Hoa Kỳ không phải là đế quốc xâm lược Việt Nam * * NHÓM NGUYỄN TẤN DỦNG TRONG VỤ RƯỚC CÔNG NGHỆ LUYỆN THÉP LỔI THỜI FORMOSA VÀO TÀN PHÁ VIỆT NAM LÀ AI ? * * Những bất cập trong triển khai dự án FORMOSA Hà Tĩnh * * VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ * * Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản * * Nếu nói chiến tranh Việt nam mà đổ thừa cho Hoa Kỳ là sai lầm và thiếu hiểu biết * * CÓ AI NGHĨ ĐẾN CỰU-CHIẾN-BINH MỸ KHÔNG ? * * Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích – Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam * * Dân Hà Nội thich Việt nam cọng hòa công bằng tự do đa đảng nên biểu tình ủng hộ kỷ sư Nguyễn Viết Dủng * * Báo cáo của Uỷ Ban Nhân quyền Quốc tế về trường hợp Nguyễn Viết Dũng * * Phiên toà phúc thẩm Nguyễn Viết Dũng * * Uỷ Hội Hoa Kỳ : Chính phủ Viet nam hãy ngưng can thiệp nội bộ tôn giáo


Hoa Kỳ không phải là đế quốc xâm lược Việt Nam

Lời truyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam và quan điểm của những người phản chiến.

Thảo Dân (Danlambao) – Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên truyền rằng Hoa Kỳ là đế quốc xâm lược Việt Nam nên họ phải “chống Mỹ cứu nước”. Thế nhưng không có một lãnh tụ nào của Cộng sản Việt Nam đưa ra được những chứng cớ xác đáng để chứng minh lý lẽ này ngoại trừ những lời kết tội lính Mỹ giết dân ở Mỹ Lai, dội bom, rải chất độc da cam.

Để chứng minh Hoa Kỳ là đế quốc xâm lược, ông Nguyễn Hòa, trong bài viết có tựa “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?” , viết:

“…Tham gia vào cuộc chiến với sự có mặt lúc cao nhất tới hơn nửa triệu quân nhân, với pháo tầm xa 175 ly và xe tăng M41, xe lội nước M113…, với hàng ngàn chiếc máy bay từ F4 -con ma, F105-thần sấm đến F111, pháo đài bay B52… Nhìn chung, sự huy động đến mức tối đa sức mạnh của quân đội Mỹ lúc bấy giờ vào chiến trường miền nam kết hợp với các cuộc ném bom rải thảm với cuồng vọng đẩy miền bắc vào “thời kỳ đồ đá”…

 
…Sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1954-1975 thực chất là một cuộc chiến tranh xâm lược. Ðế quốc Mỹ đã không “ủy nhiệm” cho ai cả, chúng trực tiếp nhập cuộc. Bom Mỹ từ máy bay Mỹ, do người Mỹ lái đã giội xuống hầu hết các phố phường, làng mạc, trường học Việt Nam(?)… Xe tăng Mỹ, do người Mỹ lái, đã cày nát không biết bao nhiêu cánh đồng và thôn xóm Việt Nam… Rồi nữa là con số gần sáu vạn quân nhân Mỹ chết trận cùng những sự kiện như Mỹ Lai…

…Bom Mỹ giết chết hàng trăm y sinh của Bệnh viện Yên Bái năm 1965, đã có mặt ở Hà Nội trong trận quyết chiến “Ðiện Biên Phủ trên không” năm 1972”
Những điều ông Nguyễn Hòa nêu trên có lẽ đã thuyết phục nhiều người dân Việt Nam hiền hòa, chân chất, thiếu thông tin, nhất là dân miền quê tin vào lời tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rằng Mỹ là đế quốc xâm lược.
Thực ra Hoa Kỳ không “huy động đến mức tối đa sức mạnh của quân đội”, không hề “giội bom xuống hầu hết các phố phường, làng mạc, trường học Việt Nam”. Hoa Kỳ giội bom miền Bắc chỉ để làm áp lực buộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trở lại bàn đàm phán; số thương vong cao chỉ chứng tỏ mức độ ác liệt của chiến tranh; ở Mỹ Lai, lính Mỹ đã cố tình giết hàng trăm dân thường. Nhưng vụ thảm sát ấy không phải là chứng cớ Hoa Kỳ xâm lược. Đó là tội ác chiến tranh. Số nạn nhân của “sự kiện Mỹ Lai” có cao; tuy nhiên về bản chất không khác nạn nhân của CSVN trong vụ nhà hàng Mỹ Cảnh, vụ pháo kích vào khu triển lãm vũ khí trước Tòa đô chánh Sài Gòn. Đó là tội ác chiến tranh. (Thực ra có khác: tội ác của lính Mỹ ở Mỹ Lai đã bị chính quân nhân Mỹ tố cáo và trung úy William Calley – kẻ chịu trách nhiệm đã bị mang ra tòa; còn thủ phạm gây ra vụ nổ bom kép ở nhà hàng Mỹ Cảnh lại được vinh danh!)
Về thường dân chết trong các cuộc giội bom của Hoa Kỳ ở Hà Nội: Hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới đều có bom rơi, đạn lạc; các bên tham chiến đều ít nhiều gây thương vong cho dân thường, kể cả phía CSVN (như pháo kích nhầm vào trường Tiểu học Cai Lậy).
Ông Nguyễn Hòa quên không nêu lên việc quân đội Mỹ thả chất độc da cam như là một minh chứng việc Mỹ xâm lược như có người khác đã làm. Việc rải chất độc da cam cũng không phải là chứng cớ Hoa Kỳ xâm lược; cũng không phải là tội ác chiến tranh. Chất độc da cam là phương tiện chiến tranh. Phương tiện ấy nhắm mục đích làm trụi lá cây để quân địch không có nơi ẩn nấp. Chất độc ấy gây hậu quả tai hại cho bất cứ ai ở trong phạm vi tác động của nó: lính Cộng sản, lính Việt Nam Cộng Hòa, thường dân và dĩ nhiên cả lính Mỹ.
Có lập luận cho rằng Hoa Kỳ là thực dân kiểu mới vì muốn nước khác theo thể chế chính trị của mình hoặc muốn gây ảnh hưởng về văn hóa, xã hội. Việc người Mỹ muốn gây ảnh hưởng với thế giới là chuyện đáng tin. Đó là điều bình thường vì Hoa Kỳ là cường quốc số 1 thế giới, người Mỹ mang tâm lý muốn lãnh đạo thế giới, muốn làm người hùng cứu thế giới. Trên thực tế, nhiều nước có thể chế chính trị giống Hoa Kỳ, có lối sống giống người Mỹ; tuy nhiên cũng có rất nhiều nước khác không theo Mỹ nhưng được Mỹ tôn trọng. Nhiều người nhìn nhận là Hoa Kỳ đã sử dụng quyền lực mềm (thuyết phục, viện trợ) để gây ảnh hưởng.
Còn những người Mỹ chống lại sự can dự của Hoa Kỳ vào Việt Nam nói gì?
Một người đứng về phía Cộng sản Việt Nam, ông Trần Chung Ngọc, dẫn quan điểm của một viên chức và 2 giáo sư Mỹ để chứng minh Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam, nguyên văn như sau:
Daniel Ellsberg viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:
 
Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.
 
Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.
 
Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.
 
Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.”
Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), Các giáo sư John Carlos Rowe và Rick Berg viết, trang 28-29:
“Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”
 
Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam.”
 
“Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp  và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xăm lăng với nhiều tội ác khủng hiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.”
Có lẽ có bạn trẻ cho rằng “chính người Mỹ đã nhìn nhận như vậy tất nhiên là đúng rồi!”.
Thực ra không phải vậy.
Trước hết, Hoa Kỳ là quốc gia dân chủ; bất cứ người dân nào cũng có quyền lên tiếng chống lại chính sách của chính phủ dù có lý hay hay không. Ông Daniel Ellsberg và 2 vị giáo sư  John Carlos Rowe và Rick Berg không phải là “chính quyền Mỹ”, nên đó không phải là lời tự thú, mà chỉ là quan điểm riêng.
Mọi người đều biết chính giới Hoa Kỳ chia làm 2 phe ủng hộ và chống lại cuộc chiến (giới truyển thông gọi tắt là phe diều hâu và phe bồ câu). Ba nhân vật trên rõ ràng thuộc phe “bồ câu”.
Sau nữa, là “viên chức”, là “giáo sư” không có nghĩa quan điểm của họ là đúng.
Bài viết “Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975)” của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia  ghi: “Arthur Schlesinger khẳng định: “Thật là sai lầm khủng khiếp, nếu coi Hà Nội và Việt cộng là mũi lao xâm lược”. Noam Chomsky kết luận: “Chính Mỹ đã đẩy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào vòng chiến”.”
Chúng ta hãy phân tích phát biểu của những người Mỹ kể trên.
Về quan điểm của Daniel Ellsberg, ông viết: “Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến”.
Nhận định: Ông Daniel Ellsberg đã sai khi cho rằng cuộc chiến tranh VN không có gì là “nội chiến”, rằng “Mỹ ủng hộ Pháp tái chiếm thuộc địa” và “một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình”
Ông Daniel Ellsberg đã không biết hoặc không tính chính xác thời điểm bắt đầu cuộc chiến. Hoa Kỳ chỉ can dự vào Việt Nam khi đất nước đã bị chia đôi. Cuộc chiến giữa người Cộng sản và không Cộng sản đã diễn ra rất lâu trước đó. Ông không biết hoặc phớt lờ cuộc xung đột Quốc-Cộng xảy ra từ 1930 khi ông Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng sản, chủ trương sử dụng bạo lực vũ trang để kháng Pháp và áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản lên nước Việt Nam trong khi các lãnh tụ yêu nước khác( Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Cường Để, Nguyễn Hải Thần, Lý Đông A…), các đảng phái quốc gia (Việt Quốc, Việt Cách…), các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo chống lại chủ trương ấy.
Ông Daniel Ellsberg cho rằng “cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ” là sai. Mỹ  không hề muốn Pháp tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Tại Hội nghị Teheran họp từ 20 tháng11 đến 1 tháng12 năm1943, TT Hoa Kỳ Roosevelt phát biểu “Đồng minh đổ máu không phải nhằm khôi phục ách thống trị của Pháp ở Đông Dương”. Nên biết từ tháng 7 năm1944, Tổng thống Pháp De Gaulle công bố kế hoạch về quyền tự trị của Đông Dương trong Liên Hiệp Pháp.
Hoa Kỳ hỗ trợ Pháp ở Điện Biên Phủ nhằm chống lại Cộng sản Việt Nam:
Năm 1952, ông Eishenhower trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ ở tòa Bạch ốc đã tuyên bố: “Đối với người Mỹ, cuộc chiến ở Đông Dương không còn là chiến tranh chống thuộc địa nữa, mà là một thứ chiến tranh của Tây Phương chống lại chủ nghĩa cộng sản, một cuộc chiến tranh nhằm đem lại tự do cho Việt Nam”.
(Dĩ nhiên, ông Daniel Ellsberg biết các lời tuyên bố của TT Eishenhower. Ông chỉ cố tình phớt lờ chúng.)
Ông Daniel Ellsberg cho rằng “Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến”.
Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tuy được trang bị và trả lương bởi Hoa Kỳ nhưng quân đội ấy được hình thành bởi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Vã lại quân đội Cộng sản miền Bắc cũng được trang bị, trả lương bởi quyền lực ngoại quốc  là Liên Xô và Trung Cộng.
Hoa Kỳ không áp đặt chế độ tự do dân chủ lên Việt Nam, chế độ ấy do ông Ngô Dình Diệm lập ra, ông Nguyễn Văn Thiệu kế thừa (có sửa đổi đôi chút: Quốc hội từ một viện trở thành lưỡng viện và mở rộng tự do dân chủ hơn). Hoa Kỳ chỉ hỗ trợ, phát huy chế độ ấy, và đó là điều dễ hiểu. Dĩ nhiên Hoa Kỳ giúp đở Việt Nam Cộng Hòa chống lại Cộng sản trước hết vì lợi ích của chính Hoa Kỳ. Và lợi ich ấy cũng là lợi ích của Việt Nam Cộng Hòa. Đó là  xây dựng, phát triển đất nước theo mô hình dân chủ Tổng thống chế.
Ông Daniel Ellsberg  phủ nhận “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”. Nhưng lịch sử cho thấy rõ ràng đúng là vậy. Chế độ miền Bắc theo Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa có bản chất xâm lăng; hơn nữa, đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động cuộc chiến nhằm áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản lên Việt Nam Cộng Hòa trái với nguyện vọng của dân chúng miền Nam.
Ông Daniel Ellsberg cho rằng “Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ” . Lập luận này mơ hồ nói lấy có.
Nhận định quan điểm của các GS Giáo sư John Carlos Rowe và Rick Berg:
Hai vị giáo sư viết: “Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”
Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam.”
Nhận định:
Sự thật cho thấy Hoa Kỳ không hề muốn Pháp tái chiếm Việt Nam như đã nói ở phần nhận xét những phát biểu của ông Daniel Ellsberg.
Kẻ thù ở đây là Cộng sản Việt Nam, là một nhánh của phong trào quốc tế chứ không phải quốc gia. Phong trào quốc gia gồm các lãnh tụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Hải Thần, Cường Để, cựu hoàng Bảo Đại… các đảng phái, giáo phái không Cộng sản: Việt Nam Quốc dân đảng(Việt quốc),Đại Việt cách mạng (Việt cách), Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội , Việt Nam Quốc gia Liên hiệp, Đại Việt Phục hưng Hội và Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo (2 tổ chức do ông Ngô Đình Diệm thành lập), Cao Đài, Hòa Hảo.
Hai ông viết : “Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến”.
Nhận định: Mỹ không phá hoại hiệp định Geneve, kẻ phá hoại chính là Cộng sản Việt Nam đã vi phạm hiệp định khi cho quân vượt qua khu phi quân sự tiến đánh Việt Nam Cộng Hòa.
Ông Ngô Đình Diệm không phải do Hoa Kỳ dựng lên mà được cựu hoàng Bảo Đại mời lập chính phủ ngày 7 tháng 7 năm 1954 trong lúc diễn ra hội nghị ở Geneve. Sau đó chính phủ của ông bị Pháp âm mưu lật đổ. Hoa Kỳ lúc đầu đã không ủng hộ ông.
Chính phủ Ngô Đình Diệm  không phải là chính phủ khủng bố mà chính là chính phủ chống lại sự xâm chiếm của Cộng sản Việt Nam  một cách quyết liệt và hiệu quả.
Bảo rằng chế độ Ngô Đình Diệm đã khủng bố giết hàng ngàn “Việt Cộng”, và gây nên phong trào kháng chiến” là một kiểu “nói ngược”quen thuộc của người Cộng sản. “Phong trào kháng chiến” (Mặt trân dân tộc giải phóng miền Nam)  không được thành lập sau khi bị khủng bố mà trước đó rất lâu; sự thật “phong trào” này chỉ bị “khủng bố” sau đã giết hàng ngàn viên chức chính phủ đệ nhất Cộng hòa. “Phong trào” này do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng sản Việt Nam) lập nên để đánh chiếm miền Nam.
Hai ông viết  tiếp: “Mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.”
Nhận định: Thực ra các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều là chính phủ hợp pháp, hình thành từ cuộc đấu tranh của các đảng phái quốc gia và cựu hoàng Bảo Đại với thực dân Pháp và với cả Hoa Kỳ ( như chúng ta sẽ thấy trong phần “Các chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ”).Ông Ngô Đình Diệm được vua Bảo Đại chọn, chính phủ của ông được hình thành bởi cuộc trưng cầu dân ý; ông Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống sau cuộc bầu cử có nhiều liên danh ứng cử. Mỹ chỉ ủng hộ chứ không “dựng lên” hai chính phủ ấy.
Hai ông viết tiếp: “và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam.Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xăm lăng với nhiều tội ác khủng hiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.”
Nhận định:  Năm 1956 khi ông Ngô Đình Diệm  từ chối mở rộng thành phần chính phủ, Hoa Kỳ cho rằng ông thiếu dân chủ, muốn thay ông. Về sau, khi ông đánh bại lực lượng của các tướng lãnh thân Pháp và các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Hoa Kỳ mới ủng hộ ông.
Năm 1963, Hoa Kỳ hổ trợ các tướng lãnh đảo chính lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm vì cho rằng chính phủ ấy độc tài gia đình trị, đàn áp Phật giáo.
Hành động ấy không phải là xâm lăng, Hoa Kỳ chỉ muốn chính phủ VNCH mở rộng  tự do dân chủ, thu hút rộng rãi sự ủng hộ của dân chúng.
Về phát biểu của ông Hồ Chí Minh:
Trong bài chính luận “Sách trắng của Mỹ” đăng trên báo Nhân dân (số 3992, ngày 8 tháng 3năm1965) nhằm phản đối việc Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, ông Hồ Chí  Minh phát biểu: “Hiệp định Giơnevơ 1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa binh lính, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956.”
Nhận định: Hoa Kỳ không ký vào Bản hiệp định thì không có vấn đề tôn trọng hay không tôn trọng.
Hoa Kỳ xây dựng căn cứ quân sự, đưa vũ khí, binh lính vào  miền Nam căn cứ hiệp ước Liên Phòng Đông Nam Á sau khi chính phủ Cộng sản miền Bắc nhận vũ khí của Liên Xô, Trung Cộng tiến đánh chính phủ miền Nam. Hiệp ước Liên Phòng Đông Nam Á bảo vệ các nước Đông nam Á trong đó có Việt Nam Cộng Hòa.
Về lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ Kennedy:
Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của 9 nước thành viên Hội nghị Genève. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”. Cũng như Tổng thống của mình, thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống) John F. Kennedy tuyên bố: “Nó (Quốc gia Việt Nam) là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó.”
Nhận định: Diễn biến lịch sử cho thấy Hoa Kỳ không hề “đẻ ra” Quốc gia Việt Nam”(tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa). Đó là một cách nói ám chỉ nhờ Hoa Kỳ Việt Nam Cộng Hòa mới tồn tại trước sự xâm lăng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Một vài quan điểm khác (trích từ “Chiến tranh VN” trên Wikipedia):
Chính sách chống Cộng sản của chính phủ Mỹ, theo Jonathan Neale, chỉ là cái cớ để phục vụ cho quyền lợi của những tập đoàn tư bản Mỹ.
Ông Jonathan Neale nói đúng ở điểm chính phủ  Hoa Kỳ cần phải bảo vệ những nhà  tư bản Mỹ khỏi chủ nghĩa Cộng sản vốn chủ trương tiêu diệt tư bản. Tuy nhiên ông ta rất phiếm diện, ông nói theo người Cộng sản, không thấy công lao của nhà tư bản trong việc phát triển kinh tế; ngoài ra ông chỉ nói lên một trong nhiều mối đe dọa từ Chủ nghĩa Cộng sản. Người Cộng sản muốn xóa bỏ toàn bộ nền chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của giai cấp tư sản, thiết lập chính thể chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân (theo LêNin) và nông dân (theo Mao)
Theo quan điểm của nhiều sử gia, cuộc chiến này,do đó, mang tính dân tộc rất cao: nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người Cộng sản thắng lợi dù họ là bên yếu thế hơn nhiều về trang bị quân sự. Hoa Kỳ đã thất bại vì không nhận ra đó là một cuộc “chiến tranh nhân dân”, và người Việt Nam gắn bó với cách mạng bởi vì họ coi đó như là một cuộc chiến để bảo vệ gia đình, đất đai và tổ quốc mình.
Nhận định: Cuộc chiến do Cộng sản miền Bắc phát động thực ra không hề mang tính dân tộc. Vì họ không kế thừa truyền thống tổ tiênLý ,Trần, Lê, Nguyễn ( vốn theo Khổng Mạnh, Nho giáo…); chủ nghĩa Cộng sản là một phong trào quốc tế, có chứng cớ lịch sử cho thấy mục đích giành độc lập của đảng Cộng sản Việt Nam đứng sau mục đích áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản lên miền Nam.
Nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước của người Quốc gia cao hơn của người Cộng sản; vì vậy người Quốc gia mới chấp nhận độc lập do Nhật và Pháp trao trả; và sau đó phản đối sự chia cắt đất nước.
Sự tuyên truyền rằng chống Pháp đuổi Mỹ giành độc lập là lừa bịp, công lao  thống nhất đất nước không đáng kể đến vì chính đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương chia cắt đất nước.
Về khẳng định của ông Arthur Schlesinger rằng “Thật là sai lầm khủng khiếp, nếu coi Hà Nội và Việt cộng là mũi lao xâm lược”, và kết luận của ông Noam Chomsky rằng “Chính Mỹ đã đẩy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào vòng chiến”:
Hai ông đã không biết rõ hoặc nhầm lẫn thời điểm Hoa Kỳ tham chiến: Hoa kỳ tham chiến sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành chiến tranh chống nước Việt Nam Cộng Hòa. Đây là một kiểu nói ngược của Cộng sản Việt Nam. Sự thực chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đã đẩy Mỹ vào vòng chiến.
Sau khi bác bỏ lời buộc tội của đảng Cộng sản Việt Nam và những người ủng hộ họ chúng ta thử khách quan xem xét những yếu tố nào có thể dựa vào để biện hộ cho Hoa Kỳ.
Để biết Hoa Kỳ có phải là đế quốc xâm lược Việt Nam, người ta cần trả lời các câu hỏi:
– Tại sao Hoa Kỳ can thiệp và dựa vào đâu để can thiệp vào Việt Nam?
– Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam  lúc nào?
– Mục đích của sự can thiệp là gì?
– Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc chiến thế nào?
– Trong thực tế Hoa Kỳ đã làm gì ở miền Nam?
Trước khi nghiên cứu các vấn đề nêu trên, chúng ta cần xem xét  vài vấn đề nhạy cảm đối với dư luận: Sự hiện diện của lính Mỹ ở Việt Nam.
Năm 1965, đứng trước các cuộc tấn công dữ dội  của quân Cộng sản vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ  bắt đầu đổ quân vào miền Nam, chủ động chiến đấu chống lại quân Cộng sản.
Sự hiện diện của quân Mỹ đã có tác động rất lớn đến nhận thức của người dân Việt Nam phần lớn sống ở nông thôn( hơn 80%). Nhiều người tin lời  tuyên truyền rằng đó là bắng chứng Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam.
Sự có mặt của binh lính ngoại quốc trên lãnh thổ một nước có phải đã đủ để chứng minh nước ấy bị xâm lược?
Để trả lời, chúng ta hãy xét Nhật Bản và Đại Hàn Dân Quốc, hai quốc gia có quân Mỹ trú đóng lâu dài trên lãnh thổ nước mình.
Trường hợp Nhật Bản:
Cuối đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản, xóa bỏ chế độ quân phiệt, giúp nước này thiết lập một “Bản Hiến pháp hòa bình” với chủ quyền thuộc về người dân, cải tổ toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế.
Năm 1951, Hoa Kỳ  trao trả nền độc lập cho Nhật Bản. Nhờ kế hoạch Marshall của Mỹ, giữa năm 1960 từ tro tàn chiến bại Nhật Bản đã khôi phục nền kinh tế và tăng trưởng một cách “thần kỳ”. Ngày nay Nhật Bản trở thành một cường quốc kinh thế thuộc hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn chấp thuận sự hiện diện và đài thọ chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ để bảo vệ đất nước mình.
Trong danh sách “12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh”, nhân vật thứ 10 là Thống tướng Mỹ Douglas MacArthur.
Tại sao một vị tướng chỉ huy quân xâm chiếm lại được người dân nước bị xâm chiếm tôn vinh?
Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 – 5 tháng 4 năm 1964) là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng ở mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tướng MacArthur được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, ông chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Tướng MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì đã đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này.
Trường hợp Đại Hàn:
Năm 1950, Bắc Hàn vượt giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 38 tấn công chớp nhoáng,  đánh bại Nam Hàn. Được Liên Hiệp Quốc chấp thuận, Mỹ và 15 quốc gia khác (dưới sự chỉ huy Thống tướng Douglas MacArthur) can thiệp, đẩy lui quân Bắc Hàn tận bờ sông Áp Lục. Trung Quốc đưa “chí nguyện quân” tham chiến giúp Bắc Hàn. Chiến sự giằng co đến năm 1953, các bên thỏa thuận ngưng bắn ở phòng tuyến Kansas nằm ở phía bắc vĩ tuyến 38.
Đã có trên 36.000 quân nhân Mỹ hy sinh khi bảo vệ Nam Triều Tiên.
Sau chiến tranh, với kế hoạch Marshall, Mỹ đã hỗ trợ Nam Hàn trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển đứng thứ 3 ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006.
Năm 2007, GDP Bắc Hàn là 40 tỉ USD , của Nam Hàn là 1.196 tỉ USD. Thu nhập bình quân đầu người của Bắc Hàn là 1.800 USD, của Nam Hàn là 24.500 USD.
Nam Hàn đã chi trên 866 triệu USD trong năm 2014 để chia sẻ gánh nặng với chính phủ Mỹ trong việc duy trì trên 20 ngàn quân Mỹ hầu đối phó với mọi cuộc xâm lăng từ Bắc Hàn.
Tình hình Nhật bản và Hàn quốc cho thấy không phải sự trú đóng của quân đội một nước ở một nước khác mà chính là mục đích sự chiếm đóng mới quyết định có xâm lăng hay không.
Trường hợp Phi Luật Tân:  
Phi Luật Tân là thuộc địa của Tây Ban Nha từ 1565.
Đến năm 1898, Tây Ban Nha bán Phi Luật Tân cho Hoa Kỳ với giá 20 triệu USD theo  Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ.
Năm 1916, Hoa Kỳ  thông qua Đạo luật Tự trị Phi Luật Tân và tự cam kết cho phép Phi Luật Tân độc lập càng sớm càng tốt khi thiết lập được một chính phủ ổn định.
Năm 1935, Phi Luật Tân  được tự trị một phần với tư cách là một “Thịnh vượng chung” để từng bước chuẩn bị cho nền độc lập hoàn toàn vào năm 1946.
Thời Đệ nhị Thế chiến, Nhật Bản chiếm đóng Phi Luật Tân  khiến việc chuẩn bị gián đoạn. Hoa Kỳ đã tổn thất tổng cộng 62.514 binh sĩ trong đó có 13.973 binh sĩ tử trận trong công cuộc giải phóng Phi Luật Tân khỏi tay Quân phiệt Nhật từ 1944 đến 1945.
Năm 1946 Hoa Kỳ trao trả độc lập hoàn toàn cho Phi Luật Tân.
Có một nhân vật ngoại quốc được phong Thống tướng trong Quân đội Phi Luật Tân. Đó là Douglas MacArthur, Thống tướng quân đội Hoa Kỳ.
Sự mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ: 
Nghiên cứu sự mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ cũng không phải là vô ích trong khi đi tìm câu trả lời Hoa Kỳ có xâm lược Việt Nam hay không.
Nhiều nước trong quá trình lập quốc có mở rộng lãnh thổ ( Việt Nam cũng ở trường hợp này)
Trong lịch sử phát triển của mình Hoa Kỳ đã mở rộng lãnh thổ dưới các hình thức:
– Nhượng địa” ( đất được nhường lại và tuyên bố từ bỏ chủ quyền từ quốc gia đang chiếm đóng hay sở hữu ) thông qua các hiệp ước chính trị như Florida, Oregon, New Mexico …
– “Cấu địa” ( đất được mua lại từ quốc gia đang sở hữu ) bằng các thương lượng thương mại như Louisiana từ Pháp,  Alaska từ Nga, Gadsden, Quần Đảo Virgin… .
– Tự nguyện gia nhập Liên Bang như Texas, Hawaii, Samoa …
– Khối Thịnh Vượng Chung như Puerto Rico, Quần Đảo Bắc Mariana …
– Hiệp Ước Liên Kết Tự Do như Quần Đảo Marshall, Liên Bang Micronesia, Palau  …
– Hiệp Ước Liên Kết Tự Do như Quần Đảo Marshall, Liên Bang Micronesia, Palau  …
(Trích “MỸ XÂM LĂNG VIỆT NAM!? của Canh Le )
 “Mảnh đất duy nhất nước Mỹ xin từ thế giới là đất để chôn các tử sĩ của họ” (Colin Powell)
Sau đây, chúng ta hãy trả lời những câu hỏi chủ yếu để biết Hoa Kỳ có phải là đế quốc xâm lược Việt Nam hay không.
Tại sao Hoa Kỳ can thiệp và dựa vào đâu để can thiệp vào Việt Nam?
Bản chất bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản.
Theo lý thuyết Cộng sản, chủ nghĩa Tư bản chủ trương bốc lột giá trị thăng dư, áp bức người lao động; các quốc gia Tư bản phát triển đến một mức độ nào đó sẽ trở thành đế quốc, đi xâm chiếm nước khác để khai thác tài nguyên, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Lý thuyết Cộng sản cho rằng quá trình phát triển của xã hội loài người sẽ khiến chủ nghĩa Tư bản sụp đổ để chuyển sang chủ nghĩa Cộng sản. Và nhiệm vụ của các đảng Cộng sản trên thế giới là đẩy nhanh quá trình ấy để sớm loại bỏ chủ nghĩa Tư bản, xây dựng xã hội công bằng, không có cảnh người bốc lột người, mọi người làm theo năng lực, hường theo nhu cầu.
Vì vậy Stalin, lãnh tụ Liên Xô  bác bỏ sự hợp tác với Ngân hàng Thế giới  và Quỹ Tiền tệ Quốc  tế vì nếu làm thế vô hình trung đóng góp vào sự lớn mạnh của chủ nghĩa Tư bản. Stalin ủng hộ sự bành trướng chủ nghĩa Cộng sản ở Tây Âu và châu Á sau này.
(Trích “Chiến tranh Lạnh” Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
Thực tế, lịch sử thế giới đã cho thấy các nước Cộng sản đã thực hiện đúng lý thuyết ấy.
Sự bành trướng của Liên Xô.
Ở giai đoạn cuối của thế chiến thứ 2, sau khi đẩy lui quân Đức khỏi lãnh thổ của mình, Liên Xô tiến quân qua Châu Âu, hỗ trợ thành lập các chính quyền Cộng sản ở các nước Đông Âu gồm:
Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (1944), Cộng hòa Nhân dân Rumani (1944), Cộng hòa Nhân dân Hungari (1945), Cộng hòa Tiệp Khắc (1945), Liên bang cộng hòa dân chủ Nhân dân Nam Tư (1945), Cộng hòa Nhân dân Anbani (1945), Cộng hòa Bungari (1946).
Riêng ở Đông Đức , với sự giúp đỡ của Liên Xô, tháng 10 năm 1949 nước Cộng hòa Dân chủ Đức đã được thành lập.
Năm 1949, Liên Xô thành công trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân.
(Theo “Chiến tranh lạnh”, wikipedia)
Tham vọng thực dân của nước Trung hoa Cộng sản.
Ngày 22 tháng 1 năm 1949 quân Cộng sản do ông Mao Trạch Đông lãnh đạo đã đánh bại quân Quốc Dân Đảng, chiếm tòan bộ lục địa Trung hoa.
Mao tuyên bố vào năm 1965 trước Bộ chính trị Trung Cộng : “Chúng ta phải nhất quyết dành lại khu vực Đông Nam Á, bao gồm miền Nam Việt Nam, Thái  Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore. Đông Nam Á là một khu vực rất phong phú, có rất nhiều nguyên liệu. Trong tương lai nó sẽ rất hữu ích cho sự phát triển của ngành công nghiệp Trung Quốc. Sau khi chúng ta nắm giữ được của khu vực Đông Nam Á thì gió từ phương Đông sẽ vượt lên trên những cơn gió từ phương Tây”
(Gahrana, 1984, “China, Asia, and world” New Delhi : New Delhi Publications, page: 7)
Bắc Hàn tiến đánh  Nam Hàn năm 1950
Giữa năm 1949, Kim Nhật Thành, lãnh tụ Bắc Hàn theo Cộng sản đề nghị Liên Xô giúp đánh Nam Hàn, nhưng Stalin từ chối do sợ Hoa Kỳ can thiệp. Đầu năm 1950, Kim Nhật Thành đề nghị lần nữa và được chấp thuận. Chủ nhật, ngày  25 tháng 6 năm 1950, quân đội nhân dân Triều Tiên (Bắc Hàn) có xe tăng và máy bay do Liên Xô  viện trợ, vượt qua vĩ tuyến 38, tấn công Nam Hàn. Với quân số áp đảo, trang bị tốt, huấn luyện thành thục chỉ trong vòng 3 ngày quân Cộng sản Bắc Triều Tiên chiếm được  Seoul, thủ đô Nam Hàn.
Tổng thống HK  Harry Truman xin Liên Hiệp quốc chấp thuận can thiệp giúp Nam Triều Tiên.
Tham gia bên cạnh lực lượng Mỹ còn có binh sĩ từ 15 quốc gia thành viên khác của Liên Hiệp quốc: Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Anh, Pháp, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hy Lạp, Hà Lan, Ethiopia, Colombia, Phi Luật Tân, Bỉ, và Lục Xâm Bảo.
Lực lượng Liên Hiệp Quốc do Douglas MacArthur , thống tướng Mỹ chỉ huy đẩy lui quân Bắc Triều Tiên, vượt biên giới, chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19 tháng10 năm1950.
Cùng ngày ấy  Trung Cộng gởi “Chí nguyện quân” vượt sông Áp Lục  tiến vào Triều Tiên giúp quân Bắc Triều Tiên.
Cuộc chiến dằng co suốt 2 năm đến 27 tháng 7 năm 1953 hai bên ký kết hiệp ước đình chiến.
(Chiến tranh Triều Tiên do chế độ Cộng sảnBắc Triều Tiên gây ra, vậy mà Cộng sảnViệt Nam lại vu cáo do Mỹ xâm lược. Trong quyển sách có tựa ““ Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” do Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội xuất bản năm 2009 có đoạn: “…Bước vào những năm 1950, khi bắt đầu công cuộc xây dựng lại hòng đưa nước Trung Hoa nhanh chóng trở thành cường quốc trên thế giới, những người lãnh đạo Trung Quốc phải đối phó với cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Triều Tiên ở phía bắc” )
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo muốn sử dụng vũ lực đánh Việt Nam Cộng Hòa
Ngày 3.tháng 7 năm 1954  trong thời gian nghỉ họp ở Geneve, lãnh tụ Trung quốc Châu Ân Lai mời ông Hồ chí Minh và ông Võ nguyên Giáp qua Liễu Châu thuộc Tỉnh Quảng Tây hội họp. Tại cuộc họp Võ Nguyên Giáp nói muốn để lại ở miền Nam từ 5.000 đến khoảng 10,000 cán bộ, chôn giấu vũ khí  để chờ thời cơ đánh miền Nam.
Ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, Hồ Chí Minh đã gọi Hoa Kỳ là đế quốc. Ông tuyên bố: “…chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á”.
Chỉ sau khi ký hiệp định 2 ngày, ngày 22 tháng7năm 1954 Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ”, và khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”.
(Bây giờ thì chúng ta có thể hiểu lý do tại sao Hồ Chí Minh “biết trước” được Hoa Kỳ sẽ “xâm lăng” miền Nam: Đó là vì ông đã có ý định “giải phóng miền Nam” từ khi chưa đặt bút ký vào bản hiệp định Geneve chia đôi đất nước năm 1954 (ông đã cho chôn giấu vũ khí, để lại cán bộ ở miền Nam).
Để thực hiện điều ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh  và các đồng chí của ông đã làm những gì?
Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tiến hành xâm lược Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 2 năm 1959.
Mùa thu năm 1955 -1956, ở Bến Tre và Sài Gòn, đồng chí Lê Duẩn, khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đã dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Đề cương vạch rõ: “Ngày 20-7-1956 đã không có tổng tuyển cử như Hiệp định Giơnevơ quy định. Nhân dân ta ở miền Nam đang rên xiết dưới ách áp bức, bóc lột, tù đày, chém giết man rợ, đất nước bị chia cắt và bị chiến tranh của Mỹ – Diệm hăm dọa. Tình hình đó buộc nhân dân phải vùng dậy đập tan chế độ Mỹ – Diệm để tự cứu mình…Muốn chống Mỹ – Diệm, ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác”.
Sách sử 1954-1975 của nhà nước Cộng sản Việt Nam ghi :
“Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959) khẳng định con đường cách mạng bạo lực, chuyển cách mạng miền Nam tiến lên đấu tranh vũ trang”.
 
“Phong trào từ chỗ lẻ tẻ ở từng địa phương như cuộc nổi dậy ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) tháng 2/1959, Trà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8/1959, lan rộng khắp miền Nam thành cao trào cách mạng.”
“Tại Bến Tre, ngày 17/1/1960, “Đồng khởi” nổ ra ở huyện Mỏ Cày (Bến Tre), sau đó nhanh chóng lan nhanh toàn tỉnh Bến Tre, phá vỡ từng mảng lớn chính quyền của địch.”
Tháng 5, 1959, Công sản Việt Nam thiết lập đường mòn dọc theo dãy Trường Sơn đưa súng đạn và lực lương chiến đấu vào miền Nam.
“Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhận định cần thiết có một con đường để hành quân, vận chuyển khí tài cho chiến trường miền Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chủ trương mở đường Hồ Chí Minh trên bộ dọc theo dãy Trường Sơn. Ngày 19/5/1959, con đường ấy bắt đầu được mở ra.” (Trích bài báo “Tướng Giáp và đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử “)
Tháng 7 năm 1959, Cộng sản Việt Nam lập đường mòn trên biển, mở luồng mở bến cho những con tàu không số chở súng, đạn, thuốc nổ từ Ðồ Sơn, Hải Phòng vào Vũng Rô, Phú Yên, Trung Bộ, Gành Hào, Cà Mau.
Đại hội lần thứ III của đảng Lao động (đảng CSVN) tại Hà Nội từ ngày 5tháng9 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960, một lần nữa xác quyết kế hoạch “giải phóng” miền Nam bằng võ lực. Để tiến hành kế hoạch nầy, ngày 12 tháng 12 năm 1960, tại Hà Nội đảng Lao động thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGP). Ngày 20 tháng 12 năm 1960, đảng tổ chức ra mắt MTDTGP tại chiến khu Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh), Nam Việt Nam và đặt MTDTGP dưới sự chỉ huy của Trung ương cục Miền Nam (TƯCMN), cơ quan đại diện ban Chấp hành Trung ương đảng tại miền Nam.
Một loạt các sự kiện, biến cố kể trên cho thấy nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng Cộng sản lãnh đạo đã chủ trương xâm chiếm  nước Việt Nam Cộng Hòa ngay từ trước khi  ký hiệp định chia đôi đất nước và sau đó đã tiến đánh miền Nam trước khi Hoa Kỳ can thiệp.
Liên Xô, Trung Quốc viện trợ  trang bị vũ khí cho CSVN (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa)
Từ cuối năm 1949 , từng đoàn cố vấn Trung cộng  vào miền Bắc mang theo viện trợ quân sự gồm vũ khí quân trang quân dụng để trang bị mới hoàn toàn cho 6 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo binh.
Giai đoạn 1955-1960: Tổng số 49,585 tấn gồm : 4,105 tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô viện trợ 29,996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19,589 tấn.
(Theo Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng thuộc Viện Lịch Sử Quân Sự Cộng Sản Việt Nam trình bày trong hội thảo tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2006).
Thuyết domino và chủ trương ngăn chận sự bành trướng Cộng sản của Hoa Kỳ
Đứng trước hiểm họa ấy, thuyết Domino hình thành  tại Hoa Kỳ, theo đó nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ “bị đe dọa”. (chiến tranh VN wiki).
Ở Á châu, Trung Hoa đã rơi vào tay Cộng sản, nếu Nam Hàn, Nam Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo Lào, Cam Bốt, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương… như những con cờ domino, một con cờ ngả kéo theo những con cờ kế tiếp theo dây chuyền.
Để chống lại Cộng sản, Hoa Kỳ khởi xướng thành lập  nhiều tổ chức quân sự liên quốc gia như (NATO, CENTO, SEATO), các tổ chức và hiệp ước phòng thủ song phương và khu vực.
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization viết tắt là  SEATO) còn gọi là Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á được thành lập căn cứ theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á hay Hiệp ước Manila được ký vào tháng 9 năm 1954. Thể chế chính thức của SEATO được thiết lập vào ngày 19 tháng 2 năm 1955 tại Bangkok, Thái Lan, trụ sở cũng đặt tại Bangkok.  Có 8 quốc gia thành viên là Thái Lan,  Phi Luật Tân, Anh Quốc, Hoa Kỳ, Tân Tây Lan, Pakistan (bao gồm Đông Pakistan, nay là Bangladesh), Pháp , Úc.
Việt Nam Cộng hòa, Cam Bốt và Lào do quy định trong Hiệp định Genève nên không gia nhập, tuy vậy  3 nước này vẫn được tổ chức đặt dưới sự bảo vệ về quân sự.  Các quốc gia Hoa Kỳ, Úc, Thái Lan, Tân Tây Lan đã gởi quân đến miền Nam Việt Nam giúp chống lại Cộng sản. Đại Hàn tuy không ở trong SEATO nhưng cũng gởi quân giúp.
Thời điểm Hoa Kỳ tham chiến.
Như trên chúng ta thấy Cộng sản Việt Nam (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) bày tỏ quyết tâm xâm chiếm miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ năm 1954. Và đã chính thức sử dụng lực lượng vũ trang tiến hành xâm lược ( thành lập MTDTGPMN năm 1960).
Trong khi ấy, theo Wikipedia,  “Người Mỹ thường quan niệm “Chiến tranh Việt Nam” được tính từ khi khi họ trực tiếp tham chiến trên bộ đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng (từ 1965 (nhiều nguồn cho là 1964  đến 1975).
Lấy mốc thời gian nào, 1964 hay 1965, cũng là sau khi quân Cộng sản miền Bắc tiến đánh miền Nam .
Điều này cho thấy Hoa Kỳ  chỉ muốn ngăn  không cho Cộng sản chiếm Việt Nam Cộng Hòa.
Mục đích của sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Trong Kế hoạch hành động đối với Việt Nam viết vào ngày 24 tháng 5 năm 1965, trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Mỹ John McNaughton đã lên danh sách những mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến:
– 70% – Để tránh một sự thất bại đáng xấu hổ của Mỹ (đối với uy tín của chúng ta là kẻ bảo vệ)
– 20% – Để bảo vệ [miền Nam Việt Nam] (và vùng lân cận) khỏi tay Trung Quốc
– 10% – Để cho người dân Nam Việt Nam có cuộc sống tốt đẹp hơn (wiki)
Kissinger khi gặp Chu Ân Lai ở Bắc Kinh ngày 22 tháng 6, 1972: “Chúng tôi không nhằm tiêu diệt Hà Nội và ngay cả truyện thắng Hà Nội, chúng tôi cũng không nghĩ đến. Nếu có thể sống với một chính phủ cộng sản ở Trung Quốc, thì chúng tôi cũng có thể chấp nhận một chính phủ cộng sản ở Đông Dương”. (Trích tài liệu giải mật của Mỹ công bố ngày 25/07/2006)
Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc chiến thế nào?
Hoa Kỳ rất kiềm chế, không để chiến tranh vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Hoa Kỳ chủ trương giới hạn cuộc chiến trong lãnh thổ miền Nam.
 
“Bộ TTM Hoa Kỳ cùng đô đốc Sharp và đại tướng Westmoreland, đều có kế hoạch đánh ra vùng bắc khu phi quân sự, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, đánh phá các căn cứ ở Lào, Cam Bốt, và oanh tạc các mục tiêu quan trọng chung quanh Hà Nội, Hải Phòng. Các kế hoạch trên đều không được tổng trưởng quốc phòng McNamara và tổng thống Johnson (1967) chấp thuận”.
Ngày 6 tháng 4 năm 1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lênh quân đội Mỹ tại VN và Ðô đốc Sharp cựu Tư lệnh Mỹ tại Thái bình dương công bố bản phúc trình 347 trang về cuộc chiến Việt Nam trong 4 năm chỉ huy. Các Tướng nhấn mạnh sự bó tay của Bộ tư lệnh Mỹ trước chính sách chiến tranh hạn chế của TT Johnson.
“…Cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam…” (Tướng Westmoreland)
Hoa Kỳ không muốn Việt Nam Cộng Hòa đánh ra miền Bắc
Nếu Hoa Kỳ là đế quốc, họ sẽ không giới hạn cuộc chiến trong lãnh thổ miền Nam, mà sẽ chủ động đánh ra Bắc hoặc sẽ khuyến khích quân đội Việt Nam Cộng hòa làm điều ấy. Nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại:
…Nhiều lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa vẫn nói rằng họ có tham vọng Bắc tiến để thống nhất Việt Nam. Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch Bắc tiến, tiêu diệt nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thống nhất Việt Nam. Ngày 14 tháng 7 năm 1964, người đứng đầu chính phủ là tướng Nguyễn Khánh công khai tuyên bố sẵn sàng Bắc tiến. Hai ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng khẳng định Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sẵn sàng. Nhưng kế hoạch này đã bị Washington từ chối ủng hộ nên nó không bao giờ trở thành sự thật, một phần bởi Hoa Kỳ lo ngại sẽ lôi kéo Trung Quốc vào vòng chiến, châm ngòi cho một cuộc chiến tranh quy mô trên toàn châu Á.  (“Chiến tranh VN”- Wikipedia)
Chuyện Việt Nam Cộng Hòa  thực tâm muốn đánh ra Bắc là đáng ngờ; tuy nhiên, thái độ của Hoa Kỳ  cho thấy nước này  không muốn việc ấy xảy ra.
Điều ấy chứng minh Hoa Kỳ  không hề muốn xâm lược Việt Nam.
Việc gởi quân Mỹ tham chiến là chẳng đặng đừng
Tướng Taylor (từ tháng7năm1964 trực tiếp làm đại sứ ở Sài Gòn) viết lại: “Chúng ta thấy rằng nhịp độ phát triển các lực lượng mặt đất của chúng ta rõ ràng chưa đủ so với sự phát triển của Việt Cộng. Kết luận đó dẫn chúng ta đến một quyết định rất khó khăn, phải thảo luận lâu là: phải lấp lỗ hổng về quân số ở Nam Việt Nam bằng cách đưa lực lượng Mỹ vào. Tôi có thể đảm bảo với các bạn rằng chẳng có ai thích thú gì khi đề ra quyết định đó. Là một trong những cố vấn của Tổng thống, tôi đã miễn cưỡng nhiều nhất khi tham gia đưa ra đề nghị này, và tôi chắc rằng Tổng thống đã rất lấy làm tiếc khi phải đồng ý với quyết định đó” (M. Taylor. Responsibility and Response. Đã dẫn, tr.26).
Hoa Kỳ không trang bị vũ khí tối tân cho quân Việt Nam Cộng Hòa.
Tết Mậu Thân 1968 khi quân Cộng sản tấn công khắp 42  tỉnh thành Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một số binh chủng thiện chiến  miền Nam  được Hoa kỳ trang bị AR15, XM 16 là súng tương đương AK47 của quân Cộng sảnViệt Nam. Đa số binh sĩ miền Nam  còn sử dụng Carbin M1 (bắn từng phát một) và M2(có thể bắn liên thanh). Sau cuộc tổng tấn công này, quân Việt Nam Cộng Hòa  mới được trang bị đầy đủ R15 và M16.
Theo lời tướng Cao Văn Viên – tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc chiến tranhViệt Nam, Hoa Kỳ không viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa  đủ hỏa lực có thể tự vệ được. Năm 1972 nếu không có yểm trợ của B-52 , miền nam Việt Nam chưa chắc đã giữ được Quảng trị, Kontum, Bình Long. Hoa Kỳ không bao giờ muốn cho Việt Nam Cộng Hòa  mạnh có thể vì sợ miền Nam đánh ra Bắc. Họ chỉ muốn miền Nam yếu hơn Bắc Việt và cần phải yểm trợ bằng B-52 để tạo thế cân bằng.
Tại sao đánh sang Cam bốt, hạ Lào, oanh tạc miền Bắc?
Như trên đã viết, Hoa Kỳ không chủ trương mở rộng chiến tranh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, vậy tại sao lại dội bom Hà Nội, Hải Phòng; tại sao có cuộc hành quân của quân đội Việt Nam Cộng Hòa  và Hoa Kỳ sang Cam Bốt cuối tháng 4 năm 1970?  Tại sao có cuộc hành quân qua hạ Lào tháng 2 năm 1971?
Trong tác phẩm “No More Vietnam” nơi trang 81, Nixon chỉ trích kế hoạch chiến tranh giới hạn sai lầm của Johnson – McNamara những năm 1965, 1966, 1967 chỉ oanh tạc giới hạn miền Bắc và đánh hao mòn lực lượng địch ở miền Nam mà không cho đánh qua hậu cần địch bên kia biên giới Miên, Lào. Nixon nói đáng lý phải đưa một lực lượng lớn đánh lên trên hoặc dưới vĩ tuyến 17 rồi tiến về phía Tây Lào tới sông Cửu Long để ngăn chận địch. Các cuộc oanh tạc của Johnson có mục đích chính trị nhiều hơn như nâng cao tinh thần Việt Nam Cộng Hòa  và cho Bắc Việt thấy sự thiệt hại để ngồi vào bàn hội nghị, đó là điều ngây thơ. Nixon nhận định chiến tranh leo thang của Johnson-Mcnamara để dụ cho địch vào bản hội nghị là sai lầm; không thể mơn trớn Cộng sản từ bỏ cuộc chiến mà phải buộc họ từ bỏ nó.
Hoa Kỳ oanh tạc có giới hạn ở miền Bắc
Tuyên bố của một sĩ quan Hoa kỳ rằng sẽ biến Hà Nội trở về thời đại đồ đá chỉ là hù dọa; trên thực tế, Hoa Kỳ đã đặt ra giới hạn cho cho các phi công.
Trong bài viết có tựa “TRUTH ABOUT BOMBING OVER NORTH VN, – U.S. PILOTS were forbidden to bomb” ký giả Bud Landry ghi nhận sự giới hạn của các phi vụ oanh tạc của Hoa Kỳ ở miền Bắc:
“Phi công Hoa Kỳ không được oanh tạc những dàn SAM Liên Sô đang thiết lập, nhưng được đánh trả các hỏa tiễn địch phóng lên truy kích phi cơ bạn.
 
Phi công Hoa Kỳ  không được tiêu diệt phi cơ chiến đấu đối phương đang đậu dưới đất, nhưng được phản kích các phi cơ địch bay lên nghênh chiến.
 
Phi công Hoa Kỳ  không được bắn phá xe hàng chở chiến cụ địch đang đậu xa trục lộ chánh 200 yards, nhưng được đánh phá xe chiến cụ đang trên trục lộ.
 
Phi công Hoa Kỳ không được tác xạ trện các con tàu chở chiến cụ hướng tới các hải cảng VN, cho dù biết đó là tàu chở chiến cụ nhằm chống phá các lực lượng Hoa Kỳ…  (Bud Landry: “ Sự thật về không tập miền Bắc VN”).
Ngoài viện trợ vũ khí, quân trang quân dụng, Hoa kỳ còn viện trợ phát triển cho Việt NamCộng Hòa.
Viện trợ kinh tế cho miền Nam
Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa rất lớn, đạt hơn 10 tỷ USD (thời giá thập niên 1960, tương đương 70-80 tỷ USD theo thời giá 2015). Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ví dụ, Ấn Độ trong 20 năm (1950 – 1970) được Hoa Kỳ viện trợ 9,3 tỷ USD; Philippines trong 22 năm được viện trợ gần 2 tỷ USD (1945 – 1967); Thái Lan nhận được gần 1,2 tỷ USD, Indonesia nhận được gần 1 tỷ USD. Ở châu Phi, tính trong 25 năm (1946 – 1970), tổng số viện trợ Hoa Kỳ cho tất cả các nước mới đạt 4,9 tỷ USD… (Kinh tế Việt Nam Cộng hòa Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Viện trợ kỹ thuật
Giai đoạn 1965-1969, nhiều cơ chế, chính sách kinh tế của Việt Nam Cộng hòa là do Phái bộ viện trợ Mỹ (USAID-VM) thiết kế. Thí dụ, chương trình Người cày có ruộng mà chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã tiến hành do đoàn cố vấn Mỹ đấu thầu để xin hỗ trợ tài chính, thiết kế nội dung và lộ trình sau khi trúng thầu.
Nhiều dự án kinh tế với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Mỹ đã có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng lực sản xuất nông-lâm-ngư. (Kinh tế Việt Nam Cộng hòa Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Viện trợ xã hội
Gần 20 năm hoạt động, cơ quan Viện Trợ Hoa kỳ USAID đã giúp Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phương tiện và kỹ thuật để phát triển giáo dục và đào tạo. Năm 1973 tỷ lệ biết đọc, biết viết là 70%, khá cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó… (Kinh tế Việt Nam Cộng hòa Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Trong bài viết “Hai Mươi Mốt Năm Viện Trợ Mỹ Ở Việt Nam” tác giả Đăng Phong có đoạn sau: “Quy chế cải cách điền địa của Diệm vẫn cho phép địa chủ được sở hữu tới 100ha. Ý đồ của Diệm là: phải cứu lấy giai cấp địa chủ. Ý đồ của Mỹ là: phải giành lấy địa vị ở nông thôn. nông dân là sức mạnh quyết định ở nông thôn… phải biến nông dân thành một tầng lớp khá giả, có điều sản, có cơ nghiệp, có nguồn sống. Đó là cái đích mà Mỹ nhằm trong chương trình cải cách điền địa.
Ông Đăng Phong cũng đã viết “Mỹ cũng đề ra và giúp Sài Gòn thực hiện hàng loạt dự án xây dựng: Mở mang các nhà máy điện và hệ thống cung cấp nước, xây dựng thêm đường sá, bến cảng, sân bay, xây các nhà máy  dệt, làm giầy, vải, đồ hộp, bánh mỳ, thực phẩm, xây hàng loạt khách sạn và cư xá mới, mở rộng các chương trình và các cơ sở dạy tiếng Anh v.v…”
Hãy khoan xét đến chuyện “Diệm muốn cứu lấy giai cấp địa chủ” chuyện Mỹ muốn “biến nông dân thành một tầng lớp khá giả, có điều sản, có cơ nghiệp, có nguồn sống” (trong một đất nước 17 triệu dân(Dân số miền Nam 1966), mà có tới 12 triệu nông dân tác giả đã vô tình cho thấy Mỹ không phải là đế quốc.
Tác giả Đăng Phong viết tiếp: “Tháng 12-1950, theo sự sắp đặt của Mỹ, 5 chính phủ gồm Mỹ, Pháp, bù nhìn Việt, Miên, Lào đã ký “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương”,
Khoản 1, điều III của “Hiệp nghị phòng thủ chung” quy định: “Mỗi chính phủ được cấp viện trợ có nhiệm vụ chỉ sử dụng số viện trợ đó vào mục đích phòng thủ Đông Dương”.
Đến tháng 9-1951, Mỹ ký thẳng một hiệp ước tay đôi với chính phủ Bảo Đại, gọi là “Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt Mỹ”,
Điều IV quy định: “Mỹ đưa vào Việt Nam một “Phái đoàn kinh tế và kỹ thuật đặc biệt”  được hưởng những quyền ưu đãi bất khả xâm phạm… hưởng mọi dễ dàng cần thiết để quan sát và kiểm tra việc thực hiện hiệp ước, nhất là việc sử dụng viện trợ đúng theo tinh thần của văn bản hiệp ước”.
Từ năm 1950 đến 1954, Mỹ đã viện trợ cho Chính phủ Bảo Đại 23 triệu đôla bằng hàng hóa và khoảng 36 triệu đôla bằng tiền Việt Nam
Tháng 5-1950 Robert Blum dẫn đầu phái đoàn viện trợ Mỹ đến Sài Gòn. Đến tháng 9-1950, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG được thành lập ở Nam Việt Nam.
Nhưng khác với chế độ thực dân Pháp, Mỹ không có một cơ quan nào trực tiếp cai trị ở đây. Không có toàn quyền. Không có công sứ và khâm sứ. Nam Việt Nam vẫn có danh nghĩa một quốc gia có chủ quyền. Mỹ chỉ đặt đại sứ, các phái bộ ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội, quân sự. Các nhân viên Mỹ thuộc các cơ quan này làm việc bên cạnh người Việt Nam với tư cách cố vấn.
Trong thời kỳ 1955-1960, số lượng các cố vấn chưa nhiều. Ngoài số cố vấn cao cấp như đã nói, có một số cố vấn cho các ngành, tổng cộng khoảng trên một ngàn người.
Ngày 16-9-1960, trong báo gửi về Washington, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn E.Dubrow viết: “Nếu những tiến bộ hiên nay của cộng sản cứ tiếp diễn, thì có nghĩa là sẽ mất Việt Nam tự do vào tay cộng sản” (The Pentagon’ Papers, đã dẫn, P.115).
Kennedy lên làm Tổng thống từ tháng 1 năm 1960. Kennedy nói: “Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới mà chính quyền phải đương đầu với một chính cố gắng phát triển rất tốt của cộng sản nhằm lật đổ một chính phủ thân phương Tây.” (Hai Mươi Mốt Năm Viện Trợ Mỹ Ở Việt Nam- Tác giả: Đăng Phong)
 
 “…Ngô Đình Diệm nhanh chóng thi hành các chính sách về chính trị, xã hội. Chính phủ Hoa Kỳ đã viện trợ lớn cho Việt Nam Cộng hòa thực hiện những chương trình cải cách và phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực như xóa mù chữ, tái định cư, cải cách điền địa, phát triển nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, cải cách hành chính, xây dựng hệ thống luật pháp… Việt Nam Cộng hoà đã đạt được một số thành quả quan trọng: kinh tế phục hồi và phát triển, hệ thống y tế và giáo dục các cấp được xây dựng, văn hoá phát triển, đời sống dân chúng được cải thiện. Trong chiến dịch Cải cách điền địa, Ngô Đình Diệm tránh dùng các biện pháp mà ông coi là cướp đoạt như phong trào Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, ông chỉ thị cho các quan chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn chứ không tịch thu. Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi trong kỳ hạn 6 năm để mua.” (Tài liệu “Chiến tranh Việt nam”của Wikipedia)
Hoa Kỳ thúc đẩy chính phủ Đệ nhất Cộng Hòa  mở rộng dân chủ.
Năm 1956, khi thủ tướng Ngô Đình Diệm  từ chối  đòi hỏi mở rộng thành phần chính phủ của các giáo phái, đối lập, Hoa Kỳ đã làm áp lực với ông, có lúc muốn đưa ngoại trường Trần Văn Đổ lên thay ông.
Sau vụ đảo chánh hụt 11 tháng 11 năm 1960, và vụ bỏ bom dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962, đại sứ Mỹ Durbrow gây áp lực đòi Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ, nới rộng tự do dân chủ. Nhưng ông Diệm đã từ chối.
Việc này cho thấy 2 điều: Thứ nhất Hoa Kỳ không chỉ quan tâm đánh bại quân Cộng sản mà còn muốn xây dựng dân chủ ở miền Nam; thứ hai, mặc dù nhận viện trợ của Hoa kỳ, ông Ngô Đình Diệm chứng tỏ sự độc lập của Việt Nam Cộng Hòa. (Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, việc hạn chế tự do dân chủ  không những là điều nên làm mà còn cần thiết. Việc Cộng sản lợi dụng tự do dân chủ, và sự rối loạn xã hội trong nền đệ nhị Cộng hòa  là minh chứng  cho điều này)
Đệ nhị Cộng hòa dân chủ hơn Đệ nhất Cộng hòa.
Có dư luận cho rằng Hoa Kỳ đã làm áp lực để các tướng lãnh giải tán Ấp chiến lược vì Hoa Kỳ cho rằng nó vi phạm tự do dân chủ.
Cùng với Phật giáo, sinh viên học sinh, Hoa Kỳ đã gây áp lực để các tướng lãnh lãnh đạo đất nước tổ chức bầu cử , lập ra chính phủ dân sự.
Trong nền Cộng hòa thứ hai, miền Nam thực sự có dân chủ: nhiều nhóm đối lập hiện diện trong Quốc hội lưỡng viện, nhiều tờ báo đả kích chính phủ, nhiều  tổ chức xã hội dân sự hoạt động đòi lật đổ chính phủ; sinh viên, học sinh, Phật giáo, ký giả nhiều lần xuống đường biểu tình chống chính phủ.
Kết luận:
Trước khi có 2 quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đã có xung đột giữa các đảng phái Quốc gia  và đảng Cộng sản. Cộng sản đã giết nhiều lãnh tụ của các đảng phái Quốc gia. Cộng sản cũng đã lên tiếng cáo buộc các đảng phái Quốc gia giết người của họ.
Khi Hoa Kỳ can dự, Việt Nam đã bị chia đôi, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa- quốc gia Cộng sản ở một nửa phía Bắc đã tiến đánh Việt Nam Cộng Hòa -quốc gia không Cộng sản ở một nửa phía Nam.  Hoa Kỳ chỉ thực thi cam kết của mình trong Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, chống lại sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản, bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa..
Hoa Kỳ không khai thác đất đai, tài nguyên của Việt Nam, không áp bức, bóc lột dân ta. Các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều có thực quyền trong việc điều hành đất nước (ngoại trừ chiến lược đương đầu với quân Cộng sản trên chiến trường Hoa Kỳ giành thế chủ động)
Ngoài viện trợ quân sự, Hoa Kỳ viện trợ phát triển miền Nam.
Nếu là đế quốc, Hoa Kỳ đã không đóng góp nhiều đến thế để phát triển miền Nam.
Nếu là đế quốc, Hoa Kỳ đã không giúp xây dựng các chế độ tự do dân chủ ở miền Nam.
Dưới cả hai chế độ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, dân miền Nam tương đối được tự do: người dân đi bầu chọn người lãnh đạo, chính phủ tam quyền phân lập, có báo chí chống chính phủ , có dân biểu, nghị sĩ đối lập trong quốc hội…kinh tế tương đối phát triển. Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh được như vậy là rất đáng kể.
Bảo rằng Hoa Kỳ là đế quốc xâm lược Việt Nam là vu cáo, sai sự thật ở 2 điểm:
Thứ nhất, Việt Nam không phải là một quốc gia thống nhất dưới sự cai trị của đảng Cộng sản. Hoa Kỳ chỉ giúp miền Nam chống lại sự xâm chiếm của miền Bắc.
Thứ hai, Hoa Kỳ không những không khai thác thuộc địa mà còn giúp xây dựng phát triển mọi mặt ở miền Nam.
Khi Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho Quốc gia Việt Nam ( tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa), ông Hồ Chí Minh đã gọi Hoa Kỳ là đế quốc. ( Dĩ nhiên sau đó Hoa Kỳ viện trợ vũ khí rồi đổ quân vào miền Nam thì càng bị cho là đế quốc ) Nếu  một quốc gia viện trợ cho quốc gia khác là đế quốc thì Liên Xô và Trung Quốc cũng là đế quốc và hiện nay nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang bị cai trị bởi nhiều đế quốc. Nếu một nước mang quân đến nước khác là đế quốc, thì Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cũng là đế quốc xâm lược Việt Nam vì trên thực tế- trái với lời ông Hồ Chí Minh nói, cả 3 nước ấy đều gởi binh lính đến giúp miền Bắc chống Mỹ và đều có lính hy sinh ở Việt Nam.
Nhận định của tác giả J. Leroy
Trong cuốn sách có tên “Đối nghịch” của tác giả J. Leroy – một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng Cộng sản Pháp đã đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng Cộng sản và các đảng phái khác và dẫn chứng về cuộc chiến Việt nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 187 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung  trích như sau: “Một cuộc chiến tại Việt Nam là điều mà Hoa Kỳ không mong muốn, họ đến với Việt Nam khác hẳn lũ người độc ác của chúng ta trước đây. Nhưng họ phải đổ quân vào vì họ không muốn Liên Xô bành trướng tư tưởng của Mác, Lê Nin…” (Ý kiến c ủa Lý Quang Diệu trong bài “Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ”)
Hoa Kỳ được gì sau thất bại trong cuộc chiến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa?  
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau hơn 20 năm chiến đấu với sự trợ giúp của Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh khác, Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng đã sụp đổ. Cộng sản đã chiến thắng. Hậu quả sự bại trận của quân dân miền Nam đúng như lời phát biểu của ông Ronald Wilson Reagan (tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989): “Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau.”
Còn về phía Hoa Kỳ, họ được gì sau sự thất bại ở Việt Nam?
Phản bác bài viết “Tranh luận về tên gọi cuộc chiến 1955-1975” của GS Lê Xuân Khoa, ông Nguyễn Hòa trong bài “Gọi tên cuộc chiến  hay xuyên tạc sự thật?” lập luận: “N ếu các điều khoản của Hiệp định Geneva (1954) được thực hiện nghiêm túc thì không chỉ người Pháp, mà chính người Mỹ cũng không xơ múi được gì.”
Vậy xin hỏi ông người Mỹ đã “xơ múi” được gì ở Việt Nam? Xin ông Nguyễn Hòa trả lời cụ thể.
Về phía những người yêu chuộng tự do dân chủ, có phải sự hy sinh của hơn 54.000 binh sĩ  Hoa Kỳ ở Việt Nam là vô nghĩa? Có phải  số tiền viện trợ lớn dành cho Việt Nam Cộng Hòa mà Hoa Kỳ bỏ ra là vô ích?
Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu đã nói lên quan điểm của ông: “Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì  tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm Bắc hay Nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.”
Một vài hình ảnh lính Mỹ vui đùa cùng trẻ em Việt Nam, giúp dân, bảo vệ dân tránh bom đạn.
Đảng Cộng sảnViệt Nam và giới truyền thông phản chiến chỉ đưa tin về thiệt hại của quân Mỹ khi chạm súng với quân Cộng sản Việt Nam, giết dân Việt (như ở Mỹ Lai), chán nản, bất mãn khi được đưa sang Việt Nam chiến đấu… Họ dựng lên hình ảnh lính Mỹ khát máu ăn thịt người, phi nhân bắn giết người già trẻ em, hiếp phụ nữ. ..Những hình ảnh dưới đây cho thấy lính Mỹ không phải là ác quỷ; họ là người và họ muốn giúp đỡ.
Chào hỏi dân chúng theo tập quán địa phương:
Vui đùa với trẻ em:
Chăm sóc trẻ em:

Đà Nẵng 1967 – Một lính TQLC Mỹ đang hướng dẫn cách tắm một đứa trẻ với xà phòng, dầu gội đầu cho các bà mẹ VN chán chẳng muốn nghe (có lẽ các mẹ vẫn còn quen tắm cho trẻ con theo kiểu truyền thống). Ảnh bởi Philip Jones Griffiths/Magnum Photos

Bảo vệ trẻ em khỏi bom đạn chiến tranh:

Giúp trẻ em, người già lánh nạn chiến tranh
Đảng& nhà nước Cộng sản Việt Nam và những người phản chiến  tuyên truyền Hoa Kỳ là đế quốc xâm lược Việt Nam, vu cáo chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là tay sai, bán nước.
Tại sao chúng ta-quân dân miền Nam lại đi chứng minh hộ cho Hoa Kỳ rằng họ không phải là đế quốc?
Vì: Trước hết, chúng ta có tư cách hơn ai hết để xác nhận hay phủ nhận Hoa Kỳ xâm lược miền Nam. Một thí dụ để đơn giản hóa vấn đề: Một người vào nhà mình khi mình có mặt trong nhà; người ấy bị hàng xóm hô lên là kẻ cướp thì chính mình chứ không phải hàng xóm xác nhận kẻ vào nhà có phải là kẻ cướp hay không (trên thực tế mình không bị mất bất cứ thứ gì, trái lại còn được kẻ ấy giúp đỡ thì kẻ ấy dứt khoát không phải là kẻ cướp).
Thứ đến, Hoa Kỳ không phải là đế quốc cũng có nghĩa chúng ta không phải là tai sai bán nước như Cộng sản Việt Nam vu cáo.
23.04.2018

Lảnh đạo mà ngu dốt xài bằng cấp gỉa như Bí thư tỉnh ủy cọng sản Hà Tỉnh lại cọng thêm tính tham lam là gây hại cho cả dân tộc và tàn phá cả quốc gia.
Ai cho phép thiết lập công ty gang thép Formosa hàng chục tỷ đô la tại Vủng Áng Hà Tỉnh Việt nam với công nghệ chạy bằng than lổi thời, vô cùng ô nhiểm độc hại mà thế giới đã dẹp bỏ 50 năm về trước ?
Ai cho phép ? Muốn phá Việt nam, giết dân Việt hay sao ? Phải điều tra đưa bọn này vô tù ngay để làm gương.

VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ

Tác gỉa : Trần Cư / siphuvietnam

1/ Hồ Chí Minh cũng bốc mùi như cá

Việt cọng đi tới đâu thì xã hội dơ dáy tới đó. Ðây là câu chuyện làm thương tâm lòng người gây hệ lụy lâu dài mà Việt nam cũng đang chịu đựng.
Câu chuyện truyền tụng từ thời Hồ Chí Minh khi ông ta muốn kiếm gái đẹp người miền Nam thì ông ra lệnh cho tư lệnh cọng sản miền Nam lúc đó là Nguyễn Văn Linh và Vỏ văn Kiệt săn tìm gái đẹp nhất ở miền Nam đem về Hà Nội nộp cho ông.

Sự việc trở nên trớ trêu khi mà Nguyễn Văn Linh kể lại rằng khi Vỏ văn Kiệt tìm ra gái đẹp rồi nhưng không thể mang ra Hà Nội nộp cho ông Hồ đang là chủ tịch đảng cọng sản kiêm chủ tịch nước Việt nam được, vì chiến tranh Việt nam lúc đó bận rộn. Thế là Vỏ Văn Kiệt mượn tạm “ gái đẹp của ông Hồ “ làm vợ và đẻ ra tên Nam nay là giám đốc . . .

Nhìn sự việc trên tuy đơn giản đối với đời thường và không hiếm xẩy ra trong xã hội. Nhưng ở đây ông Hồ là cấp lảnh đạo tối cao của cọng sản Việt nam. Ông tổ chức lối sống bản thân kiểu hành xử như vậy cho thấy sự ngạo mạn phi đạo đức, phi luân thường muốn làm gì thì làm không cần biết kỷ cương xã hội. Ðây là vết nhơ phơi bày làm cho luận điệu tâng bốc đạo đức ông Hồ Chí Minh sau này đã trở thành lạc điệu rác rến kịch cởm.

2/ Lảnh đạo tại các xứ dân chủ văn minh thì sao ?

Tại các xứ văn minh cấp lảnh đạo họ lập gia đình có ly di nhưng đâu ra đó tôn trọng quyền con người, nhất là quyền của phụ nử, quyền của người gìa và quyền của trẻ nhỏ.Tại các xứ văn minh các lảnh đạo tối cao quốc gia đều do dân bầu chọn xét về nhiều mặt, mà trong đó có sự chuẩn mực thẳng thắng đời sống gia đình, tư cách đạo đức của những người lảnh đạo là vô cùng quan trọng.

Nền báo chí tự do tư nhân luôn khơi sáng trước công luận tất cả đời tư, khả năng lảnh đạo và tư cách đạo đức của từng ứng cử viên cho cử tri thấy trước khi bầu chọn ai xứng đáng lảnh đạo xã hội.

3/ Hệ lụy Hồ Chí Minh tại Việt nam không khác với hệ lụy Saddam Hunsein tại Iraq

Ngày nay ở Việt nam đi đâu người ta cũng thấy hình tượng ông Hồ được dựng lên như để khêu gợi cái ác, cái dả man, của một nhân vật ít học mà lại chịu đánh thuê cho ngoại bang giết lại dân mình trong một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt củ đậu nấu đậu.

Sự tâng bốc lảnh tụ của các xứ độc tài thường giống nhau và cọng sản Việt nam cũng không ngoại lệ. Tại Iraq trước khi bị lật nhào thì đi đến đâu người ta cũng thấy toàn hình tượng của nhà độc tài Saddam Hunsein. Về sau khi Saddam chết rồi dân Iraq phải mất hàng tháng mới dọn dẹp thâu tóm xong hình tượng ông ta đem vứt xuống hố.

Sau này tại Việt nam cũng phải mất vài tháng mới dọn dẹp hết những hình tượng Hồ Chí Minh, những hình tượng độc tài tốn kém lảng phí tiền bạc của dân vô ích.
Hệ lụy của Hồ Chí Minh là ghê gớm thế mà đảng cọng sản Việt nam vẫn đang tiếp tục truyền đạt cái xấu của ông Hồ cho các thế hệ kế tiếp.

4/ Cọng sản biến Việt nam thành một vùng đất tham nhủng và dối trá

Noi gương dối trá của Hồ Chí Minh, Nguyễn Tấn Dủng cho em trai là Nguyễn Tiến Thắng làm kinh tài đi đêm với Ðài Loan và Trung quốc rước các nước này đến Việt nam để Dủng bàn chuyện bán nước Việt nam và ăn chia.
Sau một thời gian thì số tiền tham nhủng ăn chia lên tới hàng chục tỷ đô la. Nhóm Nguyễn Tấn Dủng đã liên lạc và cho đem rửa ở các đảo Nam Mỷ rồi sau đó chuyển về lại Việt nam dưới dạng FDI mua các công ty nhà nước Việt nam lời nhanh để biến thành những công ty riêng của gia đình cọng sản phe nhóm Dủng.

Nhóm Dủng hiện nay đang nắm trong tay nhiều chục tỷ đô la dưới dạng cổ phiếu máu tại những công ty tập đoàn hạng nhất Việt nam về hàng không, điên lực, ngân hàng, tài chánh, giao thông, dầu khí, thủy hải sản, v. v. rất dể để nội các mới của ông Nguyễn Xuân Phúc tịch thu lại trả về cho quốc gia.

5/ Trung quốc và Ðài Loan như khô hạn gặp mưa rào

Trung quốc và Ðài Loan mừng rở rối rít vì đẩy được công nghệ lạc hậu gây ô nhiểm nặng nề đến cho bọn ngu mà tham là cọng sản Việt nam.

Trung quốc và Ðài Loan như khô hạn gặp mưa rào đem hết lực lượng ba chục công ty đến đi đêm ăn chia trọn gói với nhóm Nguyễn Tấn Dủng để trúng thầu hầu hết 90% những công trình trọng điểm trên toàn quốc Việt nam.
Nhóm Nguyễn Tấn Dủng chóa mắt với miếng mồi nhử của Trung quốc Ðài Loan thông qua khối tiền tham ô ăn chia qúa lớn hàng chục tỷ đô la trong khi không biết rỏ khả năng các công ty Trung quốc Ðài Loan có đủ kinh nghiệm làm ăn an toàn hay không.

Nhóm Dủng vẫn ký bán, vẫn ký nghiệm thu . Nhóm Dủng chủ trương trấn áp bỏ tù những ai phê phán. Nhóm Dủng bỏ qua một bên mọi ngăn cản phản biện của mọi nguồn, Nhóm Dủng vẫn ngạo mạng cho trúng thầu nhanh để chia phần trăm to lớn bỏ túi riêng phe nhóm.

6/ Cọng sản Việt nam chiếm hạng nhất thế giới về cẩu thả và vô trách nhiệm

Số là năm 1981 tôi làm việc ở Saigon, thấy rằng lảnh đạo thông đồng với nhà thầu bên ngoài để xây dựng một công trình kỷ thuật. Khi xây dựng xong vận hành thử và yêu cầu tôi ký nghiệm thu.
Khổ nổi tôi có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm nên tôi không ký và tôi buộc họ phải trang bị đúng tiêu chuẩn kỷ thuật. Với trách nhiệm kỷ sư nghiệm thu công trình lúc đó, tôi giữ liêm sỉ của một khoa học gia không chóa mắt vì tiền mà làm bậy. Lúc sau tôi biết xã hôi đó hỏng hết tôi bỏ việc và vượt biên những năm sau đó.

Tôi kể ra câu chuyện để đối chiếu với tệ nạn hôm nay qua vấn đề xả thải Formosa Vủng Áng Hà Tỉnh. Ðúng là đại họa gây ra bởi nhóm Nguyễn Tấn Dủng toa rập với Tập đoàn thiếu kinh nghiệm kỷ thuật mà giỏi về móc ngoặc thuộc Trung quốc Ðài Loan là Formosa để làm bậy ký bậy buôn bán bậy gây đại họa cho dân Việt.

Ðài Loan Trung quốc biết rỏ con mồi nhóm Nguyễn Tấn Dủng thuộc loại điếc không sợ súng, là loại ở trong rừng mới ra tự phịa bằng cấp chứ không biết gì cả . Cứ đưa tiền là cái gì nhóm Dủng cũng ký cả, ký vô trách nhiệm dân chết mặc dân.

7/ Việt nam hôm nay tan tác thời hậu Nguyễn Tấn Dủng với nợ nần thê thảm cá chết và người cũng ngất ngư

Hậu qủa dối trá từ dây chuyền Hồ Chí Minh sống đời cư xử thiếu lương thiện, rồi truyền lại Nguyễn Tấn Dủng bắt chước làm chuyện tày Trời rước các công ty có thành tích xấu vào Việt nam ăn chia tàn phá đất nước gây hậu qủa nghiêm trọng cho đồng bào.

Người ta tin rằng sự việc chưa ngừng ở đây, vì đời này có vay thì có trả và giờ này không biết nhóm Nguyễn Tấn Dủng đã vào tù chưa, đã bị tịch thu tài sản chưa hay trốn đâu đó tại nước ngoài.

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA
Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

*

NHÓM NGUYỄN TẤN DỦNG TRONG VỤ RƯỚC CÔNG NGHỆ LUYỆN THÉP LỔI THỜI FORMOSA VÀO TÀN PHÁ VIỆT NAM LÀ AI ?

06/05/2016

Những bất cập trong triển khai dự án FORMOSA Hà Tĩnh

TS Nguyễn Thành Sơn

Chuyên gia tư vấn độc lập

Trong Lời mở đầu bài viết của TS Tô Văn Trường đăng ngày 3-5-2016 (xin xem ở đây), dựa trên những suy ngẫm của GS Nguyễn Huệ Chi – một đứa con Hà Tĩnh và nặng lòng với mảnh đất Hà Tĩnh, tuy không nắm sâu khoa học kỹ thuật nhưng lại có linh cảm của một trí thức có quá trình dấn thân vào thực tế và nhìn thấu bụng dạ con người – BVN đã bước đầu nêu lên nhận xét rằng, chính ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh (trước đó là Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hà Tĩnh), là người chủ chốt trong việc “hết lòng mai mối” cho tập đoàn Formosa Đài Loan có được chỗ đứng chân vững chãi tại Vũng Ấng bằng mọi giá, vượt qua bất kỳ trở lực hay yêu cầu quan trọng nào của đất nước, như an ninh quốc phòng… Nay, với bài viết rất rõ ràng, đầy ắp chứng cứ của TS Nguyễn Thành Sơn, một trong những chuyên gia hàng đầu về ngành khai khoáng, linh cảm trên của GS Nguyễn Huệ Chi đã được chứng thực hai năm rõ mười.

Nhưng không phải chỉ có thế. Bài viết chắc nịch của TS Nguyễn Thành Sơn còn làm cho người đọc thấy hiển lộ sự không bình thường đầy mờ ám của các quan chức Hà Tĩnh mà đứng đầu là ông Cự, trong việc chạy [vạy] hơn cả ngựa phi để một dự án đầy tai tiếng và có quy mô hơn chục tỷ đô từ Tập đoàn Formosa Đài Loan đi dích dắc đến ông Thủ tướng xong xuôi trót lọt chỉ vẻn vẹn mất 12 ngày. Không cần đếm xỉa đến những văn bản đươc thảo vội vàng, sai be bét về chính tả (điều tuyệt nhiên không được phép trong công văn hành chính, chứng tỏ người đứng đầu có tấm bằng Thạc sĩ dỏm đúng như dư luận đang tố cáo), hãy nói đến việc luồn lách nhằm bỏ qua hết mọi thủ tục điều tra về bất cứ phương diện nào, đặc biệt là về năng lực thực tế cũng như về uy tín hoạt động kinh doanh của phía chủ đầu tư, mà TS Sơn gọi là “vô trách nhiệm” và “trái thẩm quyền” của ông Võ Kim Cự, chúng ta bất giác rùng mình, vì chính những tệ nạn căn cốt nằm sâu trong phẩm chất một loại quan chức vô học và vô hạnh như thế, rất có thể là nguyên nhân số một làm cho biển miền Trung chúng ta hôm nay bị chết, ngành hải sản truyền thống bị thất thu, GDP chắc chắn sẽ còn tuột dốc và dân chúng sẽ lâm vào nạn đói trầm trọng. Ông Võ Kim Cự làm những việc lợi người hại nước đó để làm gì nếu không là chỉ nhắm vào lợi ích của gia đình con cái ông, ngoài ra thì phó mặc? Dựa trên những đặc quyền của một thể chế độc tài để ông tự tung tự tác, phải chăng chính ông và những người dung dưỡng cho ông đã tự tố cáo những ung nhọt đã trở thành ung thư của chế độ hôm nay?

Tất nhiên, bài viết của TS Nguyễn Thành Sơn còn hé lộ nhiều điều quan trọng. Chẳng hạn, về những người liên đới, ngoài ông Võ Kim Cự, chúng ta còn thấy có thêm tên ông Trần Đình Đàn vốn cũng là một Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh trước ông Võ Kim Cự vài khóa, về sau ra làm Chánh văn phòng Quốc hội; và ở cấp trung ương là ba ông Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng và Hoàng Trung Hải. Những người này, trong cương vị trọng yếu đương thời của họ, qua những văn bản mà họ đã ký, phải chịu trách nhiệm cá nhân đến đâu việc rước Formosa vào trấn ở Vũng Áng một cách sai quy chế và trái với luật đầu tư dành cho các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam? Thiết tưởng những ai đang cầm chịch đất nước trong những ngày này, nếu còn chút bản lĩnh và muốn lấy lại được chút nào lòng tin đang cạn kiệt của nhân dân cả nước, trong nghị trình giải quyết tổng thể sự cố tày trời “cá chết Vũng Áng” chắc chắn phải đặt ra nghiêm túc, hãy xem xét luôn các vấn đề mà giới trí thức chủ động đưa lên bàn cân cho các vị, một cách thật thấu đáo, công minh.

Bauxite Việt Nam

Chúng tôi đã từng chủ trì và/hoặc tham gia soạn thảo và/hoặc thực hiện các thủ tục trình các cơ quan nhà nước phê duyệt các Báo cáo đầu tư, PFS, FS, ĐTM, các Hồ sơ mời thầu v.v. của các dự án nhiệt điện chạy than của TKV có tổng mức đầu tư mỗi dự án khoảng 120÷600 triệu U$.

Qua nghiên cứu Báo cáo đầu tư của dự án Formosa (2008) có tổng mức đầu tư giai đoạn đầu lên tới 7,897 tỷ U$, chúng tôi thấy tiến độ chuẩn bị đầu tư (từ khảo sát tình hình đến cấp giấy phép) của dự án này nhanh đến khó tin.

Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy cần nêu ra dưới đây những bất cập có liên quan đến trình tự/thủ tục đầu tư cũng như chất lượng của dự án Formosa để các cơ quanhức năng và/hoặc có thẩm quyền của VN tham khảo, góp phần nhanh chóng điều tra kết luận về nguyên nhân của vụ cá chết ở ven bờ biển miền Trung theo yêu cầu của Thủ tướng:

Tóm tắt dự án

Chủ đầu tư dự án liên hợp thép-cảng Sơn Dương Hà Tĩnh (gọi tắt là Formosa) gồm 6 công ty: Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Nam Á, Công ty cổ phần hữu hạn sợi hóa học Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn dầu khí Formosa, Công ty cổ phần hữu hạn công nghiệp nặng Formosa, và Công ty trách nhiện hữu hạn Sunsco Holding Ltd.

Dự án Formosa Hà Tĩnh được chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (gồm 2 bước): Bước 1-1, đầu tư liên hợp luyện gang thép và cảng công suất 7,5 triệu tấn/năm; Bước 1-2, sẽ nâng công suất lên đạt và 15 tr.t/năm; Tổng mức đầu tư bước 1-1 (gồm tổ hợp gang-thép và cảng biển Sơn Dương) khoảng 7,897 tỷ đô la.

Giai đoạn 2: xây dựng tổ hợp nhà máy lọc dầu công suất 15 tr.tấn dầu thô/năm và 1,2 tr.tấn ethylene/năm;

Giai đoạn 3: Xây dựng cảng Sơn Dương thành cảng tổng hợp phục vụ trung chuyển hàng hóa trong khu vực (gồm cả Bắc Thái Lan và Nam Lào).

Địa điểm triển khai: Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tổng diện tích chiếm đất chỉ riêng giai đoạn 1 là 44.476.751 m2 (4.448 ha), bao gồm toàn bộ cảng biển sâu nhất khu vực miền Trung là Sơn Dương.

Như vậy, có thể thấy, Formosa là một “siêu dự án” được triển khai trên một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng của VN.

Thủ tục đầu tư đã được tiến hành theo kiểu đối phó

Nếu tính cả 3 giai đoạn, Formosa là một dự án rất lớn, có tổng mức đầu tư hàng chục tỷ đô la. Nhưng thời gian nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục, xin giấy phép rất ngắn. Điều này cho phép nghi ngờ chất lượng của dự án “chục tỷ đô” này. Cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Formosa, năm 2007, “sau nửa năm nghiên cứu khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam”, Formosa đã “Mời lãnh đạo tỉnh Hà Tính, đại diện văn phòng chính phủ Việt Nam, đại diện bộ công thương và bộ kế hoạch đầu tư Việt nam đến Đài Loan thăm và khảo sát, tìm hiểu các vấn đề…” “Báo cáo với thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với thủ tướng Hoàng Trung Hải về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với chánh văn phòng quốc hộ [hội] Trần Đình Đàm [Đàn] về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của ngài chánh văn phòng” (hết trích dẫn nguyên văn, kể cả sai ngữ pháp).

Sau đó, ngày 09/11/2007, Chủ tịch Công ty Sunsco Holding Ltd. (có trụ sở tại quần đảo Cayman, vùng Caribe – nằm giữa Cu Ba và Jamaica, là thiên đường của các công ty để rửa tiền và trốn thuế) và Chủ tịch Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng có trụ sở ở Đài Bắc, đã gửi “Thư quan tâm đầu tư” (thực ra chỉ là một mảnh giấy tiếng Anh, không có tên người ký, không có địa chỉ phát hành, không dấu, không logo, v.v.) gửi UBND Hà Tĩnh bày tỏ kế hoạch đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng tổ hợp nhà máy luyện thép với tổng công suất 15 triệu tấn/năm; đồng thời bày tỏ “hy vọng được trao đổi với các sở/ban ngành có liên quan của Hà Tĩnh về kế hoạch đầu tư, và được tổ chức gặp để báo cáo thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để kế hoạch nhận được giấy phép của chính phủ trung ương sớm nhất có thể”.

Sau khoảng 1 tháng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự ký văn bản số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007 v/v đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã “đề nghị Tập đoàn tiến hành khảo sát, lập hồ sơ các dự án báo cáo Chính phủ VN, các Bộ ngành Trung ương có liên quan và UBND tỉnh Hà Tĩnh để kịp thời hoàn chỉnh thủ tục đầu tư theo qui định hiện hành”. Đây thực chất là một văn bản vô trách nhiệm (bỏ qua các thủ tục tìm hiểu/đánh giá về năng lực của chủ đầu tư) và trái thẩm quyền (góp phần làm phá vỡ các qui hoạch lớn về kinh tế của Chỉnh phủ, gồm các qui hoạch về thép, điện, cảng biển, v.v).

Sau đó 12 ngày, Tập đoàn Formosa đã thực hiện xong ý kiến chỉ đạo tại văn bản nói trên của Phó chủ tịch Hà Tĩnh Võ Kim Cự, xây dựng xong báo cáo đầu tư về hai dự án khu liên hợp luyện thép (15 tr.t/năm) và cảng tổng hợp Sơn Dương (200.000 DTW) để trực tiếp báo cáo Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vào ngày 24/12/2007.

Sau đó 3 ngày, ngày 27/12/2007, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng đã có thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó khẳng định: “Chúng tôi đã xây dựng Báo cáo đầu tư về hai dự án trên để trình Chính phủ Việt Nam. Theo đó thời gian hoàn thành lò cao thứ 1 của giai đoạn 1 được rút ngắn từ 48 tháng xuống còn 36 tháng. Nay chúng tôi xin gửi tới ngài báo cáo đó, rất mong được Ngài và các cơ quan hữu quan của Chính Phủ Việt Nam sớm chấp thuận”, và hứa: “Ngay sau khi nhận được sự chấp thuận của chính phủ Việt nam, chúng tôi sẽ triển khai việc lập báo cáo tiền khả thi và tháng 3/2008 sẽ trình lên các cơ quan hữu trách của Việt Nam” (hết trích dẫn).

Qua sự việc trên cho thấy, Báo cáo đầu tư của dự án qui mô hàng chục tỷ đô la chỉ được thực hiện vỏn vẹn trong vòng 12 ngày, đã được trình lên tới Chính phủ VN.

Ngày 15/01/2008, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng, từ Đài Bắc đã gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Thư bảo đảm xin đầu tư xây dựng dự án cảng Sơn Dương và khu liên hợp gang thép tại Hà Tính”.

Mặc dù thư này được gửi cho Thủ tướng, nhưng ngay ngày hôm sau, từ Hà Tĩnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Kim Cự đã ký công văn số 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 về việc đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa (Đài Loan). Công văn này đã khẳng định: “Sau khi xem xét văn thư ngày 15/01/2008 của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) về việc cam kết đầu tư Dự án cảng Sơn Dương và Dự án nhà máy luyện thép công suất 15 triệu tấn/năm… UBND tỉnh Hà Tĩnh xin báo cáo và đề nghị như sau: … Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép… Kính đề nghị Thủ tướng Chính Phủ và các Bộ, ngành liên quan cho phép Tập đoàn lập dự án trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện dự án nói trên”.

Như vậy, bằng công văn 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 nói trên Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cố tình hợp thực hóa công văn số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007. Văn bản trên còn cho thấy rõ hành động vô trách nhiệm của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Trong khi Formosa là đối tác được thế giới bêu danh hàng đầu trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường, thì, chỉ trong vòng 24h, sau khi Formosa “cam kết đầu tư” với Thủ tướng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã khẳng định với Thủ tướng: “Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép”!!!.

Những ưu đãi không có cơ sở

Mặc dù Formosa chưa trình dự án, ngày 28/02/2008, Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng – Hà Tĩnh đã lập “Biên bản ghi nhớ về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Biên bản này đã nêu cụ thể 14 mục ưu đãi đối với Formosa. Trong đó, có những mục như “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực”. Đây là hành động “cầm đèn chạy trước ô tô” của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Vì, sau đó 4 ngày, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản số 323/TTg-QHQT ngày 04/3/2008 “về việc đầu tư xây dựng Nhà máy luyện thép và cảng nước sâu tại Hà Tĩnh”, trong đó có nội dung: “UBND tỉnh Hà Tĩnh chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành có liên quan chỉ đạo Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư và hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, tổ chức thẩm định Dự án và hồ sơ theo quy định hiện hành của Luật đầu tư, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”.

Sau khi có ý kiến chỉ đạo trên, thay vì phải “hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư” theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, ngày 25/3/2008, cũng chính Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, đã ký “Biên bản ghi nhớ bổ sung, sửa đổi về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Trong đó, mục “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực” đã được sửa đổi thành: “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực. Trước khi hết hạn thuê đất 2 năm nếu có nhu cầu, nhà đầu tư (FORMOSA) phải trình UBND tỉnh Hà Tĩnh đơn xin thuê đất cho thời gian tiếp theo và trong vòng 03 tháng (kế từ ngày nhận được đơn xin thuê đất), UBND tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm trả lời nhà đầu tư. Khi đó, FORMOSA là nhà đầu tư được ưu tiên để tiếp tục thuê đất nhưng chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của luật Việt Nam tại thời điểm hiện hành”.

Qua sự việc trên cho thấy, trong khi chủ đầu tư chưa trình Dự án, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ký biên bản thỏa mãn tất cả các yêu cầu của chủ đầu tư. Đặc biệt, việc giao đất 70 năm được bổ sung các điều kiện được chấp nhận kéo gần như vô thời hạn.

Mặc dù Báo cáo đầu tư của Formosa chưa được lập và chưa được các cơ quan hữu quan phê duyệt, ngày 09/4/2008, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã ký văn bản số 858/UBND-CN2 về việc xác nhận ưu đãi đầu tư cho Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã đưa ra 5 ưu đãi về thuế, 3 ưu đãi về đất, 2 ưu đãi về bồi thường, giải phóng mặt bằng, 4 hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật, 2 hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, và 1 hỗ trợ về chi phí quảng cáo. Riêng về ưu đãi thuê đất, văn bản đã khẳng định “Thời gian cho thuê đất là 70 năm. Khi hết hạn thuê đất, nếu có nhu cầu, Formosa sẽ được ưu tiên tiếp tục thuê đất; chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó”.

Nhờ có những ưu đãi “từ trên trời rơi xuống”, ngày 11/4/2008, hai ngân hàng Hongkong and Shanghai Banking Corporation Ltd. (HSBC) và Mega International Commercial Bank Co., Ltd đã có “Thư quan tâm” gửi cho Formosa. Trong đó, HSBC đã lưu ý nếu chính sách của Chính phủ thay đổi thì Thư quan tâm này sẽ cần được HSBC khẳng định lại!

Những rủi ro về môi trường chưa được xem xét

Dự án Formosa có nhà máy luyện gang thép với công nghệ lạc hậu, nên phải dùng than mỡ để luyện coke cho lò cao. Nhu cầu than mỡ hàng năm phải nhập khẩu là 3,623 triệu tấn để luyện ra 2,52 triệu tấn coke (xem tr.24, Thuyết minh tổng hợp). Ngoài ra, hàng năm Formosa phải sử dụng khoảng 0,642 triệu tấn dolomit; 1,442 triệu tấn đá vôi, và 1,296 triệu tấn than cám.

Quy trình luyện coke thải ra rất nhiều độc tố vì than mỡ dùng để luyện coke thường có chứa các chất rất độc hại và nguy hiểm, như: sulphure (≈ 0,3%) chlorine (≈0,03%), phosphorous (≈0,001%); và arsenic (≈0,004%).

Như vậy, Chỉ riêng 3 loại chất cực độc (là chlorine, phosphorous, và arsenic) chứa trong than mỡ đã khoảng 0,035%. Với lượng tiêu dùng 3,623 triệu tấn/năm, chỉ riêng khâu luyện coke sẽ thải ra môi trường dưới mọi hình thức ít nhất 1.268 tấn/năm chất cực độc nói trên.

Đáng lưu ý, những loại than dùng để luyện coke đã được Formosa nhập về VN đều là những loại than rẻ tiền. Thay vì nhập khẩu than mỡ, Formosa đã nhập khẩu than bitum vào VN để luyện coke. Cụ thể, năm 2014, Formosa đã nhập khẩu 960.466 tấn than bitum từ Indonesia với giá bình quân gần 84 U$/tấn và năm 2015, Formosa đã nhập khẩu 87.923 tấn than bitum từ Canada để luyện coke với giá bình quân 82 U$/tấn. Các thành phần độc tố nói trên trong các loại than bitum rẻ tiền này chắc chắn còn cao hơn nhiều so với trong than mỡ đắt tiền (khoảng 200 U$/tấn).

Nhà máy luyện coke của Formosa theo thiết kế có công suất 2,86 triệu tấn/năm. Như vậy, cũng theo thiết kế, lượng khí lò coke (COG) hàng năm lên tới 1,4 tỷ Nm3 (trong điều kiện bình thường) và thải ra khoảng 1,1 triệu tấn xỉ/năm. Ngoài than luyện coke, nhà máy này còn phải sử dụng 1.906 tấn dầu rửa/năm.

Điều đáng lo ngại là trong Báo cáo đầu tư, Formosa đã cố tình không đưa ra các đặc tính kỹ thuật cũng như các thành phần hóa học của các loại nguyên liệu đầu vào được đưa vào sử dụng trong dự án (trong đó có các thành phần độc tố trong than luyện coke và dầu rửa).

Vấn đề bảo vệ môi trường không được đề cập trong Báo cáo đầu tư

Như trên đã nêu, ngày 25/3/2008, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản “Đồng ý chủ trương Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư Nhà máy liên hợp thép tại Khu kinh tế Vũng Áng và Cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại văn bản nêu trên” (số 102/UBND-CN2 ngày 16/01/2008).

Nhưng ngay trong năm 2008 (không rõ tháng), Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã trình “Báo cáo dự án đầu tư khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh”. Báo cáo đầu tư gồm 2 phần: phần I – Thuyết minh tổng hợp (tổng luận, 116 trang khổ A4) và phần phụ lục; phần II – Giải trình kinh tế-kỹ thuật (gồm 5 chương, 281 trang khổ A4).

Đối với một dự án nhạy cảm với môi trường, có mức đầu tư tới 7,897 tỷ U$, nội dung Báo cáo đầu tư này đã được lập hoàn toàn đối phó, không theo các quy định hiện hành của Luật đầu tư. Trong đó, đặc biệt là phần liên quan đến bảo vệ môi trường.

Trong Thuyết minh tổng hợp, Mục 9.9 “Bảo vệ môi trường” (tr.87÷94) được thực hiện rất sơ sài và rất mơ hồ. Trong đó, mục 9.9.2 “Ứng dụng các giải pháp khống chế ô nhiễm” gồm: khống chế ô nhiễm không khí (2 trang); khống chế ô nhiễm nước (1 trang); tận dụng chất thải rắn (>2 trang); khống chế tiếng ồn (<1 trang).

Trong “Giải trình kinh tế-kỹ thuật”, mục 3.2 “Hệ thống cung cấp nước và xử lý nước thải” cũng vỏn vẹn có 4 trang khổ A4 (tr. 3-37÷3-41, kể cả 2 trang hình vẽ). Trong đó, mục 3.2.2.3 “Hệ thống xử lý nước thải” có tổng số chưa đầy 12 dòng (5 dòng về “dự kiến”, 4 dòng về “nước thải sinh hóa” và 2 dòng về “nước thải công nghiệp”).

Với nội dung rất sơ sài của một Báo cáo đầu tư như trên, nhưng, trong một thời gian ngắn kỷ lục, chủ đầu tư đã được cấp đất và triển khai dự án. Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của các hồ sơ dự án do chủ đầu tư lập, trong đó có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và chất lượng tổ chức thẩm định dự án của phía VN trước khi cấp phép.

Việc quản lý môi trường bị buông lỏng

Như chúng ta đã biết, Formosa là một dự án thuộc lĩnh vực luyện kim (có gắn với cảng biển và sản xuất nhiệt điện tự dùng). Công nghệ của nhà máy thuộc loại lạc hậu (phải sử dụng coke để luyện gang). Quy trình sản xuất gang thuộc loại liên hoàn và liên tục. Khối lượng chất thải các loại (rắn, lỏng, khí) rất lớn, có chứa nhiều chất độc hại, và được thải ra liên tục. Chỉ riêng chất thải lỏng được phê duyệt thải ra môi trường tới hàng chục nghìn m3/ngày.

Thế nhưng, việc quan trắc, giám sát từ phía các cơ quan của nhà nước lại chỉ thực hiện theo chu kỳ. Đặc biệt, việc xử lý các chất cực độc phát sinh từ công nghệ luyện coke-gang-thép đã không được kiểm soát khách quan và liên tục. Đây là một kẽ hở lớn mà chủ đầu tư có thể lợi dụng để chỉ cần trong vòng vài phút có thể thải hết ra biển hàng tấn chất cực độc như Chlorine, Phosphorous, Arsenic.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, cơ quan chức năng cần công bố toàn văn ĐTM và những tài liệu liên quan đến việc phê duyệt ĐTM của dự án.

Câu hỏi, liệu hàng tấn chất cực độc nêu trên có dẫn đến cá chết hàng loạt hay không? chúng tôi xin nhường lời cho các nhà khoa học hóa sinh./.

Hà Nội, ngày 01/5/2016

N.T.S.

Tác giả gửi BVN

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:11

VIỆT NAM HÔM NAY CÁ CHẾT VÀ NGƯỜI CŨNG NGẤT NGƯ

https://youtu.be/3TDcmmDFWfA

Photo
Biểu tình tại Việt Nam kêu gọi bảo vệ môi trường biển

Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản

18/04/2016

 

  • Tác giả :
  • Dennis Prager
  • Quí bạn đọc thân mến,Với các diễn giả chính như đương kim ngoại trưởng Mỹ John Kerry, từng là phát ngôn viên của phong trào phản chiến trước đây, Tom Hayden, lảnh tụ phản chiến cũng là chồng củ của Jane Fonda, cựu ngoại trưởng Henry Kissinger … đang làm cho dư luận nghi ngờ mục tiêu của Ban tổ chức, nhứt là sự vắng mặt của các tổ chức cựu chiến binh Mỹ & Việt đã tham dự trực tiếp vào cuộc chiến đó .Ông Prager hiện có một chương trình truyền thanh thính giả đàm thoại (Talk Show) hàng ngày trên đài KRLA tần số 870AM bao gồm vùng Los Angeles và Orange Countỵ KRLA liên hợp với 140 đài khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ông viết xã luận hàng tuần, là tác giả của bốn cuốn sách và là sáng lập viên của Đại Học Prager.
  • (http://www.dennisprager.com/trip-to-vietnam-revives-hatređof-communism/)Trân trọng cám ơn.
  • Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản – Dennis Prager.

  • Điều không may là chính phủ cộng sản vẫn cai trị nước này. Mà Việt Nam ngày nay đã đón nhận cách duy nhất, chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do, để thoát khỏi cảnh nghèo đói, chứ khoan nói đến chuyện thịnh vượng. Vậy thì 2 triệu người Việt phải bỏ mạng trong Chiến Tranh Việt Nam để làm gì? Tôi muốn hỏi một trong những người lãnh đạo Cộng Sản đang cai trị Việt Nam câu hỏi đó. Tôi muốn hỏi: “Này đồng chí, đồng chí đã bỏ hết tất cả những gì mà đảng Cộng Sản của đồng chí đã tranh đấu cho kỳ được: nào là cộng sản, nông nghiệp tập thể, hoạch định trung ương, và quân phiệt, ngoài những lý tưởng khác nữa. Vậy thì hãy nhìn lại xem Hồ Chí Minh yêu kính của đồng chí và đảng của đồng chí đã hy sinh hàng triệu đồng bào người Việt của đồng chí thì đúng ra là để được cái gì?”Lời nói dối chính là câu trả lời của Cộng Sản Việt Nam, cũng như hầu hết mọi lời nói dối của Cộng Sản, và đã được khối cánh Tả phi Cộng Sản trên thế giới lặp lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây, và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là Cộng Sản Việt Nam (tức Bắc Việt), và Việt Cộng chỉ tranh đấu giành độc lập cho nước họ khỏi tay ngoại bang. Trước hết là tranh đấu chống Pháp, sau đó là Nhật, rồi đến Mỹ. Những người Mỹ sinh vào thời hậu chiến (sau thế chiến 2) sẽ nhớ là họ cứ được nhắc nhở mãi Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, và ông ta yêu mến Hiến Pháp Hoa Kỳ và đã dùng bản hiến pháp này làm nền tảng mô phỏng hiến pháp của ông ta, và chỉ muốn giành độc lập cho Việt Nam..Tất cả những kẻ độc tài Cộng Sản trên thế giới đều là những kẻ côn đồ ngông cuồng, thần thánh hóa cá nhân, tham quyền, khát máu. Hồ Chí Minh cũng thế. Hắn thủ tiêu các đối thủ, tra tấn biết bao nhiêu người Việt vô tội mà chỉ có trời mới biết chính xác được bao nhiêu người, và đe dọa hàng triệu người để họ phải cầm súng ra trận cho hắn — phải, cho hắn và cho đảng Cộng Sản Việt Nam đẫm máu, và được một tên sát nhân “vĩ đại” nhất mọi thời đại khác yểm trợ: Mao Trạch Đông. Nhưng những kẻ ngu ngốc về đạo lý tại Hoa Kỳ lại cứ hô to “Ho, Ho, Ho Chi Minh” trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh và gọi Hoa Kỳ là những kẻ giết người — “Hey, Hey, LBJ, hôm nay ngươi giết được bao nhiêu trẻ con?” ..Và ai đã là người có tự do hơn ở Việt Nam — những người sống ở miền Nam Việt Nam không Cộng Sản (dù là với tất cả các khuyết điểm của chế độ đó) hay những người sống dưới chế độ Cộng Sản của Ho, Ho, Hồ Chí Minh ở Bắc Việt Nam?.Tôi ghé đến “Bảo Tàng Viện Chứng Tích Chiến Tranh Việt Nam” — tòa nhà triển lãm các hình ảnh chống Mỹ cao ba tầng của đảng Cộng Sản. Chẳng có gì để tôi phải ngạc nhiên — tôi chẳng ngạc nhiên vì không có đến một chữ chỉ trích Cộng Sản Bắc Việt hoặc Việt Cộng, không có đến một chữ về việc đe dọa mạng sống của mọi người khắp nơi nếu họ không chiến đấu cho Cộng Sản, không có đến một chữ về những người liều mạng để vượt thoát bằng thuyền, thà chịu nguy hiểm bỏ mạng ngoài biển cả, vào bụng cá mập, hoặc bị hải tặc tra tấn hoặc hãm hiếp tập thể, còn hơn sống dưới chế độ Cộng Sản đã “giải phóng” Nam Việt Nam.Đã đến thăm Việt Nam thì không thể không mang ấn tượng tốt đẹp về người dân nước này. Tôi hy vọng tôi còn sống để thấy ngày người dân Việt Nam, được giải phóng khỏi những lời dối trá của Cộng Sản hiện vẫn lan tràn trong đời sống hàng ngày của họ, hiểu rằng mỗi mạng người Việt hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ đều bị phí phạm vô nghĩa, là thêm một mạng người nữa trong số 140 triệu sinh mạng bị đem ra hy sinh trước bệ thờ tên giả thần khát máu nhất trong lịch sử: Chủ Nghĩa Cộng Sản.
  • It was difficult to control my emotions — specifically, my anger — during my visit to Vietnam last week. The more I came to admire the Vietnamese people — their intelligence, love of life, dignity and hard work — the more rage I felt for the communists who brought them (and, of course, us Americans) so much suffering in the second half of the 20th century.There is no good answer. There are only a lie and a truth, and the truth is not good.First, they fought the French, then the Japanese and then the Americans. American baby boomers will remember being told over and over that Ho Chi Minh was Vietnam’s George Washington, that he loved the American Constitution, after which he modeled his own, and wanted nothing more than Vietnamese independence.The Vietnamese communists were not fighting America for Vietnamese independence. America was never interested in controlling the Vietnamese people, and there is a perfect parallel to prove this: the Korean War. Did America fight the Korean communists in order to control Korea? Or did 37,000 Americans die in Korea so that Koreans could be free? Who was (and remains) a freer human being — a Korean living under Korean communist rule in North Korea or a Korean living in that part of Korea where America defeated the Korean communists?America fights to liberate countries, not to rule over them. It was the Vietnamese Communist Party, not America, that was interested in controlling the Vietnamese people. But the lie was spread so widely and so effectively that most of the world — except American supporters of the war and the Vietnamese boat people and other Vietnamese who yearned for liberty — believed that America was fighting for tin, tungsten and the wholly fictitious “American empire” while the Vietnamese communists were fighting for Vietnamese freedom.Equally unsurprising is that there is little difference between the history of the Vietnam War as told by the Communist Party of Vietnam and what just about any college student will be told in just about any college by just about any professor in America, Europe, Asia or Latin America.
  • http://www.dennisprager.com/trip-to-vietnam-revives-hatred-of-communism/
  • VB trân trọng cảm ơn quý thân hữu TĐV đã chuyển bài này

 

  • I will end with the subject with which I began — the Vietnamese. It is impossible to visit Vietnam and not be impressed by the people. I hope I live to see the day when the people of Vietnam, freed from the communist lies that still permeate their daily lives, understand that every Vietnamese death in the war against America was a wasted life, one more of the 140 million human sacrifices on the altar of the most bloodthirsty false god in history: communism.
  • I went to the “Vietnam War Remnants Museum” — the Communist Party’s three-floor exhibit of anti-American photos. Nothing surprised me — not the absence of a single word critical of the communist North Vietnamese or of the Viet Cong; not a word about the widespread threats on the lives of anyone who did not fight for the communists; not a word about those who risked their lives to escape by boat, preferring to risk dying by drowning, being eaten by sharks or being tortured or gang-raped by pirates, rather than to live under the communists who “liberated” South Vietnam.
  • And who was a freer human being in Vietnam — those who lived in non-communist South Vietnam (with all its flaws) or those who lived under Ho, ho, Ho Chi Minh’s communists in North Vietnam?
  • Here is the truth: Every communist dictator in the world has been a megalomaniacal, cult of personality, power hungry, bloodthirsty thug. Ho Chi Minh was no different. He murdered his opponents, tortured only God knows how many innocent Vietnamese, threatened millions into fighting for him — yes, for him and his blood soaked Vietnamese Communist Party, backed by the greatest murderer of all time, Mao Zedong. But the moral idiots in America chanted “Ho, ho, Ho Chi Minh” at antiwar rallies, and they depicted America as the real murderers of Vietnamese — “Hey, hey, LBJ, how many kids did you kill today?”
  • The lie is the response offered by the Vietnamese communists and which was repeated, like virtually all communist lies, by the world’s non-communist left. It was (and continues to be) taught in virtually every Western university and was and continues to be spread by virtually every news medium on the planet: The Vietnam communists, i.e., the North Vietnamese and the Viet Cong, were merely fighting for national independence against foreign control of their country.
  • Unfortunately, communists still rule the country. Yet, Vietnam today has embraced the only way that exists to escape poverty, let alone to produce prosperity: capitalism and the free market. So what exactly did the 2 million Vietnamese who died in the Vietnam War die for? I would like to ask one of the communist bosses who run Vietnam that question. “Comrade, you have disowned everything your Communist party stood for: communal property, collectivized agriculture, central planning and militarism, among other things. Looking back, then, for what precisely did your beloved Ho Chi Minh and your party sacrifice millions of your fellow Vietnamese?”
  • Trip to Vietnam Revives Hatred of Communism

  • .Điều cũng không có gì đáng ngạc nhiên là không thấy có khác biệt gì mấy giữa lịch sử Chiến Tranh Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam kể lại với lịch sử cuộc chiến đó mà hầu như sinh viên nào cũng sẽ được nghe kể lại từ hầu như bất cứ giáo sư nào tại bất cứ trường đại học nào ở Mỹ Châu, Âu Châu, Á Châu, hoặc Châu Mỹ La Tinh. Tôi sẽ kết thúc bằng đề tài tôi đã bắt đầu — người Việt.
  • Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trị họ. Sự thật là, chính đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới — trừ những người Mỹ hậu thuẫn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khác khao khát tự do — cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để lấy kẽm, tungsten, và để thành lập cả một “đế quốc Mỹ” giả tưởng trong khi Cộng Sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.
  • .Đảng Cộng Sản Việt Nam không đánh Mỹ để giành độc lập cho Việt Nam. Mỹ không bao giờ muốn kiểm soát người dân Việt, và có một trường hợp tương tự để chứng minh điều đó: Chiến Tranh Triều Tiên. Mỹ có đánh Cộng Sản Triều Tiên để kiểm soát Triều Tiên hay không? Hay là 37,000 người Mỹ bỏ mạng tại Triều Tiên để người dân Triều Tiên được hưởng tự do? Ai đã (và vẫn là) người có tự do hơn — một người Triều Tiên sống dưới chế độ Cộng Sản Triều Tiên ở Bắc Triều Tiên hay một người Triều Tiên sống tại nơi mà Hoa Kỳ đã đánh bại Cộng Sản Triều Tiên? .
  • Sau đây mới là sự thật .
  • Không có câu trả lời nào là câu trả lời hay. Chỉ có một lời nói dối và một lời nói thật, và lời nói thật thì thật thê lương.
  • Thật khó mà kềm nổi các cảm xúc của tôi — nhất là không tránh được phải nổi giận — trong chuyến viếng thăm Viêt Nam của tôi hồi tuần trước. Tôi càng ngưỡng mộ người dân Việt bao nhiêu — thông minh, yêu đời, tự trọng, và chăm chỉ — thì tôi lại càng tức giận chính phủ cộng sản đã gây đau khổ quá nhiều cho người dân nước này (và dĩ nhiên cả người Mỹ chúng ta) trong nửa thế kỷ sau của thế kỷ 20.
  • Ban biên tập Website TĐV :
  • http://tandaiviet.org/v1/2016/04/18/chuyen-di-den-viet-nam-lam-toi-ghet-cong-san-dennis-prager/
  • Xin nhấn mạnh  nội dung bài được trích đăng nhằm để mở rộng tầm nhìn nó không nhứt thiết phản ảnh quan điểm của Websitẹ
  • Trong tinh thần tôn trọng sự trung thực cùng tính đa chiều của thông tin, chúng tôi xin được trích đăng bài quan điểm của một thức giả Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam với tựa đề “Chuyến đi đến Việt Nam làm tôi ghét cộng sản” của  Viện Trưởng Đại Học Dennis Prager.
  • Vào ngày 26-27-28 tháng 4 sắp tới, Thư Viện Lyndon Baines Johnson (LBJ) ở Austin, Texas sẽ tổ chức hội thảo về chiến tranh Việt Nam được mệnh danh “Vietnam War Summit” (tạm dịch “hội thảo thượng đỉnh chiến tranh Việt Nam”)  được Đại Học University of Texas bảo trợ  với  mục tiêu chính là “đưa ra  ánh sáng dứt khoát về chiến tranh, và những bài học và di sản của nó. Đó cũng là ý định của chúng tôi để mời, bao gồm, những người đàn ông và phụ nữ can đảm phục vụ trong cuộc chiến đó tại Việt nam” (Our goal is to shed a definitive light on the war, and its lessons and legacỵ It is also our intent to invite, include, and recognize the men and women who courageously served in Vietnam.)  VietnamWarSummit.org

 *

Nếu nói chiến tranh Việt nam mà đổ thừa cho Hoa Kỳ là sai lầm và thiếu hiểu biết

 

Tác gỉa : Trần Cư / siphuvietnam

Little Saigon mùa quốc hận tháng tư 2016

 

Từ 1930 trở đi rồi sau này tới thời kỳ 1945 nếu Hồ Chí Minh một tay bất tài vô tướng dốt nát không học hành bao nhiêu và nếu Hồ chí Minh không làm mọi, làm tay sai bưng bô đần độn cho bọn cọng sản Liên sô Trung quốc lúc bấy giờ thì làm sao Hồ Chí Minh trở thành lảnh đạo cọng sản sắc máu tại Việt nam được. Súng gươm đâu mà hắn có để xài, thức ăn đâu hắn có để ăn mà làm bậy.

Khi Liên sô Trung quốc muốn bành trướng chủ nghĩa cọng sản

Khi Liên sô Trung quốc muốn bành trướng chủ nghĩa cọng sản thì Hồ Chí Minh là con mồi rất dể cắn câu vì bản chất Hố Chí Minh ngu hèn mà háo đá thích làm lảnh tụ dù hắn gây chiến giết dân tộc mình thì hắn vẫn làm. Người đời cũng cho rằng Hồ Chí Minh lúc đó là loại ngựa non háo thắng là loại biết một mà không biết hai và nảo bộ hắn xem như băng hoại.

Sau này lịch sử ghi nhận không ai ngu như Hồ Chí Minh nếu đối chiếu chính trị với lảnh đạo các nước cọng sản khác cùng thời thì các nước cọng sản khác không bao giờ gây chiến dùng súng giết anh em cùng một nhà, giết dân tộc mình hàng triệu người để làm lảnh tụ.

Hảy nhìn sang nước Ðức mà xấu hổ cho Hồ chí Minh. Nước Ðức cũng chia đôi như Việt nam thời đó, nhưng cọng sản Ðức là những ngưòi biết suy xét có lý trí cân nhắc không ngu dại nghe lời Liên sô xúi dại mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ðức.

Hảy nhìn sang nước Trung hoa cũng chia đôi gồm Hoa lục theo cọng sản do Mao Trạch Ðông làm chủ. Ðài Loan theo dân chủ do Tưởng Giới Thạch làm chủ. Thế mà mấy chục năm nay họ gỉa bộ hù dọa nhau nhưng có tiến hành chiến tranh chém giết dân tộc người Hán của họ đâu. Dỉ nhiên cái đầu của họ khôn hơn Hồ Chí Minh.

Hảy nhìn qua Hàn Quốc mà thấy xấu hổ cho sự cư xử giữa người và người của người Việt thời Hồ Chí Minh. Hàn quốc cũng chia đôi gồm Bắc Hàn theo cọng sản và Nam hàn theo dân chủ tự do. Hàn quốc hiện chia hai phe họ cũng gỉa bộ hù dọa nhau mấy chục năm nay. Bắc hàn vẫn không ngu daị mở cuộc chiến tranh chém giết người cùng dân tộc của họ ở miền Nam như Hồ Chí Minh.

Sáng suốt xét lịch sử thì nên nhớ là sau khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền năm 1945 và áp đặt chủ nghĩa cọng sản ngu đần thô bỉ mang rợ, thì hắn theo lệnh Liên Sô Trung quốc đấu tố dân Việt ở Bắc Việt nam , hắn dùng bạo lực giết người cướp của man rợ và tiếng kêu cứu lên tới Trời xanh thì tới năm 1960 Hoa Kỳ mới vào Việt nam giúp chận đứng chủ nghĩa cọng sản đang độc ác độc tài nguy hiểm cho thế giới.

Hoa Kỳ là một đại cường không bao giờ ở không để can thiệp vào Việt nam làm gì lúc đó kệ thây cho nó chết nếu không nguy hại cho thế giới cho Hoa Kỳ.

Hiệp định Geneve năm 1954 chia đôi Việt nam một nữa của Hồ Chí Minh độc tài độc đảng và một nữa của Việt nam cọng hòa theo thể chế dân chủ tự do đa đảng.

Hồ Chí Minh lúc đó ngu ngốc tuân lệnh đánh thuê

Hồ Chí Minh lúc đó ngu ngốc tuân lệnh đánh thuê cho Nga cọng và Tàu cọng . Nga cọng và Tàu cọng đưa ồ ạt vủ khí và thức ăn cho Hồ Chí Minh bảo Hồ Chí Minh tiến hành cuộc chiến tranh Việt nam ngay lập tức tiến đánh miền Nam Việt nam để bành trướng chủ thuyết cọng sản của Nga cọng và Tàu cọng lúc đó còn rất nóng bỏng.

Tình hình lúc đó một mình Việt nam cọng hòa làm sao chọi nổi Nga cọng Tàu cọng và lính đánh thuê cọng sản Hà Nội do Hồ chí Minh lảnh đạo. Trong khó khăn đó buộc lòng Việt nam cọng hòa phải xin thế giới dân chủ tự do giúp đở ủng hộ người và của trong đó có Nam Hàn, Philippines, Hoa Kỳ, Malaysia, Australlia, v. v. để chống lại khối cọng sản quốc tế do Hồ Chí Minh đã ngu ngốc mang vào Việt nam, dùng Việt nam làm bải chiến trường và dùng thân xác người Việt làm bia để bắn.

Kể từ năm 1960 Hoa kỳ cực chẳng đả phải đem quân vào giúp Việt nam

Kể từ năm 1960 Hoa kỳ cực chẳng đả phải đem quân vào giúp Việt nam cọng Hòa chống lại làn sóng cọng sản đỏ giống y như tình hình biển Ðông ngày hôm nay. Chứ Hoa Kỳ là quốc gia văn minh giàu có khôn ngoan thì không có rảnh, không có ở không mà đi gây chiến với ai làm gì

Không có cuộc chiến tranh nào là để chống Mỷ cứu nước cả

Không có cuộc chiến tranh nào là để chống Mỷ cứu nước cả, mà chỉ có cuộc chiến tranh nội chiến mà thôi. Trong cuộc chiến tranh ấy bên miền Bắc cọng sản thì do Liên Sô Trung quốc và đồng minh các nước cọng sản đở đầu và bên Miền Nam Việt nam thì do Hoa Kỳ và đồng minh các nước dân chủ đở đầu.

Hồ Chí Minh sau này vì lúng túng nên mới phịa ra cái vụ đánh Mỷ cứu nước để kích động dân miền Bắc vô Nam đánh nhau, chứ Hồ Chí Minh đã phát động cuộc chiến tranh nội chiến chém giết đồng bào miền Nam từ sau 1954 lúc đó không có người Hoa Kỳ ở Việt nam.

Mải đến 1960 thì Hoa Kỳ mới vào giúp Việt nam cọng hòa thì Hồ Chí Minh lấy lý do gì mà đổ thừa Hoa Kỳ được. Phải gọi cho đúng cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc nội chiến hay còn gọi là chiến tranh ủy nhiệm giữa khối cọng sản độc tài Nga Tàu và khối tự do dân chủ Hoa Kỳ

 

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA

Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

 

*

 

04/01/2016

Diamond Bích Ngọc

CÓ AI NGHĨ ĐẾN CỰU-CHIẾN-BINH MỸ KHÔNG?

Diamond Bích-Ngọc (ghi-nhận & tường-trình).

“Quá bất ngờ, thật cảm-động và vô-cùng ý-nghĩa… Bởi sau hơn 40 năm từ ngày rút quân khỏi chiến-trường Việt-Nam trở về Hoa-Kỳ, bị người dân bản-xứ ngược đãi, xem thường, coi khinh… Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến dự một bữa tiệc tri-ân do gia-đình thuyền-nhân Việt-Nam – ‘Boat People’: Thái-Nguyên và Diamond Bích-Ngọc đứng ra tổ-chức. Hàng trăm cựu-chiến- binh Hoa-Kỳ hôm nay đã và đang được chữa lành (Healing) vết thương tâm-lý chiến-tranh; cũng chỉ vì các bạn đã biết nghĩ đến chúng tôi!” – Đây chính là câu trả lời cho tựa-đề bài viết này!

Những tia mắt lóng-lánh lệ mừng, những bắt tay xiết chặt đằm-thắm chân-tình của kẻ mang ơn (gia-đình Chân-Quê Việt-Nam) và người được đáp trả (các cựu-chiến-binh Mỹ) đã diễn ra trong không-gian chan-chứa tình người, giữa khung-cảnh tuyệt-vời của nhà-hàng sang-trọng “Moonlight” ở thành-phố Westminster, miền Nam California vào trưa thứ Bảy 26 tháng 3, 2016 vừa qua.

Được Trời thương, chúng-tôi lại có cơ-hội tổ-chức tiệc tri-ân những đồng-minh từng sát cánh bên các chiến-sĩ Quân-Lực-Việt-Nam-Cộng-Hòa. Họ đã đổ máu, để lại một phần thân-thể hay mất tích, bỏ xác nơi chiến-trường. Họ đã hy-sinh cho chúng tôi được sống an-bình tại miền Nam, Việt-Nam trước ngày 30 tháng 4, 1975.

Một bàn tiệc dành cho những anh-hùng tử-sĩ do chính tay Diamond Bích-Ngọc trưng-bày, sắp đặt; được kê trước sàn sân-khấu và một bàn nhỏ “Missing Man Table” của các cựu-chiến-binh đặt cuối nhà hàng đã làm biết bao người bồi-hồi, xúc-động; khi cùng tưởng nhớ đến những đồng-đội mình không được hiện-diện bằng xương, bằng thịt trong tiệc vui hôm nay. Chúng tôi chợt nhớ đến mấy vần thơ xưa: “Sống là khách qua đường, Chết là về cố hương, Trời đất là quán trọ, Bụi muôn đời tiếc thương!”…

blank blank

“Missing Man Table” trong tiệc “Thank You Vietnam Veterans” – Thứ Bảy 26 tháng 3, 2016.

Như đã thông-báo: Từ năm 2007 đến 2012, nhân mùa Lễ Father’s Day gia-đình “Chân Quê” liên-tục tổ-chức tiệc này cho các cựu-quân-nhân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa tại miền Nam California và từ năm 2013 đến 2015, chúng tôi tổ-chức ở thành-phố Duluth, tiểu-bang Minnesota (vùng Bắc Mỹ) cho các cựu-đồng-minh Hoa-Kỳ.

Năm nay, 2016 – Gia-đình “Chân-Quê”, được sự hợp-tác của ông Bob Harrison, đại-diện Hội Cựu-Chiến-Binh Mỹ miền Nam, California long-trọng tổ-chức “Thank You Vietnam Veterans! Party” vào trưa thứ Bảy 26 tháng 3. Quyết-định ngày tổ-chức xong, chúng tôi mới nhận biết ra một sự trùng-hợp; đó là 29 tháng 3 hằng năm (ngày cuối cùng Lính Mỹ rút quân khỏi Việt-Nam năm 1973) đã được Tổng-Thống Nixon chọn là “Vietnam Veterans’ Day”. Như chín năm trước, khách mời dự tiệc không phải mua vé hoặc đóng góp bất cứ một khoản chi-phí nào. Mỗi bàn ăn chỉ kê 8 ghế để không ai bị ngồi quay lưng lại sân-khấu.

Hai chiếc xe Jeep quân-đội VNCH cắm lá cờ Hoa-Kỳ tung bay phất-phới đậu trước cửa Moonlight Restaurant để quan-khách dễ nhận diện địa-điểm tổ-chức. Vừa bước vào cổng nhà hàng là những cựu-chiến-binh Mỹ cùng một số cựu-quân-nhân QL/VNCH được choàng ngay vòng hoa “Welcome” từ vòng tay dịu-dàng của bốn thiếu-nữ; duyên-dáng trong trang-phục Bắc (Thanh-Hằng), Trung (Hạnh-Lê), Nam (Mười-Thương), Thượng (Victoria Trần).

C:\Users\DBN\Pictures\unspecified.jpg blank

C:\Users\DBN\Pictures\untitled.1.png blank

Chào đón trọng-thể các cựu-chiến-binh Mỹ và VNCH trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party”

tại Moonlight Restaurant, thành-phố Westminster – Thứ Bảy 26, tháng 3, 2016.

Đúng 12 giờ trưa, chương-trình bắt đầu với nghi-thức chào quốc-kỳ Mỹ, VNCH cùng đôi phút mặc-niệm đến các Chiến-Sĩ-Trận-Vong, cho những người Việt-Nam trên đường đi tìm tự-do đã không may bỏ mình dưới lòng đại-dương hay trong rừng sâu núi thẳm. Chúng-tôi cũng cầu-nguyện cách riêng cho các nạn-nhân vụ khủng-bố ngày 22 tháng 3, 2016 vừa qua tại Brussels, nước Bỉ.

Tiếp theo, nhạc-sĩ Thái-Nguyên có đôi lời chào đón gần 200 quan-khách, không quên cảm-ơn đến anh Andrew-Trần và Michael-Nguyễn (Hiệp-Hội-Chuyên-Gia-Việt-Mỹ – VABN); những người đã góp công thiện-nguyện khi thực-hiện các banner, các phướn treo trên sân-khấu thật đẹp và đầy ý-nghĩa cùng nhiều “Slide-Show” cho chương-trình “Thank You Vietnam Veterans! Party” thêm phần phong-phú. Sau đó, chúng tôi giới-thiệu ông Bob Harrison là người có công đứng ra liên-lạc cũng như gửi thư mời những cựu-chiến-binh Mỹ tại miền Nam California; để họ biết về tiệc tạ-ơn này mà đến tham-dự đông đủ như hôm nay. Những khách mời lên sân khấu nói chuyện là ba cựu-thương-binh Mỹ từng được “Purple Heart Medals” và nhiều huy-chương khác khi tham-chiến Việt-Nam; gồm các ông: Danny Little, Greg Gillaspy và Steve Cooper.

Đặc-biệt là phần trình-bày xúc-tích, ngắn gọn nhưng đầy đủ ý-nghĩa của Thiếu-Tá Triết-Bùi, đang phục-vụ trong quân-đội Hoa-Kỳ, ông đã cho mọi người hiểu được vai-trò quan-trọng của thế-hệ người Mỹ gốc Việt; phải sống xứng-đáng trong trách-nhiệm cùng bổn-phận của một người dân, để tri-ân và đáp trả phần nào công-ơn của Tổ-Quốc, Tiền-Nhân.

Thị-trưởng Westminster Tạ-Đức-Trí cũng lên sân-khấu, xúc động và chân tình chia xẻ tâm-tư với toàn-thể quan khách; ông nhắc đến nỗ-lực của thành-phố Westminster hiện đang xúc-tiến việc thiết-lập Trung-Tâm-Sử-Liệu tại tượng đài Việt-Mỹ để lưu-trữ những giữ-kiện liên-quan đến hơn 58,000 binh-sĩ Hoa-Kỳ và hàng trăm ngàn lính VNCH tử trận. Ông cho biết; gia-đình mình đã trải qua nhiều năm tháng cơ-cực sau ngày quốc-hận 30 tháng Tư, 1975 khi sống dưới chế-độ Cộng-Sản. Nay là đương-kim thị-trưởng thành-phố Westminster, ông không xem đây là vị-trí của một kẻ quyền cao, chức trọng; chỉ ngồi thụ-động trong văn-phòng mà tự coi mình là một “Servant” – Người hầu-hạ cho cư-dân; ông cũng mong ước được làm tấm gương sáng cho thế-hệ con cháu noi theo.

Gia-đình “Chân-Quê” nói riêng và cộng-đồng Việt-Nam nói chung; chúng tôi vô cùng hãnh-diện vì có được những người trẻ đầy nhiệt-tâm, nhiệt huyết như Thiếu-Tá Triết-Bùi và thị-trưởng thành-phố Westminster, Tạ-Đức-Trí.

blank blank

Toàn-thể quan-khách chăm chú lắng nghe, không ồn ào khi có người nói chuyện trên sân-khấu

trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party” 26 tháng 3, 2016 do gia-đình “Chân Quê” tổ-chức.

blank blank

Thị-Trưởng thành-phố Westminster Tạ-Đức-Trí trao quà lưu-niệm cho gia-đình “Chân Quê” và Thiếu-Tá người Mỹ gốc Việt Triết-Bùi thưa chuyện cùng toàn-thể cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ.

blank

Hiệp-Hội-Chuyên-Gia-Việt-Mỹ (VABN) trao quà lưu-niệm cho gia-đình “Chân Quê” và cựu-chiến-binh

Bob Harrison cùng phu-nhân Tammy đã tặng bó hoa hồng tuyệt-đẹp cho Diamond Bích-Ngọc.

Ca-sĩ Thanh-Hằng, người tham-gia việc thiện-nguyện với gia-đình “Chân Quê” gần 16 năm qua với trình-độ Anh-Ngữ điêu-luyện, rõ ràng đã làm M.C (Master Ceremony) thật sinh-động cho chương-trình văn-nghệ “Thank You Vietnam Veterans! Party”. Dưới sự chỉ-đạo của vũ-sư chuyên-nghiệp Đình-Luân, nhóm “Việt-Cầm Dance” biểu-diễn vô cùng độc-đáo hai vũ-khúc “Giấc Mơ Trưa” phần đầu và “Sóc Sờ Bai Sóc-Trăng” phần sau; đến nỗi toàn-thể quan-khách phải ngưng dùng bữa; chăm chú nhìn không muốn bỏ xót một khắc, một giây nào hầu có thể dõi theo từng bước chân, điệu múa của các cô vũ-công tài-năng, duyên-dáng, xinh-đẹp.

blank blank

Các vũ-công “Việt-Cầm Dance” trong bài múa “Giấc Mơ Trưa” và “Sóc Sờ Bai Sóc-Trăng” vô cùng độc-đáo.

Mang đến bất ngờ, thích-thú cho khán-giả là màn biểu-diễn trực-thăng “Huey” bay lượn trên không của Tom-Sĩ-Lê; đi liền với bài hát “Green Green Grass of Home” do bác-sĩ y-khoa Bùi-Cao-Đệ (cũng là cựu sĩ-quan Biệt-Kích ngành Quân-Y QL/VNCH) trình-bày; đã gợi lại cảm-giác nhớ nhà của Lính Mỹ trong thời-kỳ tham-chiến Việt-Nam.

Ca-sĩ Carol-Kim hát những nhạc-phẩm quen thuộc trong thập-niên 60 như: Proud Mary, Besame Mucho, Chain of Fool, Crazy, Unchain My Heart, Unchained Melody. Giọng ca của chị quả thật xứng danh là một “Vietnamese Tina Turner” bởi làn hơi phong-phú; đạt đến đỉnh điểm âm-vực của những nốt nhạc cao chất-ngất một cách trọn vẹn và ngọt-ngào, khiến tất-cả khán-giả phải sững-sờ kinh-ngạc & thán-phục!

Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế trong áo dài màu xanh tha-thướt, giọng hát êm-ái, trữ-tình, điêu-luyện qua bài: “Saigon” của Y-Vân và “Người Ở Lại Charlie”, sáng-tác: Trần-Thiện-Thanh; trong lúc màn ảnh sân-khấu trình-chiếu slide-show hình-ảnh Saigon xưa trước 1975 và đồi Sạc-Ly (thuộc tỉnh Kom-Tum); nơi mà trung-tá Nguyễn-Đình-Bảo thuộc tiểu-đoàn 11 nhảy dù đã tử trận. Nhờ sự dẫn giải diễn-biến chiến-sử bằng Anh-ngữ của nhạc-sĩ Thái-Nguyên nên các cựu-chiến-binh Mỹ hiểu được ý-nghĩa bài hát này và đã tỏ lòng ngậm-ngùi thương-tiếc cho sự hy-sinh của người lính sĩ-quan QL/VNCH.

blank blank blank

Ca-sĩ Carol Kim, Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế và nhạc-sĩ Violin Luân-Vũ trình-diễn xuất-thần trong tiệc “Thank You Vietnam Veterans” tại Moonlight Restaurant thứ Bảy: 26 tháng 3, 2016.

Món quà tinh-thần bất-ngờ (không có trong chương-trình) nhưng vô cùng quý-giá mà chủ-nhân nhà-hàng Moonlight đã mang đến quan khách trong buổi “Thank You Vietnam Veterans! Party” là ca- khúc “My Way”; một sáng-tác của Paul Anka; nguyên-bản từ bài nhạc Pháp “Comme d’habitude” do Claude François trình-diễn năm 1967. Đến tháng 12, năm 1968 được ca-sĩ Frank Sinatra thâu vào dĩa nhựa và bài này trở-thành bất-hủ trong nền âm-nhạc thế-giới. Nhạc-sĩ Luân-Vũ đã độc-tấu Violin “My Way” một cách xuất-thần khiến toàn-thể quan khách Mỹ đồng loạt (không ai bảo ai) đứng dậy vỗ tay không ngừng khi Luân-Vũ chấm dứt phần biểu-diễn.

Để chương-trình mang đầy đủ ý-nghĩa “Văn-Võ Song-Toàn”, được sự chuẩn-thuận của võ-sư Lý-Hoàng-Tùng (chủ-tịch Tổng-Hội Phát-Triển Võ-Thuật Thế-Giới), gần 20 võ-sinh dưới sự chỉ-đạo của võ-sư Bửu-Hoàng và phu-nhân Nghinh-Xuân, tất-cả đã đến tiệc “Thank You Vietnam Veterans” để góp phần biểu-diễn những màn tinh-hoa võ-thuật Việt-Nam; khiến các cựu-chiến-binh Mỹ thực-sự tâm-phục, khẩu-phục Võ Kinh Vạn-An.

blank blank

Võ “Kinh Vạn-An” dược các võ-sinh biểu-diễn thần-kỳ;

dưới sự chỉ-đạo của võ-sư Bửu-Hoàng và phu-nhân: Nghinh-Xuân.

Ngoài ra còn có tiết-mục “Ballroom Dance” không kém phần đặc-sắc của hoa-khôi Hạnh-Lê (VABN) và vũ-sư nổi tiếng Nguyễn-Hoàng-Ngôn. Những đường nét khiêu-vũ lả-lướt, chuyên-nghiệp của cả hai khiến khán-giả chăm-chú thưởng-thức và nhiệt-tình tán-thưởng.

Bài hát “Miền Quê Tôi” do hai ca-sĩ Thanh-Hằng & Thùy-Liêm song ca rất hay và bè phối nhịp-nhàng; với trang-phục áo bà-ba đáng yêu đã gợi nhớ phần nào trong tâm-trí các cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ về hình-ảnh thiếu-nữ Việt-Nam đơn sơ, bình-dị nhưng vô cùng đằm-thắm, thiết-tha!

Tất-cả khách tham-dự đều được tặng quà lưu-niệm; đó là một tách uống café (hoặc trà) có in dòng chữ màu xanh của Lính: “Vietnam Veterans. You are not forgotten!” – March 26, 2016 và hình “logo” của gia-đình “Chân-Quê”. Giải rút thăm độc-đắc mini iPad đã rơi vào tay một cựu-chiến-binh Mỹ nói rất sành-sõi tiếng Việt khiến chúng-tôi thật ngạc-nhiên và thích-thú. Anh tên Richard Vella có biệt-danh là “Giáo-Sư Sang”! (Richard cũng minh-xác rằng anh dậy lái xe chứ không phải dậy học, nhưng người Việt-Nam thương-mến nên gọi anh là ‘Giáo-Sư’!)

blank blank

Quà “Mug” lưu-niệm và mini iPad (giải độc-đắc) được trao cho cựu-chiến-binh Mỹ biệt-danh “Giáo-Sư Sang”.

Dù rất vất-vả để có thể hoàn-thiện một cách chu-đáo chương-trình “Thank You Vietnam Veterans! Party” 2016 – Nhưng bù lại, chúng-tôi được lãnh-nhận nhiều phần thưởng vô-giá từ những khách mời; đó là sự trân-trọng của tất-cả cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ; họ hoàn-toàn giữ trật-tự, không nói chuyện ồn-ào trong tiệc. Say mê thưởng-thức chương-trình văn-nghệ, không cần phải gọi mời, hầu hết đã ở lại đến giờ phút cuối để cùng nhau chụp hình lưu-niệm cũng như từng người đến bắt tay, nói lời cảm-ơn thật chân tình đến gia-đình “Chân Quê”. Vì thế, chúng tôi hứa sẽ tiếp-tục tổ-chức “Thank You Vietnam Veterans! Party” (dù sắp tới phải dọn nhà về Úc nghỉ hưu; thì mỗi năm cũng sẽ trở lại California một lần để làm tiệc này!)

blank blank

Gánh hàng hoa-quả của gia-đình “Chân-Quê” và hình ảnh các cựu-chiến-binh Mỹ chụp lưu-niệm cuối tiệc “Thank You Vietnam Veterans” trưa thứ Bảy 26 tháng 3, 2016 tại Moonlight Restaurant, Westminster, CA.

Sau buổi tiệc, nhiều người hỏi chúng-tôi rằng: “Tại-sao lại tốn tiền, tốn sức-lực, thời-gian để tổ chức ‘Thank You Vietnam Veterans! Party’ thế này?” Nhạc-sĩ Thái-Nguyên đã trả-lời: “Vì Trời cho gia-đình chúng-tôi nhiều ân-sủng quá so với nhiều người không may khác!”

Một cựu-chiến-binh Mỹ, ông John Stryker Myer, tác-giả cuốn sách “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” nghe thấy vậy đã nói một câu rất hay. Xin ghi lại đây để dành tặng cho tất-cả những thiện-nguyện-viên của gia-đình “Chân-Quê” và cũng để kết-thúc bài viết này:

“Lộc Trời ban phát cho tất-cả loài người trên thế-gian này đồng đều như nhau. Không ai hơn ai cả; sự khác biệt ở chỗ là các bạn biết CHO đi từ tấm lòng nhân-ái. Xin cảm-ơn các bạn Việt-Nam; là những người đã nghĩ đến cựu-chiến-binh Hoa-Kỳ chúng tôi.”

Họ cũng chúc chúng tôi rằng: “May God bless you with joy, peace, happiness and keep you safe and good health, always!”

http://www.diamondbichngoc.com

 Ông Nguyễn Phú Trọng hiểu biết về chính trị  bầu cử dân chủ ngang với học trò của ông Nguyễn Quang A chứ không thua kém

Trần Ðại Nam

Viện nghiên cứu chiến lược về cọng sản Việt nam, Trung quốc và Á châu tại Little Saigon, USA

Nguồn : https://siphuvietnam.wordpress.com

 

IMG_7095

23/03/2016

Yêu cầu khẩn cấp

 

Kính gửi:

– Ông Chủ tịch HĐBC Quốc gia

– Ông Bộ trưởng Bộ Công An

– Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông

– Ông Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội

– Bà Chủ tịch UBBC Hà Nội

– Ông Giám đốc sở Công an Tp. Hà Nội

– Ông Trần Văn Bái, tổ trưởng tổ dân phố 13, Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội

Thưa Quý vị,

Tôi Nguyễn Quang A, CMTND số xxx…x do Công An Hà Nội cấp ngày 25/07/2011, địa chỉ ….. Nguyễn Văn Cừ, Long Biên Hà Nội, một người tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 tại Hà Nội, xin gửi đến Quý vị yêu cầu khẩn cấp sau đây:

Tối thứ Bảy, ngày 19/03/2016, ông Trần Văn Bái tổ trưởng tổ dân phố số 13, Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội đã phát tán tập tài liệu in gồm 6 trang (có tiêu đề “Hành trình tội lỗi của Nguyễn Quang A”, được đăng trên trang mạng Việt vision của những người tự xưng là DLV, những người đã cản trở người dân thắp hương, dâng hoa tưởng nhớ các liệt sĩ Gạc Ma tháng 3/2015) cho các cử tri thuộc tổ dân phố số 13 (nơi có thể sẽ diễn ra Hội nghị cử tri để lấy phiếu tín nhiệm đối với tôi). Tôi cũng nghe tài liệu này được phát tán cho nhiều người tại chợ Gia Thụy sáng nay. Tài liệu này chứa nhiều thông tin sai sự thật, vu cáo và phỉ báng tôi.

1) Nếu ông Trần Văn Bái không chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung thông tin mà ông đã phát tán cho các cử tri của Tổ dân phố tối thứ Bảy vừa qua, thì tôi yêu cầu ông thu hồi các tài liệu đó và xin lỗi tôi bằng văn bản. Nếu ông Bái làm vậy vụ việc coi như được giải quyết.

Trong trường hợp khác, tức là:

2) Nếu ông Trần Văn Bái nhận trách nhiệm cá nhân về nội dung tài liệu ông đã phát tán thì tôi sẽ sử dụng các biện pháp pháp lý thích hợp để bảo vệ danh dự của mình.

3) Tôi xin hỏi các ông Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông và Bộ Công An (cũng như ông Chủ tịch Hà Nội và Giám đốc Sở Công An Hà Nội): việc làm như của ông Trần Văn Bái có bị xử lý hay không? Trong trường hợp không bị xử lý thì liệu có tạo ra tiền lệ cho bất cứ ai lấy những thông tin bêu xấu các vị lãnh đạo Nhà nước và ĐCSVN, những người cũng được đề cử làm đại biểu Quốc hội khóa 13, từ trên mạng và phát tán cho các cử tri hay không? Tôi cũng xin hỏi Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Ủy Ban Bầu cử Hà Nội: việc làm của ông Trần Văn Bái, tổ trưởng tổ dân phố, có đúng với những quy định pháp luật về bầu cử Quốc hội khóa 14 hay không?

Vì việc tổ chức Hội nghị cử tri sắp diễn ra, và việc ông Bái phát tán tài liệu ảnh hưởng xấu tới cá nhân tôi (và những người khác theo gương ông Bái phát tán những tài liệu vu khống xúc phạm những người ứng cử khác nếu không bị xử lý), tôi khẩn thiết yêu cầu Quý vị xử lý nhanh chóng và cho tôi biết sớm nhất có thể (nhưng không thể để đến khi tổ chức Hội nghị cử tri hoặc sau Hội nghị cử tri).

Xin gửi Quý vị lời chào trân trọng.

Hà Nội ngày 21/03/2016

Nguyễn Quang A

P.s. Xin liên hệ với tôi qua địa chỉ: số …. Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội; điện thoại ….. ; email: ……..

Nguồn: FB Nguyễn Quang A

Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

 12/03/2016
  • Tác giả :
  • Nguyễn Ngọc Bích
 IMG_5401

LTS.- Ngày 3-3-2016, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần trên chuyến bay tới Phi Luật Tân dự Hội Nghị về Biển Đông. Hôm nay, Thứ Bảy 12 tháng Ba, lễ tang được chính thức cử hành tại Virginia. Nhân dịp này, Việt Báo trân trọng giới thiệu một trong những bài viết sau cùng của Giáo sư  Bích, đề cập tới những diễn tiến tại đại học Cornell,  trong nỗ lực làm sáng tỏ sự thật về chiến tranh Việt Nam,  từ việc ông tham dự cuộc hội luận “Voice from the South Vietnam” năm 2012 tới việc tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế” nói chuyện tại Cornell năm 2015. Giáo sư  Bích đã viết bài này vào đêm 16 tháng 12 năm 2015, dành riêng Việt Báo Tết Bính Thân. Khi bài tới, báo đã in xong. Nhờ vậy, đây là lần đầu tiên bài viết được phổ biến. Vào ngày tiễn đưa vị học giả một đời tận tụy với văn hóa lịch sử dân tộc, xin mời đọc bài viết nhiều tâm huyết của ông.


BICH_southvietnamsympsiumHình ảnh ngày hội luận Cornell 2012 về Đệ Nhị Cộng Hòa VN trước Kehin Center tại Đại Học Cornell. Hàng thứ hai, người thứ nhất từ phải, người đầu bạc áo trắng cúi tựa lan can là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Người đứng dưới GS Nguyễn Ngọc Bích là bình luận gia Trần Bình Nam, tức cựu dân biểu Trần Văn Sơn, vừa từ trần sáng Thứ Sáu 11-3-2016 ở Calif.

 

***

 

Hội-thảo “Những Tiếng Nói từ Miền Nam” (“Voices from the South”) ở Cornell University do Giáo sư Keith W. Taylor đứng ra mời và tổ-chức vào tháng 6 năm 2012.

Là một cựu-chiến-binh đã từng tham chiến tại Việt-nam, sau khi về Mỹ, ông Keith W. Taylor đã muốn tìm hiểu thêm về nước ta.  Ông học tiếng Việt, tiếng Hán, chữ nôm và đã viết cuốn sách rất giá trị trong tiếng Anh, The Birth of Vietnam  – “Việt Nam Khai Quốc”, do University of California Press in ra năm 1983- kể lịch-sử nước ta từ thuở lập quốc đến thế-kỷ X.  Gần đây nữa, năm 2013, ông lại có một cuốn sách để đời do Cambridge University Press ở Anh in ra mang tên A History of the Vietnamese (“Một cuốn sử về người Việt”).

Trong nhiều năm dạy ở Cornell, ông Taylor đã bị ảnh-hưởng không ít bởi lối trình bầy lịch-sử truyền-thống của chúng ta: rằng Việt-nam là một dân-tộc thống nhất với một lịch-sử tuyến-tính, kết thúc (làm như lịch-sử có kết thúc) bằng sự thống nhất dưới sự giầy xéo của xe tăng Nga vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư 1975.  Nhưng rồi ông tỉnh ra rằng lịch-sử Việt-nam đã có nhiều giai-đoạn phân ly, chia cách.  Như ở thế-kỷ XVI đã một thời-gian dài nước ta có ba chính-quyền (nhà Mạc, nhà Lê với sự phò trợ của chúa Trịnh, rồi chúa Nguyễn ở miền Nam) hoặc giai-đoạn Trịnh-Nguyễn phân tranh (trên 200 năm), rồi sự tranh hùng giữa hai nhà Nguyễn (Nguyễn Tây-sơn và Nguyễn Gia-miêu, chưa kể là mấy anh em nhà Tây-sơn cũng chia nước ra làm ba) và nhất là Việt-nam sau Genève 1954.  Thành thử không thể thiên-vị phe này để gọi phe kia là “ngụy” được.

Chính vì thế mà cách đây ít năm ông đã viết một bài dài phân-tích, cho rằng lối trình bày cũ không sát thực-tế, là quá một chiều.  Từ đó ông nhìn lại lịch-sử Việt-nam cận-hiện-đại để thấy Miền Nam trong ít nhất 21 năm (1954-1975) đã thực-sự là một quốc gia được quốc-tế công-nhận rộng rãi (hơn rất xa miền Bắc CS trong nhiều lãnh-vực và trong nhiều nghĩa).  Từ đó ông nảy sinh ra ý-tưởng phải nghiên cứu một cách đứng đắn về Miền Nam, về hai nền Việt-nam Cộng-hòa.

Đó là lý-do vì sao ông, tức là Cornell University, là nơi đầu tiên trong các đại-học lớn ở Mỹ tìm cách mời một số diễn-giả mà đã có vai trò đáng kể trong những lãnh-vực như chính-trị, ngoại-giao, an-ninh quốc-phòng, kinh tế tài-chánh, thông tin tuyên-truyền thời Đệ nhị Cộng-hòa đến trình bầy cho khoảng 100 học-giả đến từ khắp nước Mỹ và cả một số nước khác (Pháp, Anh, Canada…) về những kinh-nghiệm xây dựng dân-chủ, qua một hiến-pháp (1967) tôn trọng tam quyền phân lập và những quyền căn-bản của người dân, qua một nền kinh tế tự do nhưng có điều tiết, khuyến khích phát triển nông-nghiệp và công-nghiệp, xuất khẩu, và đang trên đà bứt phá (takeoff).

Đến từ Chicago, Illinois, là Hoàng Đức Nhã, ông trình bầy về những nỗ lực xây dựng một nền dân-chủ ngay trong chiến-tranh.  Như các cuộc tranh cử có cạnh tranh, trong Quốc-hội có đối-lập, có khối này khối nọ.  Và ông Thiệu dám cưỡng lại tổng-thống Mỹ Nixon và ông Kissinger trong những ngày cuối của hòa-đàm Ba-lê khi thấy hiệp-định như Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa-thuận quá bất lợi cho miền Nam.

Ủng-hộ cho lập-luận của ông Hoàng Đức Nhã là ông tòa Phan Quang Tuệ, đến từ San Francisco, và ông Trần Văn Sơn, một cựu-sĩ-quan Hải-quân và một dân-biểu đối-lập, đến từ Phila.  Ông Sơn, một thành-viên trong khối đối-lập của Luật-sư Trần Văn Tuyên (29 dân-biểu, đa-phần thân Phật-giáo), cho biết là khối đối-lập của ông có tiếng nói rõ ràng trong Quốc-hội, được báo chí đưa tin đầy đủ và sự an-toàn cá-nhân của các thành-viên trong khối không bị đe dọa.  Tuy phút chót không đến được nhưng B.S. Mã Xái cũng đã gởi bài nói về sự “đóng góp của Đảng Tân Đại Việt vào việc xây dựng dân-chủ ở miền Nam.”

Sang lãnh-vực xây dựng quốc gia có bài thuyết-trình của cựu-tổng-trưởng Thương mại và Kỹ-nghệ Nguyễn Đức Cường đến từ San Jose.  Gốc kỹ-sư, ông Cường trình bầy bằng những con số thuyết-phục về các chương-trình do chính-quyền đưa ra thời đầu thập-kỷ 1970 để kìm lạm-phát (kinh tế thị-trường), phát triển đầu tư và công-kỹ-nghệ (như khu chế xuất Biên-hòa), tìm ra dầu hỏa v.v.  Riêng cựu-thứ-trưởng Cải cách Điền địa và Phát triển Nông-nghiệp Trần Quang Minh, đến từ Louisville, Kentucky, nói về chương-trình “Người cày có ruộng” (1970), thành công tới mức khi CS vào cũng không thay đổi gì được, cũng như chương-trình về thực-phẩm quốc gia, tất cả trong một khung-cảnh chiến-tranh toàn-diện trên toàn-quốc.

Về mặt an-ninh quốc-phòng thì có hai bài, một của Trung-tướng Lữ Lan đến từ Virginia nói về an-ninh diện-địa và một của Phó-đề-đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Khu Duyên hải vùng I, tư lệnh trực-tiếp của hải-chiến Hoàng-sa 1974 và cũng là tác-giả cuốn Can trường trong chiến bại.  Ông đến từ Houston, Texas, và đã cho biết trong chi-tiết những diễn-biến của trận hải-chiến để đời này trong lịch-sử nước nhà, với những anh-hùng  như Ngụy Văn Thà và 71 đồng-đội hải-quân hy sinh trong trận chiến đó.

Ngoài ra, ông Phan Công Tâm thuộc Trung-ương Tình-báo mô-tả một số hoạt-động của ông ở Cao-miên cũng như sang tận Phi-châu mang con gái ông Bokassa sang nước Trung-Phi.

Riêng tôi nói về công-tác thông tin quốc-ngoại, không chỉ ở Sứ-quán VNCH tại Hoa-thịnh-đốn (1967-1971) mà còn trong thời-gian tôi làm Trung-tâm-trưởng Trung-tâm Dân-vụ (lo cho các nhà báo ngoại-quốc đến làm tin ở VN) và Cục-trưởng Cục Thông tin Quốc-ngoại, hơn một lần phụ-tá cho Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu để tiếp đón các nhà báo Tây-phương (như Oriana Fallaci, Patrice De Beer, v.v.) và thậm chí trong cả chuyến đi họp Thượng-đỉnh San Clemente với Tổng-thống Mỹ Nixon, sau đó đi diện kiến Đức Giáo-hoàng và trên đường về, ghé thăm Tổng-thống Phác Chánh Hy của Đại-Hàn và Tổng-thống Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan (Trung-hoa Dân-quốc).

Cựu-Đại-sứ Bùi Diễm, đến từ Maryland, thì cho một cái nhìn tổng-quan về quan-hệ Việt-Mỹ, những ngộ-nhận đáng tiếc để sau đó dẫn đến những sai lầm trong chính-sách của Hoa-kỳ đối với VNCH.  Chuyến đi Cornell này còn để lại cho tôi một số ký-ức thật đẹp vì Đại-sứ Bùi Diễm, “boss” cũ của tôi ở Tòa Đại-sứ Washington, và chúng tôi đã hẹn gặp nhau ở phi-trường Rochester (với tôi bay thẳng từ Cali về) để sau đó tôi thuê xe lái qua vùng Finger Lakes (Mấy hồ thật đẹp có hình như mấy ngón của một bàn tay) leo núi xuống đồi đôi khi thật ngoạn mục qua vùng mấy vườn nho làm rượu vang trước khi đến trường Cornell.

Tóm lại, chuyến đi như một cuộc du ngoạn song cũng nhân cơ-hội đó mà 12 diễn-giả gốc từ miền Nam đã nói lên được một cách khá đầy đủ và dõng dạc về những thành-tựu rất đáng kể và đáng nể của VNCH, nhất là nền Đệ nhị Cộng-hòa, một quốc gia càng ngày càng chứng minh được nếp sống văn-minh và dân-chủ cao-độ so với miền Bắc u tối cùng thời.

Hội-luận Cornell, “Những Tiếng Nói từ Miền Nam,” đến quá muộn (37 năm sau khi mất miền Nam) nhưng vẫn là một “corrective” cần thiết đối với lịch-sử.  Và qua hội-luận đó, Giáo-sư Keith Taylor đã trả lại được phần nào sự thật cho lịch-sử–gần như “ở ngay trong lòng địch” vì cũng chính ở Cornell, chính khoa Đông-Nam-Á-học ở đây, đã là “lò phản-chiến” của Mỹ trong chiến-tranh VN với ông George McT. Kahin viết cùng với ông John W. Lewis cuốn “Thánh Kinh” của phong trào phản chiến Mỹ (và trên thế-giới), cuốn The United States in Vietnam (A Delta Book, 1967), một cuốn sách méo mó xuyên tạc khá tệ hại.

Sau hội-luận Cornell 2012, các bài tham-luận đã được in thành sách dưới tên VOICES from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975), K.W. Taylor, editor (Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014). Năm nay, đánh dấu 40 năm ngày miền Nam bị đẩy vào cảnh sụp đổ,  ông Taylor lại đi thêm một bước nữa trong việc trả lại sự thật cho lịch-sử Việt-nam khi ông mời nhà văn Nhã Ca lên Cornell nói về sự thật Tết Mậu Thân tại Huế. Cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca đã được  Olga Dror dịch thành Mourning Headband for Hue (Indiana University Press, 2015).

Tiến sĩ Olga Dror là một nhân vật khá lạ.  Là người gốc Do Thái sinh tại Nga, bà nói lưu loát tiếng Việt và đã dịch cuốn sách của Nhã Ca sang tiếng Anh cũng không kém văn chương.  Trong quá-khứ bà đã từng nghiên cứu về folklore Việt-nam và viết được một cuốn sách rất giá trị mang tên Cult, Culture and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History (“Thờ phụng, Văn-hóa và Quyền-uy: Chúa Liễu Hạnh trong Lịch-sử VN,” University of Hawaii Press, 2007).  Để có thể dịch được cuốn của Nhã Ca, bà đã nghiên cứu và đào sâu về trận Mậu-thân ở Huế cũng như tìm cách xác-định về vụ thảm-sát Tết Mậu-thân ngoài đó.  Do đó mà cuốn sách có một phần dẫn nhập thật dài và chi-tiết (50 trang) trình bầy kiểu nói có sách mách có chứng tất cả những sự tranh cãi về trận Mậu-thân tại Huế, chẳng hạn như vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, trong thời-gian Cộng-sản chiếm đóng Huế trong 23 ngày.  Chỉ riêng phần dẫn nhập này với đầy đủ cước-chú các nguồn tin cũng đủ đáng để cho ta mua cuốn sách rồi.

Tháng trước sang Cali để dự “Đại-nhạc-hội Việt-nam Cộng-hòa Trở Lại”, hôm ghé thăm Việt Báo gặp anh Trần Dạ Từ, anh bảo tôi: “Ông ơi, ông đã tham dự hội luận “Voices from the South” ở Cornell năm 2012 để lấy lại sự thật cho miền Nam, vậy thì ông phải viết về chuyến đó cho báo Tết năm nay!”

Như mọi khi, tôi hay có tật ừ.  Thế là…

 

Đồng Xuân, bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc

Viết xong đêm 16 tháng 12, 2015

Nguyễn Ngọc Bích

Dân Hà Nội thich Việt nam cọng hòa công bằng tự do đa đảng nên biểu tình ủng hộ kỷ sư Nguyễn Viết Dủng

 

IMG_7571

Báo cáo của Uỷ Ban Nhân quyền Quốc tế về trường hợp Nguyễn Viết Dũng

Dân Làm Báo xin chia sẻ với bạn đọc bản báo cáo số 45/2015 của Uỷ ban Nhân quyền (Human Rights Council – HRC) – Nhóm Theo dõi các trường hợp bị bắt giữ tuỳ tiện (Working Group on Arbitrary Detention – WGAD) về trường hợp của Nguyễn Viết Dũng. Theo thông tin trong bản báo cáo được công bố bởi WGAD, nhà cầm quyền Việt Nam không có bất kỳ câu trả lời nào trước các cáo buộc vi phạm Công ước Quốc Tế về Quyền Chính Trị và Dân sự từ nhóm.
*
Bản thảo chưa sửa đổi Ủy ban nhân quyền 
Nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật 
Các ý kiến được tổng hợp bởi nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật trong phiên điều trần thứ 74, 30/11 đến 04/12/2015 
Báo cáo số 45/2015 đối với trường hợp Nguyễn Viết Dũng (Việt Nam) 
1. Nhóm theo dõi các trường hợp bị tạm giam trái luật được thiết lập theo nghị quyết số 1991/42 của Ủy ban Nhân quyền, trong đó đã được mở rộng và xác nhận sự ủy nhiệm cho nhóm theo nghị quyết số 1997/50. Hội đồng Nhân quyền xác nhận sự ủy nhiệm thông qua quyết định số 1/102 và gia hạn thời hạn cho sự ủy nhiệm đó trong ba năm thông qua nghị quyết số 15/18 ngày 20/9/2013. Sự ủy nhiệm được gia hạn thêm ba năm thông qua nghị quyết số 24/7 ngày 26/9/2013
2. Theo đúng quy chuẩn thực thi các chức năng của Nhóm (A/HRC/30/69), ngày 29/9/2015 Nhóm theo dõi đã gởi các thông tin đến chính phủ Việt Nam về trường hợp liên quan đến Nguyễn Viết Dũng. Chính phủ Việt Nam đã không có phúc đáp đối với các thông tin này.
3. Nhà nước Việt Nam là một thành viên của Công ước quốc tể về các quyền dân sự và chính trị:
a) Nhóm theo dõi đánh giá sự tước đoạt quyền tự do một cách tùy tiện căn cứ vào các trường hợp sau: Khi không thể viện dẫn ra điều kiện căn bản về mặt pháp lý để biện minh cho sự tước đoạt quyền tự do (trong trường hợp một người bị tạm giữ sau khi đã hoàn tất thời gian thi hành bản án hoặc bất chấp sự ân xá áp dụng theo đúng hình luật) (mục I);
b) Sự tước đoạt tự do gây ra bởi việc thực thi các quyền và quyền tự do được đảm trong các điều 7, 13, 14, 18, 19, 20 và 21 của Tuyên bố phổ quát về nhân quyền và, trong chừng mực của một nhà nước thành viên cần được xem xét, bởi điều 12, 18, 19, 21, 22, 25, 26, và 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (mục II);
c) Khi sự bất tuân hoàn toàn hay một phần các quy định quốc tế liên quan đến quyền được xét xử công bằng, được quy định trong Tuyên bố phổ quát về nhân quyền và trong các văn bản luật quốc tế liên quan đã được nhà nước thành viên công ước chấp thuận, chính là sự cáo buộc về việc tước đoạt tự do một cách tùy tiện (mục III);
d) Trong trường hợp người tìm kiếm quy chế tị nạn, di dân hoặc người tị nạn là chủ thể bị câu lưu hành chánh trong thời gian dài mà không có thủ tục hành chính hoặc các hồ sơ hoặc biện pháp mang tính pháp lý
e) Khi sự tước đoạt tự do được chứng minh vi phạm luật quốc tế với các lý do liên quan đến phân biệt đối xử dựa trên nơi sinh, quốc tịch, chủng tộc hoặc nguồn gốc xã hội, ngôn ngữ, tôn giáo, điều kiện kinh tế, quan điểm chính trị hoặc ý kiến khác biệt, giới tính, xu hướng tình dục hoặc trình trạng khiếm khuyết khả năng hoặc khác, và nó có mục đích rõ ràng hoặc có thể tạo ra lý do bỏ qua quyền bình đẳng về nhân quyền (mục V).
Nội dung đệ trình 
Thông tin từ nguồn cung cấp 
4. Ông Nguyễn Viết Dũng, sinh ngày 19/6/1986, là công dân nước CHXHCN Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại Yên Thành, Nghệ An, Việt Nam.
5. Ông Nguyễn Viết Dũng, một kỹ sư điện đã tốt nghiệp, đã có tuyên bố vào đầu tháng 4/2015 về ý định đứng ra thành lập đảng công dân Việt Nam nhắm đến mục tiêu phổ biến nhân quyền và chí hướng tạo tiền đề cho một nền dân chủ đa đảng ở quốc gia ông.
6. Nguồn tin cung cấp cho biết, vào ngày 12/4/2015 ông Nguyễn Viết Dũng đã bị bắt giam một cách tùy tiện. Nguồn tin cung cấp cho biết rằng trong cùng ngày hôm đó ông Dũng đã có tham dự một đợt tuần hành ôn hòa gồm khoản 100 thành viên nhằm phản đối chính quyền thành phố Hà Nội đốn hạ cây xanh ở trung tâm thành phố. Theo tin cung cấp, đợt tuần hành hôm đó kết thúc mà không có sự va chạm ngào với lực lượng công an địa phương. Tuy nhiên, sau khi tuần hành kết thúc, ông Dũng và bốn thành viên khác bị lực lượng công an vây ráp và cho biết rằng các thành viên này đã gây rối trật tự công cộng. Ông Dũng và 4 thành viên khác sau đó bị tạm giữ tại công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
7. Bốn thành viên bị tạm giữ chung đợt với ông Dũng đã được trả tự do 2 ngày sau vào ngày 14/4/2015. Tuy nhiên, ông Dũng tiếp tục bị tạm giữ. Vào ngày 19/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã phát đi lệnh tạm giam đối với ông Dũng căn cứ vào điều mà họ cáo buộc ông Dũng đã vi phạm điểu 245 của bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt nam. Ông Dũng bị cáo buộc tội gây rối trật tự công cộng.
8. Nguồn tin cung cấp cho biết rằng ông Dũng hiện thời đang bị giam giữ tại trại tạm giam số 1 thuộc công an thành phố Hà Nội trong khi chờ đội điều tra xét hỏi thuộc công an Hà Nội xem xét các hoạt động liên quan đến chính trị của ông Dũng. Buổi hỏi cung đầu tiên, có sự tham dự của luật sư đại diện cho ông Dũng, diễn ra vào ngày 23/9/2015. Buổi hỏi cung thứ hai vẫn đang chờ thông báo. Sau khi diễn ra buổi hỏi cung lần hai, hồ sơ của ông Dũng sẽ được xem xét chuyển sang phòng công tố để tiến hành xét hỏi.
9. Nguồn tin cung cấp lập luận rằng sự tước đoạt tự do của ông Nguyên nằm trong trường hợp các quy định của mục II và mục V theo như phân định của Nhóm theo dõi. Theo nội dung mục II, nguồn tin cung cấp đưa ra lập luận rằng việc bắt giữ người và tiếp tục tước đoạt sự tự do của ông Dung diễn ra là do bởi các hoạt động ôn hòa và hợp pháp của ông Dũng trên tinh thần hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Nguồn tin cung cấp lập luận rằng ông Dũng đã bị tước đoạt quyền tự do của cá nhân với các lý do bị phân biệt đối xử dựa trên quan điểm chính trị của ông ấy và việc đó đã tạo ra hệ quả bất chấp quyền bình đẳng trong nhân quyền (mục V)
Phúc đáp từ chính quyền
10. Nhóm theo dõi rất lấy làm tiếc là chính quyền đã không có phản hồi đối với các cáo buộc nói trên dù đã được chuyển đến họ vào ngày 29/9/2015 vừa qua.
Thảo luận
11. Nhóm Theo Dõi liên lạc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về cáo buộc nêu trên cũng như về tình trạng hiện tại của ông Nguyễn Viết Dũng, và đề nghị giải thích rõ ràng về điều luật biện hộ cho việc tiếp tục giam giữ ông ta.
12. Cho dù không nhận được bất cứ thông tin gì từ chính phủ Việt Nam, Nhóm Theo dõi cho rằng có thể đưa ra nhận định trong vụ việc này căn cứ vào những thông tin nhận được phù hợp với đoạn 16 của phương pháp làm việc của nhóm.
13. Trong vụ việc này, chính phủ Việt Nam đã lựa chọn cách không phản hồi cáo buộc có căn cứ. Nhóm đã thận trọng thành lập những phương pháp để giải quyết các vấn đề liên quan tới các chứng cứ (1). Nếu nguồn cáo buộc xác minh được vụ việc này vi phạm điều kiện tất yếu của quốc tế để trở thành một vụ bắt giữ vô cớ, thì trách nhiệm chứng minh phải được hiểu rằng thuộc về chính phủ Việt Nam nếu họ muốn bác bỏ cáo buộc đó. Vì thế, Nhóm phải đưa ra Nhận Định căn cứ trên cáo buộc của nguồn.
14. Khởi đầu, liên quan đến việc vi phạm luật pháp quốc gia, Nhóm muốn xác định là bất cứ luật pháp quốc gia nào đụng đến bắt bớ và giam giữ phải được hình thành và áp dụng một cách phù hợp dựa trên các luật lệ quốc tế liên quan đã được đặt ra trong Tuyên Cáo Chung về Nhân Quyền hoặc trong các luật lệ quốc tế liên quan mà quốc gia đó đã cam kết. Do đó, cho dù việc bắt bớ và giam giữ đúng với luật lệ quốc gia, Nhóm phải xác định là việc giam giữ phù hợp với luật lệ nhân quyền quốc tế.
15. Trong bối cảnh này, việc luật lệ không rõ ràng và cách áp dụng thái quá rất có thể đã làm cho luật lệ đó đối nghịch với quy tắc tương ứng của luật lệ quốc tế về cách áp dụng luật hình sự. Nhận định của Nhóm Theo dõi là điều luật 245 của Bộ Luật Hình Sự của nước CHXHCN Việt Nam và cách áp dụng thái quá của điều luật này rất đáng quan ngại.
16. Dựa trên tình huống tổng quát đã khiến ông Nguyễn Viết Dũng bị bắt và giam giữ, Nhóm Theo dõi nhận định việc tước đoạt sự tự do của ông Nguyễn Viết Dũng nằm trong Hạng 1 và Hạng 3 theo sự phân loại của Nhóm. Cơ sở kết luận trong việc này dựa trên chuỗi sự kiện sau:
1) Dũng bị bắt ngày 12/04/2015 mà không có trát toà (lệnh của tòa án) hoặc bất cứ tuyên bố cáo trạng hợp pháp nào lúc đó;
2) Trát toà và cáo trạng được đưa ra vào ngày 19/04/2915, tức 8 ngày sau khi bị bắt giam, bởi công an chứ không phải công tố viên;
3) Dũng đã bi giam giữ tại trụ sở công an trong thời gian dài hơn 8 tháng trước khi bị truy tố ra toà;
4) Ngay tại trụ sở công an, việc kéo dài và thi hành pháp luật không đúng đắn đã biểu lộ rõ khi ông Dũng chỉ bị hỏi cung một lần vào ngày 23/09/2015.
17. Nhóm Theo dõi xác định là việc tước đoạt sự tự do của ông Nguyễn Viết Dũng đã vi phạm Điều 9 của Tuyên Bố Nhân Quyền là ngăn cấm việc vô cớ bắt bớ và giam giữ, một vi phạm nghiêm trọng quy tắc tiêu chuẩn về nhân quyền, phản ảnh qua cách áp dụng luật của quốc gia và nghĩa vụ với luật pháp quốc tế. Việc bắt giữ này cũng vi phạm điều 9, đoạn 1 của Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, đã quy định “Không một ai bị bắt bớ và giam giữ vô cớ. Không một ai bị tước đoạt tự do, trừ trường hợp theo quy trình đã được quy định bởi pháp luật.”
18. Sự vi phạm pháp luật cũng đã xảy ra như ở đoạn 2 của điều luật chỉ rõ bất cứ người nào bị bắt giữ phải được thông báo, ngay lúc bị bắt, lý do bị bắt giữ và phải được thông báo ngay các tội trạng của người đó.
19. Điều luật 9, đoạn 3, của Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị đã đưa ra hai trách nhiệm tích hợp là người bị bắt giữ phải được dẫn giải để gặp một thẩm phán ngay trong những ngày đầu khi bị tước đoạt tự do và phải được một phán quyết của toà án ngay không được chậm trễ vô cớ, nếu không thì người bị bắt giữ phải được thả ra ngay.(2)
20. Điều khoản này được bổ sung bởi phần 2, đoạn 3, điều luật 9 là “không thể nào có luật lệ thông thường là những người chờ ngày ra toà buộc phải bị giam giữ, nhưng phải được trả tự do với điều kiện bảo đảm sẽ ra hầu toà, tại bất cứ giai đoạn nào của quy trình tố tụng, và nếu cần thiết, để thi hành án toà”. Theo đó, sự tự do được công nhận là yếu tố căn bản và việc giam giữ chỉ là một ngoại lệ để thực thi công lý.(3)
21. Nhóm Theo dõi cũng muốn nhắc đến lời dẫn giải số 35 (2014) của Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền(4) là “không thể có lối làm việc bình thường là buộc các nghi can phải bị giam giữ trước khi xử án. Việc giam giữ trước khi xử án phải được quyết định căn cứ trên mỗi trường hợp nếu việc giam giữ là hợp lý và cần thiết trong mọi bối cảnh, với mục đích như để ngăn cản tẩu thoát, can thiệp vào chứng cứ, hoặc tiếp tục gây án.”
22. Với sự hình thức áp dụng vào khung Hạng 3, như đã xếp hạng bởi Nhóm Theo dõi, chúng tôi cũng muốn quan tâm nhắc nhở là việc giam giữ trước khi xử án kéo dài đến khoảng 8 tháng, như đã thấy cụ thể trong trường hợp của ông Nguyễn Viết Dũng, cấu thành một sự vi phạm rõ ràng với luật lệ quốc tế đã được thiết lập từ lâu là việc giam giữ trước khi xử án phải là một ngoại lệ và trong thời gian ngắn nhất có thể(5). Trong báo cáo hàng năm (A/HRC/19/57, paras. 48-58), Nhóm Theo dõi cũng đã nhấn mạnh là việc giam giữ trước khi xử án phải là một biện pháp ngoại lệ.
23. Quyền được xét xử công bằng đã được thiết lập từ lâu trong luật pháp quốc tế, đặc biệt là dưới điều 10 và 11 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền. Điều 10 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền quy định mọi người đều được quyền bình đẳng để có một phiên toà công bằng và công khai với một hội đồng xét xử độc lập và không thiên vị, trong quy trình xét xử định đoạt quyền lợi, nghĩa vụ, và tội trạng của nghi can. Điều 9, đoạn 4, của ICCPR cũng quy định là bất cứ ai bị tước đoạt tự do vì bị bắt và giam giữ phải được hưởng quyền ra trước toà để toà án có thể quyết định không chậm trễ về tính cách hợp pháp của việc bắt giữ và tuyên bố trả tự do nếu việc bắt giữ là bất hợp pháp. Việc tước đoạt tự do của ông Nguyễn Viết Dũng là vô cớ dựa trên các tiêu chuẩn nói trên của quy tắc quốc tế về giam giữ.
Nhận định
24. Qua những quan điểm trên, Nhóm Theo dõi có những nhận định sau đây:
Việc tước đoạt tự do của ông Nguyễn Viết Dũng vi phạm điều 9, 10, và 11 của Bản Tuyên Bố Chung về Nhân Quyền và điều 9(1), 9(2), 9(3), 9(4), 10, và 11 của Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị. Việc bắt giữ là vô cớ và trường hợp này rơi vào Hạng 1 và Hạng 3 trong các hồ sơ gởi về Nhóm.
25. Vì nhận định trên, Nhóm Theo dõi yêu cầu chính phủ Việt Nam hãy làm những bước cần thiết để nhanh chóng điều chỉnh tình trạng của ông Nguyễn Viết Dũng để phù hợp với tiêu chuẩn và nguyên tắc đặt ra trong Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.
26. Nhóm Theo dõi nhận định rằng, sau khi xem xét tất cả các tình tiết về vụ việc này, biện pháp khắc phục hợp lý là hãy trả tự do ngay cho ông Nguyễn Viết Dũng và tạo điều kiện cho ông đòi bồi thường thiệt hại như đã được quy định trong điều 9, đoạn 5, trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.
 
Dịch bởi:

Phiên toà phúc thẩm Nguyễn Viết Dũng

 

10:15, phiên toà đã kết thúc với bản án 12 tháng tù giam đối với anh Nguyễn Viết Dũng. Mức án này giảm 3 tháng so với bản án sơ thẩm.

CTV Danlambao – Sáng hôm nay 11/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên phúc thẩm xét xử Nguyễn Viết Dũng với cáo buộc vi phạm điều 245 bộ luật hình sự “gây rối trật tự công cộng”. Bào chữa cho Nguyễn Viết Dũng là LS Võ An Đôn và LS Nguyễn Khả Thành.

Nguyễn Viết Dũng (Facebooker Dũng Phi Hổ), sinh năm 1986, quê ở Nghệ An.
Ngày 12/4/2015, Ngày 12/4/2015, Nguyễn Viết Dũng bị bắt khi đang ngồi giải lao trong quán sau khi tham gia tuần hành bảo vệ cây xanh tại Hà Nội. Đa số công luận tin rằng Dũng bị bắt chỉ vì khoác trên người bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa. Bị bắt cùng với Dũng còn có hai người bạn nhưng hai người này đã được thả ra sau đó.
Ngày 14/12/2015, tại phiên sơ thẩm diễn ra tại trụ sở tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Dũng yêu cầu hoãn tòa do sức khỏe yếu, không thể tham gia phiên tòa được nhưng không được chấp nhận.
Trong phiên tòa sơ thẩm, 4 luật sư bảo vệ quyền hợp pháp cho Dũng là Trần Thu Nam, Võ An Đôn, Lê Văn Luân và Nguyễn Khả Thành đều đề nghị thay đổi chủ tọa phiên tòa, yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị hại nhưng cũng bị từ chối.
Sau khi luật sư Lê Văn Luân bị đuổi khỏi tòa vì không bào chữa theo ý của hội đồng xét xử, ba luật sư còn lại cũng đã đồng loạt rời khỏi phiên tòa với lý do không thể tranh luận do liên tục bị chủ tọa nhắc nhở, ngắt lời.
Bất chấp sự vắng mặt của các luật sư và sự phản đối của “bị cáo”, tòa vẫn tuyên án Nguyễn Viết Dũng 15 tháng tù giam.

Trong phiên tòa phúc thẩm hôm nay, hai luật sư Nguyễn Khả Thành và Võ An Đôn tiếp tục bào chữa cho Nguyễn Viết Dũng.

Ảnh: CTV Danlambao
Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội là nơi phiên tòa diễn ra sáng nay không cho phép những người quan tâm đến phiên tòa vào tham dự.

Bên ngoài khu vực tòa án có nhiều dân oan tập trung theo dõi và ủng hộ tinh thần Nguyễn Viết Dũng và gia đình.

Ảnh CTV Danlambao
9h15: có sự xô xát giữa lực lượng chức năng và bà con dân oan khi bà con tiến lại gần khu vực tòa án.
Khu vực phía trước tòa án được canh gác nghiêm ngặt bởi lực lượng cảnh sát cơ động, dân phòng, an ninh thường phục.
Cscđ, lực lượng thường phục dày đặc ở bên ngoài khu vực tòa án. Ảnh CTV Danlambao
Có mặt trong phiên tòa phúc thẩm sáng nay tại Hà Nội, cô Phạm Hồng Thắm, một người dân HN, là người đi cạnh Nguyễn Viết Dũng trong buổi tuần hành bảo vệ cây xanh cho CTV Dân Làm Báo biết: “Tôi đi bên cạnh Dũng khi tuần hành và tôi không thấy hành vi nào của Dũng được cho là gây rối trật tự công cộng” cả.

Theo cô Thắm thì Dũng hoàn toàn vô tội và bản án 15 tháng tù là quá bất công. Cô Thắm cũng đặt câu hỏi: “Cả đoàn người đi tuần hành mà chỉ bắt và xử tội Dũng thì động cơ nào ở đằng sau?”

10:15, Luật sư Võ An Đôn cho hay phiên toà đã kết thúc với bản án 12 tháng tù giam dành cho Nguyễn Viết Dũng. Mức án này giảm 3 tháng so với bản án sơ thẩm.

Như vậy, tính cả thời gian từ khi bị bắt đến nay, Nguyễn Viết Dũng sẽ phải ngồi tù thêm 1 tháng, dự kiến sẽ mãn hạn tù vào ngày 12/4/2016 sắp tới.
Kết thúc phiên toà, ông Nguyễn Viết Hùng, ba của Dũng cho hay: “Khi được nói lời cuối cùng trước toà thì Dũng khẳng định mình vô tội.
 
Sức khoẻ Dũng tốt hơn ở phiên sơ thẩm và trả lời mạch lạc các câu hỏi.
 
Cá nhân tôi vẫn bồi hồi vì được gặp con trai trong giây phút tại toà sau thời gian dài bị giam giữ. 
 
Cá nhân tôi vẫn khẳng định con trai tôi vô tội. 
 
Tuy nhiên tôi vẫn vui vì con tôi được giảm xuống còn 12 tháng tù giam, như vậy là gia đình tôi sắp đoàn tụ. Việc giảm án của con trai tôi là nhờ vào các luật sư, công luận đã lên tiếng cho trường hợp của Dũng.”

Ông Nguyễn Viết Hùng. Ảnh CTV Danlambao
Chị Cấn Thị Thêu – một trong những người có mặt tại phiên toà phúc thẩm để ủng hộ tinh thần Nguyễn Viết Dũng, búc xúc: “Một ngày tù với Dũng cũng là bất công, vô nhân đạo với Dũng. Cả đoàn người đi tuần hành vì một vấn đề dân sinh, môi trường thì sao lại tống giam và xử tù?”
 
Ông Nguyễn Văn Chinh – bố của tử tù ‘oan’ Nguyễn Văn Chưởng và Chị Cấn Thị Thêu trong phiên toà sáng nay. Ảnh CTV Danlambao
Ngay sau khi phiên toà kết thúc, đã người bị lực lượng an ninh cưỡng chế bắt về số 43 Trần Quốc Toản. Người bị bắt là Trần Quang Nam, anh Nam bị bắt khi đang phỏng vấn Luật sư Võ An Đôn trước toà.Anh Nam đã được thả ra ngay sau khi dân oan kéo tới đồn công an gây áp lực.
Anh Trần Quang Nam.
 
Anh Nam đã được thả ra ngay sau khi dân oan kéo tới đồn công an gây áp lực.
Nguồn ảnh Facebook LS Võ An Đôn

Sau phiên tòa, LS Võ An Đôn chia sẻ trên Facebook cá nhân của mình: “…Giống như phiên tòa trước, phiên tòa lần này lực lượng an ninh bảo vệ rất nghiêm ngặt, không cho luật sư đem bất kỳ thiết bị cá nhân nào vào phòng xử án. Tuy nhiên, tôi vẫn chụp được hình anh Nuyễn Viết Dũng sau khi Tòa tuyên án.”

cao_quang_anh.jpg
cannon_caucus.jpg
kennedy_6.jpg

Uỷ Hội Hoa  Kỳ : Chính phủ Viet nam hãy ngưng can thiệp nội bộ tôn giáo


LTS: Cuối tháng 8 năm 2015, phái đoàn của Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã thực hiện chuyến thị sát để tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Phái đoàn đã tiếp xúc một số cộng đồng tôn giáo độc lập, trong đó có Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài. Ngày 19 tháng 2 vừa qua, 2 thành viên của phái đoàn phổ biến bản tường trình về chuyến thị sát. Ngày 18-21 tháng 2 vừa qua, nhân sự của Uỷ Hội lại có cơ hội tiếp xúc với thành viên của cộng đồng Phật Giáo Khmer Krom, cộng đồng Hồi Giáo Chăm, và Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài đến từ Việt Nam, tại Diễn Đàn Tự Do Tôn Giáo Á Châu được tổ chức ở Đài Loan. Dưới đây là bản dịch Việt ngữ của bản tường trình của phái đoàn. Bản gốc tiếng Anh: http://www.uscirf.gov/news-room/op-eds/america-magazine-report-vietnam

PHÚC TRÌNH TỪ VIỆT NAM

Tác giả: Thomas Reese và Mary Ann Glendon1

[Bản dịch Việt ngữ của BPSOS]

Dưới đây là bài Xã Thuyết đăng trên tạp chí America

của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ số ra ngày 19, tháng 2, 2016

Tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khác biệt hẳn so với 40 năm về trước.  Đây là thông điệp mà chúng tôi liên tục nghe được trong chuyến đi vừa qua tại Việt Nam. Các tín hữu Việt Nam cho biết, một mặt là tự do tôn giáo đã được mở rộng trong bốn thập niên vừa qua.  Mặt khác, họ tin rằng nhiều viên chức chính phủ vẫn hiểu lầm về tôn giáo và vai trò tích cực mà tôn giáo có thể đóng góp cho xã hội, thay vào đó họ vẫn bám víu vào những nỗi lo sợ đã lỗi thời và có thành kiến về quyền tự do thực hành đức tin của mọi người.

Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hạn chế tối đa quyền tự do tôn giáo bằng nhiều cách khác nhau, như lệnh cấm toàn diện các tổ chức tôn giáo và các sinh hoạt của họ.  Hầu hết các nhà lãnh đạo tôn giáo đã chống đối cuộc cách mạng của Cộng Sản, vì sợ rằng những gì sẽ xảy ra nếu những người Marxist vô thần lên nắm chính quyền.  Sau chiến tranh, các cuộc tắm máu như dự đoán đã không xảy ra, nhưng chính quyền mới đã tịch thu tài sản của tôn giáo, bỏ tù nhiều vị lãnh đạo tôn giáo và áp bức các tín đồ.  Đặc biệt là các Kitô hữu được họ xem như là công cụ áp chế của nước ngoài, trong khi các thành viên của một số các tôn giáo địa phương, như đạo Cao Đài, được chính quyền nhắm đến vì trong quá khứ  họ có quân đội chống lại Cộng Sản.

Lm Reese và cựu Đs Glendon và các thành viên của KNS Đạo Cao Đài, ngày 25 tháng 8, 2015 (ảnh KNS)

Tình trạng hiện nay tuy có khá hơn, nhưng Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua trước khi đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế mà quốc gia này đã chính thức chấp nhận, như Điều 18 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Trong khi đó, chế độ đã chuyển từ tình trạng đàn áp tôn giáo toàn diện sang trạng thái nhà nước kiểm soát, họ tạo ra một tổ chức Phật Giáo quốc doanh và một tổ chức Cao Đài quốc doanh. Những người tiếp tục hành đạo trong các tổ chức tôn giáo độc lập, không được chính quyền thừa nhận, đã bị cấm đoán và đôi khi bị “loại ra khỏi đạo” bởi các giới chức thuộc tôn giáo quốc doanh. Điều này đã khiến họ trở thành những kẻ “bất đồng chính kiến” với tôn giáo của họ và với nhà nước.  Công giáo đã tránh được trường hợp buộc phải đồng thuận để tham gia vào một tổ chức tôn giáo quốc doanh như Hiệp Hội Yêu Nước ở Trung Quốc, nhưng chính phủ vẫn lưu tâm đến việc kiểm soát các giáo sĩ và tiếp tục đóng vai trò trực tiếp trong việc chấp thuận các ứng viên vào chức Giám Mục do Vatican chọn lựa.

Một Tình Trạng Phức Tạp

Để hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại, chúng tôi đã đến thăm Việt Nam vào cuối tháng Tám (vừa qua) với tư cách  thành viên trong phái đoàn của Ủy Ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, Uỷ Ban này đã được hình thành qua Đạo luật về Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998 để theo dõi tình trạng về tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, hay tín ngưỡng ở nước ngoài, và trình các khuyến nghị độc lập về chính sách lên Tổng Thống, Bộ Trưởng Ngoại Giao và Quốc Hội Hoa Kỳ. Những gì mà phái đoàn tiếp nhận được sẽ trở thành một phần của phúc trình chính thức của Uỷ Ban – thí dụ như trong báo cáo thường niên về tự do tôn giáo của Uỷ Ban.

Tình hình tôn giáo ở Việt Nam rất phức tạp và đôi lúc rất khó hiểu. Một mặt, các nhà thờ Công giáo với đông người đến dự lễ và lời kêu gọi tu trì được đáp ứng dồi dào; gần đây chính phủ đã cấp giấy phép cho Công giáo được thành lập một trường đại học về thần học ở miền Nam.  Những tín hữu Công giáo còn có thể làm việc cho chính phủ, và  có không ít trường hợp đảng viên gửi con đến các chương trình giáo dục mầm non Công Giáo hoặc nhập học vào các trường đại học Công giáo tại Hoa Kỳ.

Mặt khác, chúng tôi đã nghe được các báo cáo đáng tin cậy, phản ảnh qua các sự việc mà Uỷ Ban đã thu nhận được trong qúa khứ, như công an thường xuyên quấy rối và tấn công các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo độc lập, không đăng ký, trong đó có nhiều nhà thờ thuộc Giáo Hội Tin Lành.

Nói chung, Giáo hội Công Giáo ít có vấn đề với chính phủ hơn là các nhà thờ Tin lành; các nhóm tôn giáo do nhà nước bảo trợ hoạt động mạnh hơn so với các nhóm tôn giáo độc lập, và các tôn giáo đã đăng ký hoạt động ít bị cản trở hơn so với những nhóm không đăng ký.

Để được xem là hợp pháp, các tổ chức tôn giáo phải đăng ký với chính phủ, mà nếu không đăng ký thì họ bị coi là bất hợp pháp và không được thuê mướn hoặc sở hữu tài sản. Thủ tục đăng ký đòi hỏi tổ chức tôn giáo phải báo cáo số hội viên, nhóm lãnh đạo, tín ngưỡng và các sinh hoạt của họ. Ngay cả đối với các tổ chức đã đăng ký, nhiều hoạt động vẫn cần phải xin phép chính quyền địa phương, cấp tỉnh và/hoặc cấp quốc gia. Thí dụ, nếu một nhóm muốn mở một nhà thờ mới, hoặc di chuyển một vị giáo sỹ quản nhiệm từ một nhà thờ này đến nhà thờ khác, thì họ cần có sự chấp thuận của chính phủ.

Nhưng ngay cả sự chấp thuận của chính phủ cũng không giải quyết được tất cả các vấn đề. Thí dụ, một nhóm đã được giấy phép mở một nhà thờ khác nhưng gặp khó khăn trong việc thuê nhà vì chủ nhà không muốn có sự xem xét, dòm ngó của công an do sự hiện diện của một nhà thờ trên tài sản (đất đai) của họ.

Chính phủ Việt Nam hiện đang soạn thảo một đạo luật mới để quản lý tôn giáo. Trước khi đến Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu dự thảo thứ tư, trong đó phần lớn những gì đã được thực thi qua các pháp lệnh và nghị định trước đây, nay được đưa vào luật. Dự thảo quy định một số hoạt động tôn giáo khác, ngoài việc đăng ký, phải được chính phủ chấp thuận, gồm có một số điều khoản quy định việc chấp thuận khi các nhóm chọn lựa hoặc thuyên chuyển tu sĩ hoặc  nhân viên phục vụ cho tôn giáo. Thí dụ này cho chúng tôi thấy rõ rệt hơn sau khi một nhóm, mà chúng tôi gặp trong chuyến đi này, cho biết là một nửa các ứng viên mà họ đề cử để trở thành mục sư đã bị chính phủ từ chối.

Trong khi ở Việt Nam, chúng tôi được biết chính phủ hiện đang soạn dự thảo thứ năm, theo đó thì dường như họ đã thay chữ “chấp thuận” bằng chữ “thông báo” trong một số trường hợp. Chính phủ đòi hỏi các nhóm phải thông báo cho chính phủ biết các hoạt động của họ vẫn là một vấn đề.  Tuy thế, mỗi thay đổi ngôn ngữ từ “chấp thuận” sang “thông báo” là một bước tiến quan trọng đối với Việt Nam.

Một số nhóm tôn giáo đã từ chối ghi danh trên nguyên tắc, họ đã chọn lựa sự độc lập cho nhóm họ để không bị chính quyền kiểm soát.  Những nhóm này thường bị công an quấy nhiễu, làm khó. Tình trạng này cũng xảy đến cho các nhóm công khai khiếu nại về những sự bạc đãi mà họ gánh chịu, và sự việc này cũng xảy ra tương tự cho các nhóm bị tố cáo là liên lạc với các cơ quan nước ngoài hay/và các cơ quan bảo vệ nhân quyền.

Các yếu tố ảnh hưởng đến các Tín hữu

Sau khi lắng nghe các nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi kết luận rằng phạm vi và mức độ can thiệp của chính phủ, trong đó đôi khi dùng đến bạo lực, thường phụ thuộc vào một số điều kiện ngoài tầm kiểm soát của các tổ chức tôn giáo.

Trước tiên, các tổ chức tôn giáo và các cá nhân sẽ gặp các nguy cơ lớn nếu chính quyền tin rằng họ là một mối đe dọa cho chính phủ hay cho Đảng Cộng sản. Óscar Romero, Tổng Giám Mục Công Giáo La Mã đã bị giết, được biết đến qua các bài giảng về công bằng xã hội và quyền con người, chắc sẽ không được dung thứ tại Việt Nam, chẳng khác gì như ông đã bị đối xử ở El Salvador. Do đó các tổ chức tôn giáo buộc phải ém nhẹm vai trò truyền giảng ngôn từ như sứ giả của một Đấng Tối Cao, nếu họ muốn tồn tại ở Việt Nam. Điều này có nghĩa là: từ bỏ hỗ trợ cho bất cứ điều gì có thể được xem là trái với chính sách của Đảng, như dân chủ và nhân quyền. Các nhà hoạt động công khai ủng hộ những quyền tự do cơ bản này, gồm cả người Công Giáo và Tin Lành, đã bị cầm tù.

Năm 1980, Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam đã ban hành một lá thư mục vụ nói rằng người Công giáo tốt phải là công dân tốt, điều đó đã làm hài lòng các viên chức chính phủ và nhờ đó đã mở đường cho việc giảm thiểu các hạn chế. Tương tự như vậy, các nhà lãnh đạo Hồi giáo nhấn mạnh rằng tôn giáo của họ đòi hỏi tín đồ phải chấp hành pháp luật của nhà nước miễn là các luật đó không vi phạm niềm tin của họ vào một Thượng Đế duy nhất, hay can dự vào nhiệm vụ cầu nguyện của họ.

Mặt khác, các viên chức chính phủ lo lắng khi một mục sư tại địa phương có uy tín và quyền hành tại ngôi làng của họ nhiều hơn so với các viên chức của đảng và của chính quyền địa phương. Thí dụ, khi các viên chức địa phương bảo người dân biểu tình đi về nhà, thì họ không thèm để ý đến chỉ thị này, nhưng nếu mục sư nói, “Về nhà”, thì họ tuân theo.

Tương tự như vậy, Dòng Chúa Cứu Thế, một dòng tu Công giáo, bị quấy nhiễu vì họ cho phép những người bất đồng chính kiến đến tụ họp trên tài sản (đất đai) của họ. Dòng Chúa Cứu Thế cũng đang tranh chấp với chính phủ về đất đai của họ đã bị chính phủ tịch thu dưới chiêu bài phát triển mở mang. Đương nhiên chính  quyền không có chiều hướng đối xử tốt với những kẻ “gây rối.” Năm ngoái, Dòng Chúa Cứu Thế có một Cha bề trên mới ở cấp tỉnh và vị này có một lập trường ít cứng rắn hơn, có thể đó là lý do mà chính phủ sẽ giảm bớt các áp lực lên trên Dòng này.

Thứ hai, nhà nước lại đặt mục tiêu duy trì trật tự công cộng có ưu tiên trên  quyền tự do tôn giáo và nhiều quyền tự do khác.  Điều này dẫn đến các giới hạn khắt khe về việc truyền giáo. Người truyền giáo nào mà gõ cửa nhà dân hoặc phát truyền đơn ngoài đường hoặc trong công viên thì sẽ bị công an can thiệp tức thời. Các tín đồ Phật giáo và Cao Đài độc lập từ chối tham gia các tổ chức tôn giáo quốc doanh cũng đang trong tình trạng rất nguy hiểm.

Những nhà truyền giáo năng động trong khu vực dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên thường đã gặp nhiều rắc rối, mặc dù họ nói rằng các cuộc xung đột với chính phủ thường lắng dịu sau khi họ  thành công trong việc rao giảng và cải đạo cho hầu hết dân chúng trong làng.  Nhưng quá trình chuyển đổi như vậy có thể mất nhiều thập niên. Những người khác, như các tín đồ Mormon và Hồi giáo, đã đáp ứng các hạn chế đó bằng cách chỉ cải đạo cho những người đến với họ tại nơi thờ tự để được hướng dẫn chứ không đối đầu với chính phủ qua việc rao giảng và truyền đạo tích cực.

Thứ ba, các quyền hạn rông rãi dành cho các giới chức tại địa phương trong việc diễn giải và thực thi chính sách về tôn giáo tuỳ theo ý của họ đã dẫn đến một môi trường không thống nhất, không thể đoán trước.  Một số tổ chức tôn giáo được may mắn hoạt động tại các tỉnh, nơi mà các viên chức không có sự lo sợ hay tương phản với tôn giáo hay dân tộc thiểu số.  Đa số những nhóm mà chúng tôi gặp, họ cho biết là đã gặp nhiều vấn đề hơn tại một số tỉnh này, và ít hơn ở một số tỉnh khác.  Nhiều người cho rằng Tây Nguyên là một khu vực có nhiều vấn đề, nơi mà bất kỳ hoạt động nào liên quan đến các dân tộc thiểu số đều làm cho các viên chức chính phủ lo lắng, và thường dẫn đến sự đàn áp khắc nghiệt. Các nhóm dân tộc này coi trọng sự độc lập của họ, và một số nhóm đã là đồng minh với Mỹ chống Cộng Sản (trong quá khứ).

Tại các tỉnh này, rất khó mà được sự chấp thuận của chính phủ cho phép làm các nhà thờ mới hay cho phép các tôn giáo hoạt động. Một số viên chức địa phương sợ các nhà lãnh đạo tôn giáo nào có nhiều thẩm quyền với dân hơn là họ (các viên chức). Một số viên chức là những người có khuynh hướng cổ hủ và họ tin rằng phải dùng  biện pháp mạnh để làm chủ tình hình. Tâm trạng này có khi đã đưa đến các hành vi tàn bạo của công an, thay vì giải quyết xung đột lại làm cho sự việc tồi tệ hơn. Một viên chức cấp quốc gia đã thẳng thắn phàn nàn về khả năng kém cỏi của một số các viên chức địa phương.  Dù vậy, chính quyền trung ương ít khi can thiệp vào để bênh vực các nhóm tôn giáo là nạn nhân của sự lạm dụng của cấp tỉnh. Các viên chức địa phương ít khi bị buộc phải chịu trách nhiệm về các hành động của họ.

Thứ tư, bởi vì sự tin tưởng có thể là một yếu tố quan trọng trong việc làm bớt đi các vấn đề với các viên chức tại địa phương, một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã nỗ lực tạo mối quan hệ cá nhân với các viên chức chính phủ. Một vị lãnh đạo Hội Thánh nói với chúng tôi về phương thức của ông để một người bạn công an giới thiệu ông với các viên chức công an phụ trách tôn giáo trong khu vực. Sau đó ông mời viên chức này đến tham dự buổi lễ tại nhà thờ của ông. Mục đích của ông là thiết lập sự tin tưởng thông qua các việc làm minh bạch và bằng đối thoại.  Tổ chức với thứ bậc rõ ràng như Giáo Hội Công Giáo rất thích hợp với phương cách này, bởi vì Công Giáo có một chức sắc của nhà thờ có đủ thẩm quyền để đại diện cho các con chiên. Sự tin tưởng và sự hiểu biết, một khi đã được thiết lập ở cả hai phía, có thể giúp làm giảm bớt những nghi ngờ và cuối cùng các viên chức địa phương nới tay; đáng tiếc, quá trình này thường mất một thời gian dài.

Khi thiếu sự tin tưởng lẫn nhau và sự nghi ngờ còn cao, chính phủ luôn luôn can dự vào việc hoạt động tôn giáo.  Thực tế, một số người dân mà chúng tôi gặp, họ nói với chúng tôi rằng các viên chức chính phủ đã gặp họ trước khi chúng tôi đến thăm họ. Rõ ràng là chính phủ muốn “cảnh báo” họ, và chính phủ nghi ngờ về những gì họ có thể nói với một phái đoàn của chính phủ Hoa Kỳ.  Một nhóm người khác đã rời nhà của họ từ đêm hôm trước để đi đến gặp chúng tôi phòng khi công an ngăn giữ họ không cho rời khỏi nhà.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo Việt Nam cố gắng để điều hướng bốn điều kiện nêu trên để được tồn tại, với các mức độ thành công khác nhau, nhưng tình trạng đó rõ ràng là quá khác biệt với tự do tôn giáo mẫu mực được nêu ra trong luật pháp quốc tế.

Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ về tự do tôn giáo kể từ những ngày đen tối sau khi Cộng sản cưỡng chiếm vào năm 1975, và điều này khiến chúng ta hy vọng rằng những cải tiến chính đáng và lâu dài đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế là một điều có thể. Chúng tôi nhận thấy rõ ràng là các viên chức Việt Nam muốn có các quan hệ tốt với Hoa Kỳ, và họ biết rằng tự do tôn giáo là một vấn đề chúng tôi luôn quan tâm đến. Nhiều viên chức nhận ra rằng đánh đập các tín hữu (tôn giáo) không phải là điều đáng làm nếu nó có tác dụng xấu trên mối quan hệ giữa nước họ với Hoa Kỳ, nhưng còn quá nhiều viên chức vẫn cho rằng phải cứng rắn thì mới thành công.

Mức độ Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo   tác động đến quốc ngoại. Vi phạm tự do tôn giáo là một chuyện thường tình khắp vùng Đông Nam Á.  Láng giềng của Việt Nam- đặc biệt là nước Lào, một nước có một chính phủ Cộng sản tương tự – đang theo chân Việt Nam trong lãnh vực chính sách liên quan đến các quyền và tự do – quan sát các hành động của Việt Nam và ảnh hưởng của các hành động này lên các mối quan hệ với cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ.  Rõ ràng là Việt Nam có nhiều sự đe doạ và thử thách.

Liệu là tự do tôn giáo ở Việt Nam có bao giờ đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, hoặc chính sách của nhà cầm quyền không còn cải tiến thêm nữa? Một đạo luật về tôn giáo mà chỉ giữ nguyên hiện trạng sẽ là một dấu hiệu không tốt. Trái lại,, nếu đạo luật cho thấy chính quyền sẽ giảm bớt các yêu sách liên quan đến “xin/cho” và mức độ các tôn giáo phải báo cáo, thì điều này sẽ là một dấu hiệu tốt.  Nhưng, trừ khi chính phủ không còn can dự vào nội bộ của các tổ chức tôn giáo độc lập, đã đăng ký và không đăng ký, và từ bỏ mọi phương thức có tính chất “côn đồ” đối với họ, thì không ai có thể nói rằng Việt Nam đã đạt được mức độ tự do tôn giáo cần thiết của một nhà nước tuân theo luật pháp quốc tế.

1 Thomas J. Reese, S.J. và Mary Ann Glendon là uỷ viên của Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn Giáo Quốc Tế. Linh Mục Reese là Chủ Nhiệm Tạp Chí America (1998-2005) và hiện nay là chuyên gia phân tích của tập san The National Catholic Reporter. Giáo sư Glendon là giáo sư Learned Hand Professor tại Phân Khoa Luật thuộc Đại Học Harvard và là cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Tòa Thánh Vatican

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s


%d bloggers like this: