từ lâu là việc giam giữ trước khi xử án phải là một ngoại lệ và trong thời gian ngắn nhất có thể(5). Trong báo cáo hàng năm (A/HRC/19/57, paras. 48-58), Nhóm Theo dõi cũng đã nhấn mạnh là việc giam giữ trước khi xử án phải là một biện pháp ngoại lệ.
23. Quyền được xét xử công bằng đã được thiết lập từ lâu trong luật pháp quốc tế, đặc biệt là dưới điều 10 và 11 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền. Điều 10 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền quy định mọi người đều được quyền bình đẳng để có một phiên toà công bằng và công khai với một hội đồng xét xử độc lập và không thiên vị, trong quy trình xét xử định đoạt quyền lợi, nghĩa vụ, và tội trạng của nghi can. Điều 9, đoạn 4, của ICCPR cũng quy định là bất cứ ai bị tước đoạt tự do vì bị bắt và giam giữ phải được hưởng quyền ra trước toà để toà án có thể quyết định không chậm trễ về tính cách hợp pháp của việc bắt giữ và tuyên bố trả tự do nếu việc bắt giữ là bất hợp pháp. Việc tước đoạt tự do của ông Nguyễn Viết Dũng là vô cớ dựa trên các tiêu chuẩn nói trên của quy tắc quốc tế về giam giữ.
Nhận định
24. Qua những quan điểm trên, Nhóm Theo dõi có những nhận định sau đây:
Việc tước đoạt tự do của ông Nguyễn Viết Dũng vi phạm điều 9, 10, và 11 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền và điều 9(1), 9(2), 9(3), 9(4), 10, và 11 của Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị. Việc bắt giữ là vô cớ và trường hợp này rơi vào Hạng 1 và Hạng 3 trong các hồ sơ gởi về Nhóm.
25. Vì nhận định trên, Nhóm Theo dõi yêu cầu chính phủ Việt Nam hãy làm những bước cần thiết để nhanh chóng điều chỉnh tình trạng của ông Nguyễn Viết Dũng để phù hợp với tiêu chuẩn và nguyên tắc đặt ra trong Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.
26. Nhóm Theo dõi nhận định rằng, sau khi xem xét tất cả các tình tiết về vụ việc này, biện pháp khắc phục hợp lý là hãy trả tự do ngay cho ông Nguyễn Viết Dũng và tạo điều kiện cho ông đòi bồi thường thiệt hại như đã được quy định trong điều 9, đoạn 5, trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.
 
Dịch bởi:

Phiên toà phúc thẩm Nguyễn Viết Dũng

 

10:15, phiên toà đã kết thúc với bản án 12 tháng tù giam đối với anh Nguyễn Viết Dũng. Mức án này giảm 3 tháng so với bản án sơ thẩm.

CTV Danlambao – Sáng hôm nay 11/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên phúc thẩm xét xử Nguyễn Viết Dũng với cáo buộc vi phạm điều 245 bộ luật hình sự “gây rối trật tự công cộng”. Bào chữa cho Nguyễn Viết Dũng là LS Võ An Đôn và LS Nguyễn Khả Thành.

Nguyễn Viết Dũng (Facebooker Dũng Phi Hổ), sinh năm 1986, quê ở Nghệ An.
Ngày 12/4/2015, Ngày 12/4/2015, Nguyễn Viết Dũng bị bắt khi đang ngồi giải lao trong quán sau khi tham gia tuần hành bảo vệ cây xanh tại Hà Nội. Đa số công luận tin rằng Dũng bị bắt chỉ vì khoác trên người bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa. Bị bắt cùng với Dũng còn có hai người bạn nhưng hai người này đã được thả ra sau đó.
Ngày 14/12/2015, tại phiên sơ thẩm diễn ra tại trụ sở tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Dũng yêu cầu hoãn tòa do sức khỏe yếu, không thể tham gia phiên tòa được nhưng không được chấp nhận.
Trong phiên tòa sơ thẩm, 4 luật sư bảo vệ quyền hợp pháp cho Dũng là Trần Thu Nam, Võ An Đôn, Lê Văn Luân và Nguyễn Khả Thành đều đề nghị thay đổi chủ tọa phiên tòa, yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị hại nhưng cũng bị từ chối.
Sau khi luật sư Lê Văn Luân bị đuổi khỏi tòa vì không bào chữa theo ý của hội đồng xét xử, ba luật sư còn lại cũng đã đồng loạt rời khỏi phiên tòa với lý do không thể tranh luận do liên tục bị chủ tọa nhắc nhở, ngắt lời.
Bất chấp sự vắng mặt của các luật sư và sự phản đối của “bị cáo”, tòa vẫn tuyên án Nguyễn Viết Dũng 15 tháng tù giam.

Trong phiên tòa phúc thẩm hôm nay, hai luật sư Nguyễn Khả Thành và Võ An Đôn tiếp tục bào chữa cho Nguyễn Viết Dũng.

Ảnh: CTV Danlambao
Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội là nơi phiên tòa diễn ra sáng nay không cho phép những người quan tâm đến phiên tòa vào tham dự.

Bên ngoài khu vực tòa án có nhiều dân oan tập trung theo dõi và ủng hộ tinh thần Nguyễn Viết Dũng và gia đình.

Ảnh CTV Danlambao
9h15: có sự xô xát giữa lực lượng chức năng và bà con dân oan khi bà con tiến lại gần khu vực tòa án.
Khu vực phía trước tòa án được canh gác nghiêm ngặt bởi lực lượng cảnh sát cơ động, dân phòng, an ninh thường phục.
Cscđ, lực lượng thường phục dày đặc ở bên ngoài khu vực tòa án. Ảnh CTV Danlambao
Có mặt trong phiên tòa phúc thẩm sáng nay tại Hà Nội, cô Phạm Hồng Thắm, một người dân HN, là người đi cạnh Nguyễn Viết Dũng trong buổi tuần hành bảo vệ cây xanh cho CTV Dân Làm Báo biết: “Tôi đi bên cạnh Dũng khi tuần hành và tôi không thấy hành vi nào của Dũng được cho là gây rối trật tự công cộng” cả.

Theo cô Thắm thì Dũng hoàn toàn vô tội và bản án 15 tháng tù là quá bất công. Cô Thắm cũng đặt câu hỏi: “Cả đoàn người đi tuần hành mà chỉ bắt và xử tội Dũng thì động cơ nào ở đằng sau?”

10:15, Luật sư Võ An Đôn cho hay phiên toà đã kết thúc với bản án 12 tháng tù giam dành cho Nguyễn Viết Dũng. Mức án này giảm 3 tháng so với bản án sơ thẩm.

Như vậy, tính cả thời gian từ khi bị bắt đến nay, Nguyễn Viết Dũng sẽ phải ngồi tù thêm 1 tháng, dự kiến sẽ mãn hạn tù vào ngày 12/4/2016 sắp tới.
Kết thúc phiên toà, ông Nguyễn Viết Hùng, ba của Dũng cho hay: “Khi được nói lời cuối cùng trước toà thì Dũng khẳng định mình vô tội.
 
Sức khoẻ Dũng tốt hơn ở phiên sơ thẩm và trả lời mạch lạc các câu hỏi.
 
Cá nhân tôi vẫn bồi hồi vì được gặp con trai trong giây phút tại toà sau thời gian dài bị giam giữ. 
 
Cá nhân tôi vẫn khẳng định con trai tôi vô tội. 
 
Tuy nhiên tôi vẫn vui vì con tôi được giảm xuống còn 12 tháng tù giam, như vậy là gia đình tôi sắp đoàn tụ. Việc giảm án của con trai tôi là nhờ vào các luật sư, công luận đã lên tiếng cho trường hợp của Dũng.”

Ông Nguyễn Viết Hùng. Ảnh CTV Danlambao
Chị Cấn Thị Thêu – một trong những người có mặt tại phiên toà phúc thẩm để ủng hộ tinh thần Nguyễn Viết Dũng, búc xúc: “Một ngày tù với Dũng cũng là bất công, vô nhân đạo với Dũng. Cả đoàn người đi tuần hành vì một vấn đề dân sinh, môi trường thì sao lại tống giam và xử tù?”
 
Ông Nguyễn Văn Chinh – bố của tử tù ‘oan’ Nguyễn Văn Chưởng và Chị Cấn Thị Thêu trong phiên toà sáng nay. Ảnh CTV Danlambao
Ngay sau khi phiên toà kết thúc, đã người bị lực lượng an ninh cưỡng chế bắt về số 43 Trần Quốc Toản. Người bị bắt là Trần Quang Nam, anh Nam bị bắt khi đang phỏng vấn Luật sư Võ An Đôn trước toà.Anh Nam đã được thả ra ngay sau khi dân oan kéo tới đồn công an gây áp lực.
Anh Trần Quang Nam.
 
Anh Nam đã được thả ra ngay sau khi dân oan kéo tới đồn công an gây áp lực.
Nguồn ảnh Facebook LS Võ An Đôn

Sau phiên tòa, LS Võ An Đôn chia sẻ trên Facebook cá nhân của mình: “…Giống như phiên tòa trước, phiên tòa lần này lực lượng an ninh bảo vệ rất nghiêm ngặt, không cho luật sư đem bất kỳ thiết bị cá nhân nào vào phòng xử án. Tuy nhiên, tôi vẫn chụp được hình anh Nuyễn Viết Dũng sau khi Tòa tuyên án.”

cao_quang_anh.jpg
cannon_caucus.jpg
kennedy_6.jpg

Uỷ Hội Hoa  Kỳ : Chính phủ Viet nam hãy ngưng can thiệp nội bộ tôn giáo


LTS: Cuối tháng 8 năm 2015, phái đoàn của Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã thực hiện chuyến thị sát để tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Phái đoàn đã tiếp xúc một số cộng đồng tôn giáo độc lập, trong đó có Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài. Ngày 19 tháng 2 vừa qua, 2 thành viên của phái đoàn phổ biến bản tường trình về chuyến thị sát. Ngày 18-21 tháng 2 vừa qua, nhân sự của Uỷ Hội lại có cơ hội tiếp xúc với thành viên của cộng đồng Phật Giáo Khmer Krom, cộng đồng Hồi Giáo Chăm, và Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài đến từ Việt Nam, tại Diễn Đàn Tự Do Tôn Giáo Á Châu được tổ chức ở Đài Loan. Dưới đây là bản dịch Việt ngữ của bản tường trình của phái đoàn. Bản gốc tiếng Anh: http://www.uscirf.gov/news-room/op-eds/america-magazine-report-vietnam

PHÚC TRÌNH TỪ VIỆT NAM

Tác giả: Thomas Reese và Mary Ann Glendon1

[Bản dịch Việt ngữ của BPSOS]

Dưới đây là bài Xã Thuyết đăng trên tạp chí America

của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ số ra ngày 19, tháng 2, 2016

Tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khác biệt hẳn so với 40 năm về trước.  Đây là thông điệp mà chúng tôi liên tục nghe được trong chuyến đi vừa qua tại Việt Nam. Các tín hữu Việt Nam cho biết, một mặt là tự do tôn giáo đã được mở rộng trong bốn thập niên vừa qua.  Mặt khác, họ tin rằng nhiều viên chức chính phủ vẫn hiểu lầm về tôn giáo và vai trò tích cực mà tôn giáo có thể đóng góp cho xã hội, thay vào đó họ vẫn bám víu vào những nỗi lo sợ đã lỗi thời và có thành kiến về quyền tự do thực hành đức tin của mọi người.

Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hạn chế tối đa quyền tự do tôn giáo bằng nhiều cách khác nhau, như lệnh cấm toàn diện các tổ chức tôn giáo và các sinh hoạt của họ.  Hầu hết các nhà lãnh đạo tôn giáo đã chống đối cuộc cách mạng của Cộng Sản, vì sợ rằng những gì sẽ xảy ra nếu những người Marxist vô thần lên nắm chính quyền.  Sau chiến tranh, các cuộc tắm máu như dự đoán đã không xảy ra, nhưng chính quyền mới đã tịch thu tài sản của tôn giáo, bỏ tù nhiều vị lãnh đạo tôn giáo và áp bức các tín đồ.  Đặc biệt là các Kitô hữu được họ xem như là công cụ áp chế của nước ngoài, trong khi các thành viên của một số các tôn giáo địa phương, như đạo Cao Đài, được chính quyền nhắm đến vì trong quá khứ  họ có quân đội chống lại Cộng Sản.

Lm Reese và cựu Đs Glendon và các thành viên của KNS Đạo Cao Đài, ngày 25 tháng 8, 2015 (ảnh KNS)

Tình trạng hiện nay tuy có khá hơn, nhưng Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua trước khi đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế mà quốc gia này đã chính thức chấp nhận, như Điều 18 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Trong khi đó, chế độ đã chuyển từ tình trạng đàn áp tôn giáo toàn diện sang trạng thái nhà nước kiểm soát, họ tạo ra một tổ chức Phật Giáo quốc doanh và một tổ chức Cao Đài quốc doanh. Những người tiếp tục hành đạo trong các tổ chức tôn giáo độc lập, không được chính quyền thừa nhận, đã bị cấm đoán và đôi khi bị “loại ra khỏi đạo” bởi các giới chức thuộc tôn giáo quốc doanh. Điều này đã khiến họ trở thành những kẻ “bất đồng chính kiến” với tôn giáo của họ và với nhà nước.  Công giáo đã tránh được trường hợp buộc phải đồng thuận để tham gia vào một tổ chức tôn giáo quốc doanh như Hiệp Hội Yêu Nước ở Trung Quốc, nhưng chính phủ vẫn lưu tâm đến việc kiểm soát các giáo sĩ và tiếp tục đóng vai trò trực tiếp trong việc chấp thuận các ứng viên vào chức Giám Mục do Vatican chọn lựa.

Một Tình Trạng Phức Tạp

Để hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại, chúng tôi đã đến thăm Việt Nam vào cuối tháng Tám (vừa qua) với tư cách  thành viên trong phái đoàn của Ủy Ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, Uỷ Ban này đã được hình thành qua Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998 để theo dõi tình trạng về tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, hay tín ngưỡng ở nước ngoài, và trình các khuyến nghị độc lập về chính sách lên Tổng Thống, Bộ Trưởng Ngoại Giao và Quốc Hội Hoa Kỳ. Những gì mà phái đoàn tiếp nhận được sẽ trở thành một phần của phúc trình chính thức của Uỷ Ban – thí dụ như trong báo cáo thường niên về tự do tôn giáo của Uỷ Ban.

Tình hình tôn giáo ở Việt Nam rất phức tạp và đôi lúc rất khó hiểu. Một mặt, các nhà thờ Công giáo với đông người đến dự lễ và lời kêu gọi tu trì được đáp ứng dồi dào; gần đây chính phủ đã cấp giấy phép cho Công giáo được thành lập một trường đại học về thần học ở miền Nam.  Những tín hữu Công giáo còn có thể làm việc cho chính phủ, và  có không ít trường hợp đảng viên gửi con đến các chương trình giáo dục mầm non Công Giáo hoặc nhập học vào các trường đại học Công giáo tại Hoa Kỳ.

Mặt khác, chúng tôi đã nghe được các báo cáo đáng tin cậy, phản ảnh qua các sự việc mà Uỷ Ban đã thu nhận được trong qúa khứ, như công an thường xuyên quấy rối và tấn công các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo độc lập, không đăng ký, trong đó có nhiều nhà thờ thuộc Giáo Hội Tin Lành.

Nói chung, Giáo hội Công Giáo ít có vấn đề với chính phủ hơn là các nhà thờ Tin lành; các nhóm tôn giáo do nhà nước bảo trợ hoạt động mạnh hơn so với các nhóm tôn giáo độc lập, và các tôn giáo đã đăng ký hoạt động ít bị cản trở hơn so với những nhóm không đăng ký.

Để được xem là hợp pháp, các tổ chức tôn giáo phải đăng ký với chính phủ, mà nếu không đăng ký thì họ bị coi là bất hợp pháp và không được thuê mướn hoặc sở hữu tài sản. Thủ tục đăng ký đòi hỏi tổ chức tôn giáo phải báo cáo số hội viên, nhóm lãnh đạo, tín ngưỡng và các sinh hoạt của họ. Ngay cả đối với các tổ chức đã đăng ký, nhiều hoạt động vẫn cần phải xin phép chính quyền địa phương, cấp tỉnh và/hoặc cấp quốc gia. Thí dụ, nếu một nhóm muốn mở một nhà thờ mới, hoặc di chuyển một vị giáo sỹ quản nhiệm từ một nhà thờ này đến nhà thờ khác, thì họ cần có sự chấp thuận của chính phủ.

Nhưng ngay cả sự chấp thuận của chính phủ cũng không giải quyết được tất cả các vấn đề. Thí dụ, một nhóm đã được giấy phép mở một nhà thờ khác nhưng gặp khó khăn trong việc thuê nhà vì chủ nhà không muốn có sự xem xét, dòm ngó của công an do sự hiện diện của một nhà thờ trên tài sản (đất đai) của họ.

Chính phủ Việt Nam hiện đang soạn thảo một đạo luật mới để quản lý tôn giáo. Trước khi đến Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu dự thảo thứ tư, trong đó phần lớn những gì đã được thực thi qua các pháp lệnh và nghị định trước đây, nay được đưa vào luật. Dự thảo quy định một số hoạt động tôn giáo khác, ngoài việc đăng ký, phải được chính phủ chấp thuận, gồm có một số điều khoản quy định việc chấp thuận khi các nhóm chọn lựa hoặc thuyên chuyển tu sĩ hoặc  nhân viên phục vụ cho tôn giáo. Thí dụ này cho chúng tôi thấy rõ rệt hơn sau khi một nhóm, mà chúng tôi gặp trong chuyến đi này, cho biết là một nửa các ứng viên mà họ đề cử để trở thành mục sư đã bị chính phủ từ chối.

Trong khi ở Việt Nam, chúng tôi được biết chính phủ hiện đang soạn dự thảo thứ năm, theo đó thì dường như họ đã thay chữ “chấp thuận” bằng chữ “thông báo” trong một số trường hợp. Chính phủ đòi hỏi các nhóm phải thông báo cho chính phủ biết các hoạt động của họ vẫn là một vấn đề.  Tuy thế, mỗi thay đổi ngôn ngữ từ “chấp thuận” sang “thông báo” là một bước tiến quan trọng đối với Việt Nam.

Một số nhóm tôn giáo đã từ chối ghi danh trên nguyên tắc, họ đã chọn lựa sự độc lập cho nhóm họ để không bị chính quyền kiểm soát.  Những nhóm này thường bị công an quấy nhiễu, làm khó. Tình trạng này cũng xảy đến cho các nhóm công khai khiếu nại về những sự bạc đãi mà họ gánh chịu, và sự việc này cũng xảy ra tương tự cho các nhóm bị tố cáo là liên lạc với các cơ quan nước ngoài hay/và các cơ quan bảo vệ nhân quyền.

Các yếu tố ảnh hưởng đến các Tín hữu

Sau khi lắng nghe các nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi kết luận rằng phạm vi và mức độ can thiệp của chính phủ, trong đó đôi khi dùng đến bạo lực, thường phụ thuộc vào một số điều kiện ngoài tầm kiểm soát của các tổ chức tôn giáo.

Trước tiên, các tổ chức tôn giáo và các cá nhân sẽ gặp các nguy cơ lớn nếu chính quyền tin rằng họ là một mối đe dọa cho chính phủ hay cho Đảng Cộng sản. Óscar Romero, Tổng Giám Mục Công Giáo La Mã đã bị giết, được biết đến qua các bài giảng về công bằng xã hội và quyền con người, chắc sẽ không được dung thứ tại Việt Nam, chẳng khác gì như ông đã bị đối xử ở El Salvador. Do đó các tổ chức tôn giáo buộc phải ém nhẹm vai trò truyền giảng ngôn từ như sứ giả của một Đấng Tối Cao, nếu họ muốn tồn tại ở Việt Nam. Điều này có nghĩa là: từ bỏ hỗ trợ cho bất cứ điều gì có thể được xem là trái với chính sách của Đảng, như dân chủ và nhân quyền. Các nhà hoạt động công khai ủng hộ những quyền tự do cơ bản này, gồm cả người Công Giáo và Tin Lành, đã bị cầm tù.

Năm 1980, Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam đã ban hành một lá thư mục vụ nói rằng người Công giáo tốt phải là công dân tốt, điều đó đã làm hài lòng các viên chức chính phủ và nhờ đó đã mở đường cho việc giảm thiểu các hạn chế. Tương tự như vậy, các nhà lãnh đạo Hồi giáo nhấn mạnh rằng tôn giáo của họ đòi hỏi tín đồ phải chấp hành pháp luật của nhà nước miễn là các luật đó không vi phạm niềm tin của họ vào một Thượng Đế duy nhất, hay can dự vào nhiệm vụ cầu nguyện của họ.

Mặt khác, các viên chức chính phủ lo lắng khi một mục sư tại địa phương có uy tín và quyền hành tại ngôi làng của họ nhiều hơn so với các viên chức của đảng và của chính quyền địa phương. Thí dụ, khi các viên chức địa phương bảo người dân biểu tình đi về nhà, thì họ không thèm để ý đến chỉ thị này, nhưng nếu mục sư nói, “Về nhà”, thì họ tuân theo.

Tương tự như vậy, Dòng Chúa Cứu Thế, một dòng tu Công giáo, bị quấy nhiễu vì họ cho phép những người bất đồng chính kiến đến tụ họp trên tài sản (đất đai) của họ. Dòng Chúa Cứu Thế cũng đang tranh chấp với chính phủ về đất đai của họ đã bị chính phủ tịch thu dưới chiêu bài phát triển mở mang. Đương nhiên chính  quyền không có chiều hướng đối xử tốt với những kẻ “gây rối.” Năm ngoái, Dòng Chúa Cứu Thế có một Cha bề trên mới ở cấp tỉnh và vị này có một lập trường ít cứng rắn hơn, có thể đó là lý do mà chính phủ sẽ giảm bớt các áp lực lên trên Dòng này.

Thứ hai, nhà nước lại đặt mục tiêu duy trì trật tự công cộng có ưu tiên trên  quyền tự do tôn giáo và nhiều quyền tự do khác.  Điều này dẫn đến các giới hạn khắt khe về việc truyền giáo. Người truyền giáo nào mà gõ cửa nhà dân hoặc phát truyền đơn ngoài đường hoặc trong công viên thì sẽ bị công an can thiệp tức thời. Các tín đồ Phật giáo và Cao Đài độc lập từ chối tham gia các tổ chức tôn giáo quốc doanh cũng đang trong tình trạng rất nguy hiểm.

Những nhà truyền giáo năng động trong khu vực dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên thường đã gặp nhiều rắc rối, mặc dù họ nói rằng các cuộc xung đột với chính phủ thường lắng dịu sau khi họ  thành công trong việc rao giảng và cải đạo cho hầu hết dân chúng trong làng.  Nhưng quá trình chuyển đổi như vậy có thể mất nhiều thập niên. Những người khác, như các tín đồ Mormon và Hồi giáo, đã đáp ứng các hạn chế đó bằng cách chỉ cải đạo cho những người đến với họ tại nơi thờ tự để được hướng dẫn chứ không đối đầu với chính phủ qua việc rao giảng và truyền đạo tích cực.

Thứ ba, các quyền hạn rông rãi dành cho các giới chức tại địa phương trong việc diễn giải và thực thi chính sách về tôn giáo tuỳ theo ý của họ đã dẫn đến một môi trường không thống nhất, không thể đoán trước.  Một số tổ chức tôn giáo được may mắn hoạt động tại các tỉnh, nơi mà các viên chức không có sự lo sợ hay tương phản với tôn giáo hay dân tộc thiểu số.  Đa số những nhóm mà chúng tôi gặp, họ cho biết là đã gặp nhiều vấn đề hơn tại một số tỉnh này, và ít hơn ở một số tỉnh khác.  Nhiều người cho rằng Tây Nguyên là một khu vực có nhiều vấn đề, nơi mà bất kỳ hoạt động nào liên quan đến các dân tộc thiểu số đều làm cho các viên chức chính phủ lo lắng, và thường dẫn đến sự đàn áp khắc nghiệt. Các nhóm dân tộc này coi trọng sự độc lập của họ, và một số nhóm đã là đồng minh với Mỹ chống Cộng Sản (trong quá khứ).

Tại các tỉnh này, rất khó mà được sự chấp thuận của chính phủ cho phép làm các nhà thờ mới hay cho phép các tôn giáo hoạt động. Một số viên chức địa phương sợ các nhà lãnh đạo tôn giáo nào có nhiều thẩm quyền với dân hơn là họ (các viên chức). Một số viên chức là những người có khuynh hướng cổ hủ và họ tin rằng phải dùng  biện pháp mạnh để làm chủ tình hình. Tâm trạng này có khi đã đưa đến các hành vi tàn bạo của công an, thay vì giải quyết xung đột lại làm cho sự việc tồi tệ hơn. Một viên chức cấp quốc gia đã thẳng thắn phàn nàn về khả năng kém cỏi của một số các viên chức địa phương.  Dù vậy, chính quyền trung ương ít khi can thiệp vào để bênh vực các nhóm tôn giáo là nạn nhân của sự lạm dụng của cấp tỉnh. Các viên chức địa phương ít khi bị buộc phải chịu trách nhiệm về các hành động của họ.

Thứ tư, bởi vì sự tin tưởng có thể là một yếu tố quan trọng trong việc làm bớt đi các vấn đề với các viên chức tại địa phương, một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã nỗ lực tạo mối quan hệ cá nhân với các viên chức chính phủ. Một vị lãnh đạo Hội Thánh nói với chúng tôi về phương thức của ông để một người bạn công an giới thiệu ông với các viên chức công an phụ trách tôn giáo trong khu vực. Sau đó ông mời viên chức này đến tham dự buổi lễ tại nhà thờ của ông. Mục đích của ông là thiết lập sự tin tưởng thông qua các việc làm minh bạch và bằng đối thoại.  Tổ chức với thứ bậc rõ ràng như Giáo Hội Công Giáo rất thích hợp với phương cách này, bởi vì Công Giáo có một chức sắc của nhà thờ có đủ thẩm quyền để đại diện cho các con chiên. Sự tin tưởng và sự hiểu biết, một khi đã được thiết lập ở cả hai phía, có thể giúp làm giảm bớt những nghi ngờ và cuối cùng các viên chức địa phương nới tay; đáng tiếc, quá trình này thường mất một thời gian dài.

Khi thiếu sự tin tưởng lẫn nhau và sự nghi ngờ còn cao, chính phủ luôn luôn can dự vào việc hoạt động tôn giáo.  Thực tế, một số người dân mà chúng tôi gặp, họ nói với chúng tôi rằng các viên chức chính phủ đã gặp họ trước khi chúng tôi đến thăm họ. Rõ ràng là chính phủ muốn “cảnh báo” họ, và chính phủ nghi ngờ về những gì họ có thể nói với một phái đoàn của chính phủ Hoa Kỳ.  Một nhóm người khác đã rời nhà của họ từ đêm hôm trước để đi đến gặp chúng tôi phòng khi công an ngăn giữ họ không cho rời khỏi nhà.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo Việt Nam cố gắng để điều hướng bốn điều kiện nêu trên để được tồn tại, với các mức độ thành công khác nhau, nhưng tình trạng đó rõ ràng là quá khác biệt với tự do tôn giáo mẫu mực được nêu ra trong luật pháp quốc tế.

Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ về tự do tôn giáo kể từ những ngày đen tối sau khi Cộng sản cưỡng chiếm vào năm 1975, và điều này khiến chúng ta hy vọng rằng những cải tiến chính đáng và lâu dài đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế là một điều có thể. Chúng tôi nhận thấy rõ ràng là các viên chức Việt Nam muốn có các quan hệ tốt với Hoa Kỳ, và họ biết rằng tự do tôn giáo là một vấn đề chúng tôi luôn quan tâm đến. Nhiều viên chức nhận ra rằng đánh đập các tín hữu (tôn giáo) không phải là điều đáng làm nếu nó có tác dụng xấu trên mối quan hệ giữa nước họ với Hoa Kỳ, nhưng còn quá nhiều viên chức vẫn cho rằng phải cứng rắn thì mới thành công.

Mức độ Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo   tác động đến quốc ngoại. Vi phạm tự do tôn giáo là một chuyện thường tình khắp vùng Đông Nam Á.  Láng giềng của Việt Nam- đặc biệt là nước Lào, một nước có một chính phủ Cộng sản tương tự – đang theo chân Việt Nam trong lãnh vực chính sách liên quan đến các quyền và tự do – quan sát các hành động của Việt Nam và ảnh hưởng của các hành động này lên các mối quan hệ với cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ.  Rõ ràng là Việt Nam có nhiều sự đe doạ và thử thách.

Liệu là tự do tôn giáo ở Việt Nam có bao giờ đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, hoặc chính sách của nhà cầm quyền không còn cải tiến thêm nữa? Một đạo luật về tôn giáo mà chỉ giữ nguyên hiện trạng sẽ là một dấu hiệu không tốt. Trái lại,, nếu đạo luật cho thấy chính quyền sẽ giảm bớt các yêu sách liên quan đến “xin/cho” và mức độ các tôn giáo phải báo cáo, thì điều này sẽ là một dấu hiệu tốt.  Nhưng, trừ khi chính phủ không còn can dự vào nội bộ của các tổ chức tôn giáo độc lập, đã đăng ký và không đăng ký, và từ bỏ mọi phương thức có tính chất “côn đồ” đối với họ, thì không ai có thể nói rằng Việt Nam đã đạt được mức độ tự do tôn giáo cần thiết của một nhà nước tuân theo luật pháp quốc tế.

1 Thomas J. Reese, S.J. và Mary Ann Glendon là uỷ viên của Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn Giáo Quốc Tế. Linh Mục Reese là Chủ Nhiệm Tạp Chí America (1998-2005) và hiện nay là chuyên gia phân tích của tập san The National Catholic Reporter. Giáo sư Glendon là giáo sư Learned Hand Professor tại Phân Khoa Luật thuộc Đại Học Harvard và là cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Tòa Thánh Vatican

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: